Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học
Xứ đàng trong

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:15' 07-04-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:15' 07-04-2024
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
www.hocthuatphuongdong.vn
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Li, Tana
Xứ Đàng Trong : lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 / Li Tana ; bản dịch của Nguyễn Nghị. - T.P. Hồ Chí Minh
: Trẻ, 2013.
284tr. ; 23 cm.
Nguyên bản : Nguyen Cochinchina : Southern Vietnam in 17th and 18th centuries.
1. Miền Nam Việt Nam -- Lịch sử. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều đại hậu Lê,1428-1787. I. Nguyễn Nghị. II. Ts: Nguyen
Cochinchina : Southern Vietnam in 17th and 18th centuries.
III. Ts: Nguyen Cochinchina : Southern Vietnam in the seventeenth
and eighteenth centuries.
959.77026 -- dc 22
L693
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI GIỚI THIỆU
C
húng tôi xin chân thành giới thiệu với độc giả Việt Nam Xứ
Đàng Trong, Lịch sử Kinh tế - Xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và
18, luận án tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Australia, có sửa chữa
để xuất bản, của Li Tana. Bản tiếng Anh của luận án Nguyễn
Cochinchina, Southern Vietnam in Seventeenth and Eighteenth
Centuries, được xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1998 bởi Cornell
Southeast Asia Program.
Tác giả là một nhà Việt Nam học khá quen thuộc trong giới
nghiên cứu về Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Để thực
hiện các công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã lui tới Việt
Nam nhiều lần, tham khảo các nguồn tư liệu tại Hà Nội cũng
như tại thành phố Hồ Chí Minh, tiếp xúc và trao đổi với các
nhà khoa học, tham dự nhiều hội nghị khoa học về Việt Nam...
Tác giả đã xuất bản nhiều công trình khoa học về lịch sử Việt
Nam. Riêng công trình nghiên cứu về Đàng Trong này đã được
nhiều nhà Việt Nam học nổi tiếng như Alexander Woodside,
David Chandler, Anthony Reid... đánh giá cao và coi như là một
công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc.
www.hocthuatphuongdong.vn
6
XỨ ĐÀNG TRONG
Đề tài tác giả chọn để nghiên cứu trong công trình này là một
đề tài khó vì liên quan tới một thời kỳ khá phức tạp trong lịch
sử Việt Nam: sự hình thành, phát triển và gần như diệt vong
của một xứ Đàng Trong của họ Nguyễn, trên một vùng đất mới,
trong những hoàn cảnh mới và với những vấn đề mới... Lãnh
vực tác giả đề cập tới và nhấn mạnh lại là lãnh vực kinh tế - xã
hội, cho tới nay chưa được nhiều tác giả bàn tới một cách sâu
sắc. Trong lãnh vực này, công trình của Li Tana, nếu chưa giải
quyết một cách thỏa đáng những vấn đề được nêu, thì ít ra cũng
đã là một gợi ý rất phong phú cho công việc nghiên cứu kế tiếp.
Chẳng hạn vấn đề liên quan đến dân số của Đàng Trong vào
các thế kỷ 17 và 18. Một vấn đề hầu như không thể giải quyết
nổi nếu chỉ dựa vào những con số thống kê, những kết quả của
các cuộc điều tra dân số, vốn rất hiếm hoi trong tài liệu của Việt
Nam, kể cả của nước ngoài. Tuy nhiên, tác giả đã phá vỡ được
sự bế tắc này bằng cách dựa vào số các làng, kích thước các làng
nói chung, các thông tin về làng trong lịch sử Việt Nam. Đây có
thể được coi là một đóng góp mới mẻ và quan trọng của tác giả
trong lãnh vực nghiên cứu về dân số của Đàng Trong, hay của
Việt Nam, trong quá khứ.
Hai thế kỷ 17 và 18 lại cũng là thời kỳ “mở rộng cửa” của
Đàng Trong đối với nền ngoại thương mà theo tác giả là nền
tảng của sự sống còn của Đàng Trong dưới quyền họ Nguyễn,
“gần bốn lần yếu hơn họ Trịnh ở Đàng Ngoài về mọi mặt”. Nói
đến ngoại thương cũng là nói đến sự hiện diện của tàu bè và
thương gia người Nhật, người Trung Hoa... và những người
châu Âu như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... vì đây cũng là
thời kỳ người châu Âu ồ ạt kéo nhau sang buôn bán và đặt căn
cứ tại Đông Nam Á. Nghiên cứu về hai thế kỷ này của Đàng
Trong không thể bỏ qua các nguồn tư liệu, trong thực tế rất
phong phú và đa dạng, của những người thuộc nhiều quốc tịch
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI GIỚI THIỆU
7
khác nhau để lại. Công trình cho thấy tác giả đã khai thác được,
bằng cách này hay cách khác, các nguồn tư liệu khác nhau này.
Do đó, công trình nghiên cứu của tác giả đã cho chúng ta một
cái nhìn tổng quát hơn và cũng có sức thuyết phục hơn về các
vấn đề được bàn đến. Đây cũng là một ưu điểm được các nhà
phê bình nhìn nhận. Tiếp xúc được với các tư liệu gốc là một
trong những điều kiện tiên quyết để một công trình sử học có
được những đóng góp mới, hay ít ra không đi vào con đường
đã bị cày nát dưới bánh xe những người đi trước.
Và cũng để tránh lặp lại những gì người đi trước đã viết về
Đàng Trong, tác giả đã chọn nhấn mạnh - mà không khuếch
đại - những điểm khác biệt giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong.
Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, những sự khác biệt này, ngay
cả khi tác giả đặt tiêu đề cho một chương trong công trình của
mình là “Cuộc sống ở Đàng Trong: Hội nhập và sáng tạo”, đã
không phá vỡ sự thống nhất của dân tộc Việt Nam mà trái lại
đã làm cho sự thống nhất trở nên vô cùng phong phú và sống
động, một sự thống nhất không đóng khung trong khuôn khổ
nhưng chấp nhận sáng tạo và đa dạng.
Là một nhà khoa học muốn giới thiệu với độc giả Việt Nam
công trình khoa học của mình và qua đó góp phần vào việc
tìm hiểu kho tàng phong phú của lịch sử Việt Nam, tác giả hẳn
không mong muốn gì hơn - nhất là khi tác giả lại là người nước
ngoài - là tác phẩm của mình được độc giả Việt Nam tiếp nhận
như một công trình khoa học và nhận được những trao đổi có
tính khoa học về công trình của mình. Hiểu được mong muốn
trên đây của tác giả, tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc
Việt Nam công trình mới này về lịch sử kinh tế - xã hội của xứ
Đàng Trong thế kỷ 17 và 18 để tham khảo.
Nguyễn Đình Đầu
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI CÁM ƠN
T
rước hết, tôi xin chân thành cám ơn ông David Marr, người
đã đưa tôi tới đây và là người hướng dẫn chính của tôi, đã
giúp tôi bằng mọi cách và bằng những hiểu biết thâm sâu của
ông về Việt Nam. Tôi cũng cảm thấy rất may mắn khi giáo sư
Anthony Reid nhận làm cố vấn cho tôi. Giáo sư đã luôn giúp
tôi đi thẳng vào vấn đề và trợ giúp tôi hết mức tôi có thể mong
đợi. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với các nhà
nghiên cứu John Fincher, Trần Kính Hòa, Estar Ungar, Ann
Kuma, Greg Lockhart, Craig Reynolds, David Bulbeck, Terry
Hull, Peter Xenos, Hans Nelson và Đỗ Thiện. Mỗi người đều đã
giúp tôi ở nhiều cấp độ khác nhau, và tất cả đều đã có những
đóng góp quan trọng và có giá trị. Tôi cũng rất lấy làm vinh dự
được có dịp trao đổi với giáo sư Wolters. Giáo sư đã kiên nhẫn
nghe tôi trình bày và đã khuyến khích tôi triển khai một cách
rộng rãi và sâu sắc hơn các tư tưởng của tôi.
Tôi cũng mang ơn rất nhiều đối với Nola Cooke, người đã
có những đóng góp quý giá trong việc thực hiện luận án này
của tôi. Không một sai sót nào trong nội dung, cấu trúc hay
văn phạm của luận án có thể thoát khỏi con mắt sắc bén của
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI CÁM ƠN 9
cô. Luận án này có được như hiện tại là nhờ cô đã đọc kỹ và
xem lại các bản thảo.
Các ông Pierre Manguin và Nguyễn Thế Anh cũng như bà
Christiane Rageau đã giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu, tham khảo
nguồn tư liệu khi tôi tới Paris làm việc. Tại Việt Nam, các ông
Nguyễn Đức Nghinh, Đỗ Văn Ninh, Đỗ Bang, Huỳnh Lứa và
nhiều học giả và bè bạn khác đã giúp tôi hiểu rõ Việt Nam hơn.
Tôi mang ơn họ rất nhiều.
Tôi cũng xin cám ơn Viện Hán Nôm và Viện Sử học Hà Nội
đã cho phép tôi đọc các thủ bản, nhờ đó tôi có thể thực hiện
được công việc nghiên cứu này. Tôi xin đặc biệt cám ơn ông
Phạm Đình Nham, giám đốc Kho lưu trữ 2 tại thành phố Hồ
Chí Minh, và Ban quản lý di tích Hội An. Cả hai đều đã cho
phép tôi đọc các tư liệu liên quan đến công trình nghiên cứu
của tôi.
Đại học Quốc gia Australia đã dành cho tôi mọi sự dễ dãi và
đã trợ giúp một cách rộng rãi tất cả công việc nghiên cứu của
tôi. Tôi cũng xin cám ơn các bạn hữu trong phân khoa, cám ơn
Norah Forster và Kristine Alilunas-Rodgers đã giúp tôi đọc các
nguồn tư liệu bằng tiếng Pháp.
Lihong, chồng tôi cũng đã hết sức tận tụy giúp đỡ tôi và hỗ
trợ tôi mỗi khi tôi yêu cầu. Luận án này không thể hoàn thành
nếu không có sự đóng góp của anh.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với ông
Nguyễn Nghị, người đã nhận dịch luận án của tôi ra tiếng Việt,
đã kiên nhẫn chấp nhận những sửa chữa, thêm, bớt của tôi
trong nguyên bản ngay trong quá trình dịch và cả sau khi bản
dịch đã hoàn thành. Ông đã dịch chính xác và diễn tả đúng ý
công trình của tôi. Tôi cũng xin cám ơn ông Nguyễn Đình Đầu
đã cổ vũ việc dịch và xuất bản luận án của tôi bằng tiếng Việt và
www.hocthuatphuongdong.vn
10
XỨ ĐÀNG TRONG
đã lưu ý tôi về một số sai sót trong luận án. Ông Cao Tự Thanh
tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi hiểu rõ hơn về miền
Nam và người dân miền Nam. Tôi xin cám ơn ông và cám ơn
nhiều bạn hữu khác nữa.
Mặc dù được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp và bạn bè,
luận án này có thể vẫn còn những thiếu sót và sai lầm. Tất cả
các thiếu sót và sai lầm này hoàn toàn do tôi chịu trách nhiệm.
www.hocthuatphuongdong.vn
11
Bản đồ 1:
Đàng Trong (đất liền), 1690: nhà kho và nhà giam
www.hocthuatphuongdong.vn
12
Bản đồ 2: Đàng Trong (đất liền), 1690:
cơ quan hành chánh và đồn phòng thủ
www.hocthuatphuongdong.vn
13
Bản đồ 3:
Đàng Trong (đất liền), 1690: chợ, nhà trọ và cảng
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP
X
ác định rõ một thay đổi quan trọng của lịch sử đã xảy ra
đích xác ở đâu, lúc nào và như thế nào không bao giờ là
dễ dàng cả. Nhưng trong trường hợp Việt Nam, chúng ta lại có
thể chỉ ra năm tháng và biến cố đã đem lại cho Việt Nam gần
3/5 số diện tích hiện nay của nước này do quyết định dời khỏi
kinh đô của một dòng họ.
Hai họ Trịnh Nguyễn đang là thông gia với nhau bỗng trở
thành thù địch của nhau khi Trịnh Kiểm tiếm quyền vua Lê
năm 1546. Người ta kể là Nguyễn Hoàng, thấy trước mình có
thể gặp phiền hà, đã tới hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà nho
được tôn là “trạng”, xem phải làm gì. Nguyễn Bỉnh Khiêm suy
nghĩ một lúc lâu rồi trả lời: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung
thân” (một dải núi Ngang có thể dung thân muôn đời được). Và
Nguyễn Hoàng đã nhờ bà chị của ông cũng là vợ Trịnh Kiểm
thuyết phục chồng cử ông đi trấn Thuận Hóa, vùng biên giới
xa xôi. Nguyễn Hoàng đã thành công với nước cờ thí này. Lúc
ấy là năm 1558.
Trịnh Kiểm chỉ có ý tống khứ một địch thủ. Nhưng ông đã
đi sai nước cờ. Và thay vì tống khứ, ông lại cho không Nguyễn
Hoàng một vương quốc. Và một chuỗi các sự kiện diễn ra đã
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP 15
làm thay đổi toàn bộ lịch sử Việt Nam nói riêng và lịch sử Đông
Nam Á nói chung.
Họ Nguyễn yếu hơn họ Trịnh rất nhiều về hầu như mọi mặt.
Phía bắc đã thiết lập được một hệ thống nhà nước vững chắc
giúp họ Trịnh kiểm soát một diện tích lớn hơn diện tích của họ
Nguyễn từ ba đến bốn lần và duy trì được một lực lượng quân
sự cũng lớn hơn từ ba đến bốn lần. Hơn nữa, họ Trịnh quản lý
một vùng đất người Việt Nam cư ngụ từ nhiều thế kỷ nay và dân
dưới quyền cai trị của họ Trịnh cũng chính là cư dân của vùng
đất này, trong khi vương quốc của họ Nguyễn lại được thiết lập
trên một vương quốc đã được Ấn Độ hóa, có một nền văn hóa
rực rỡ và một truyền thống rõ ràng là khác với người Việt. Vậy
mà họ Nguyễn đã không chỉ tồn tại được và đẩy lui bảy lần tấn
công của họ Trịnh mà còn có thể mở rộng biên giới của mình sâu
xuống phía nam, tới tận đồng bằng sông Cửu Long. Phải chăng
do ngẫu nhiên mà một lực lượng ra đời trong một môi trường
mới đã không chỉ tồn tại mà còn chiến thắng trong khi các lực
lượng khác trụ lại trong môi trường quen thuộc lại thất bại?
Chúng ta thử đánh dấu trên bản đồ lịch sử Việt Nam địa
điểm các sự kiện quan trọng diễn ra từ đầu thế kỷ 15 đến năm
1802, chúng ta sẽ thấy là các sự kiện này đã tuần tự diễn ra
theo chiều hướng tiến dần xuống phía nam. Lê Lợi khởi binh
ở Thanh Hóa, phía nam đồng bằng sông Hồng vào đầu thế kỷ
15. Nguyễn Kim nổi lên chống lại nhà Mạc trong vùng Thanh
Hóa và Nghệ An năm 1533. Nguyễn Hoàng bắt đầu gây thân
thế ở Quảng Trị năm 1558. Tây Sơn khởi nghĩa tại Quy Nhơn
năm 1771 và Nguyễn Ánh thiết lập căn cứ trong vùng Gia Định
vào những năm 80 của thế kỷ 181. Tất cả các sự kiện này nằm
1
Tạ Chí Đại Trường bàn đến vấn đề này trong cuốn Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, Văn Sử Học, Sài Gòn,
1973, trg. 38.
www.hocthuatphuongdong.vn
16
XỨ ĐÀNG TRONG
trong quá trình rộng lớn của cuộc Nam tiến, sự phát triển của
Việt Nam về phía nam.
Sự phát triển dần dần xuống phía nam này đã tạo nên một
vùng đất, nơi đó Khổng giáo, một ý thức hệ đã chiếm địa vị
thống trị ở phía bắc từ triều Lê Thánh Tông, đã không được đề
cao, thậm chí, về căn bản, hầu như không được biết đến. Điều
này xem ra cho phép nghĩ tới một vùng biên nhiều hứa hẹn đối
với sự phát triển của các lực lượng chính trị mới. Họ Nguyễn
mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong luận án này quả đã tạo nên được
một bối cảnh như thế cho lịch sử Việt Nam.
Từ thế kỷ 17, đồng bằng sông Hồng đã không còn là trung
tâm duy nhất của văn minh Việt Nam. Một bức tranh hoàn toàn
mới đã được phác họa. Ngoài Thăng Long, một trung tâm mới
là Huế đã xuất hiện. Ngoài đồng bằng sông Hồng, một vùng
kinh tế khác đã hình thành. Đó là vùng Thuận Quảng. Đây
không đơn thuần là vùng kinh tế cũ được mở rộng ra. Đúng
hơn, chúng ta đang đứng trước một vùng đất mới đang phát
triển với một bối cảnh văn hóa khác và một dân cư hoạt động
trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác. Khi người Việt ở phía
nam chấp nhận những cái tên mới họ đặt cho hai miền - vùng
ở “trong” (Đàng Trong) chỉ vùng đất của họ và vùng ở “ngoài”,
(Đàng Ngoài)1 chỉ phía bắc - thì rõ ràng là đã có sự khác biệt
giữa hai miền Nam, Bắc. Sự khác biệt này mang một ý nghĩa
quan trọng: từ nay, sẽ có hai cách thức làm người Việt Nam khác
nhau. Sự khác biệt giữa hai tên gọi này còn cho thấy một cách
rõ ràng là hai miền đất tuy có khác nhau, nhưng đối với người
ở phía nam, hai miền này cũng phải được coi là bình đẳng.
1 Hai từ này xuất hiện trong Dictionarivm Annamiticvm, Lvsitanvm, et Latinvmope, Typis. &
Sumptibus eiusdem Sacr. Congreg, Rome, 1651, trg. 201. Các từ này dường như do người ở phía nam
tạo ra vào thập niên 1620.
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP 17
Đây là một thay đổi căn bản và đầy ấn tượng trong lịch sử
Việt Nam. Về tầm quan trọng, sự kiện này có thể sánh với việc
Việt Nam giành được độc lập từ tay Trung Hoa vào thế kỷ 10.
Thoạt nhìn, sự kiện có dáng dấp một câu chuyện về một dòng
họ đã có thể tồn tại và triển nở về mặt chính trị sau khi đã đánh
mất quyền hạn đang có ở triều đình tại Thăng Long. Nhưng về
bản chất, đây lại là một sự kiện đã dẫn đến việc thành lập một
hệ thống nhà nước mới và một nền văn hóa mới phồn thịnh1.
Những thay đổi diễn ra trong hai thế kỷ chắc chắn đã đóng
một vai trò tích cực trong nền văn hóa Việt Nam.
Sự đoàn kết dân tộc và cuộc kháng chiến chống ngoại xâm là
hai chủ đề trọng tâm của Việt Nam thời hiện đại. Tiếc thay, cuộc
thử nghiệm của họ Nguyễn đã đi ngược lại cả hai chủ đề này.
Thứ nhất, chế độ họ Nguyễn đã phá đổ sự thống nhất quốc gia
trong 200 năm. Thứ đến, Nguyễn Ánh đã đánh bại cuộc “khởi
nghĩa” Tây Sơn, với sự giúp đỡ của “thực dân phương Tây”.
Có lẽ do đó mà một số nhà viết sử của Việt Nam có khuynh
hướng hạ thấp lịch sử Đàng Trong. Vương quốc họ Nguyễn
thường được xem như một biến thể có tính địa phương của
triều Lê và của nền văn hóa theo Nho giáo, không khác Đàng
Ngoài là mấy2. Người ta có khuynh hướng bàn về một nước “Đại
Việt” duy nhất với những “nét đặc trưng chung Việt Nam” ngay
cả vào các thế kỷ 17 và 183. Nhưng, như sẽ được trình bày trong
công trình nghiên cứu này, chúng tôi lại hoàn toàn nghĩ khác:
vào thời đó, không chỉ có hai nước “Đại Việt” mà còn có thể
1
2
3
Từ 1600, Nguyễn Hoàng quyết định tự mình đi theo con đường của mình mà không tham khảo ý kiến
của triều đình. Dòng dõi của ông đã kiên trì đi theo con đường này của ông.
Về dung mạo Nho giáo của họ Trịnh ở phía bắc, xem Keith Taylor, “The literati revival in seventeenthcentury Viêtnam”, Journal of Southeast Asian Studies, no.1, bộ XVIII, 1987.
Thái độ này cũng có thể tìm thấy nơi một số nhà nghiên cứu ngoại quốc. Xem, chẳng hạn, Insun Yu's
Law and Society in Seventeenth and Eighteenth Century Vietnam, Asiatic Research Center, Korea
University, Seoul, 1990.
www.hocthuatphuongdong.vn
18
XỨ ĐÀNG TRONG
nói, vương quốc ở phía nam có những điểm riêng biệt làm cho
nền văn hóa Việt Nam, trong tương lai xa, phong phú thêm rất
nhiều. Bởi vậy, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi có
khuynh hướng chú trọng tới những thay đổi và khác biệt hơn
là tới tính liên tục và những điểm giống nhau, để qua đó làm rõ
tầm quan trọng của Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã viết về lịch sử chính
trị của hai thế kỷ chia cắt này, hoặc bằng tiếng Việt hoặc bằng
tiếng Pháp1. Một số tác giả phương Tây cũng đã viết về lịch sử
chính trị của Việt Nam trong những năm này2. Không cần sao
chép lại ở đây những gì các tác giả này đã viết. Nhưng thay vào
đó, và cũng là điều chúng tôi quan tâm, chúng tôi sẽ chú trọng
chủ yếu vào một số đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của xã
hội Đàng Trong, theo chúng tôi nghĩ, đã giúp Đàng Trong có
được những thành công lâu dài về mặt chính trị dù phải ở trong
những điều kiện không mấy thuận lợi.
Một điểm khác nữa cần được nêu lên ở đây, đó là trong một
thời gian khá dài, người ta chỉ biết đến miền đất này qua tên gọi
bằng tiếng châu Âu là Cochinchina. Và cách thức người Pháp sau
đó sử dụng tên gọi này đã làm người ta dễ lẫn lộn về mặt nội
dung. Aurousseau và Lamb đã lưu ý: Cochinchina, từ giữa thế
kỷ 19 trở về trước, chỉ miền Trung của Việt Nam hiện nay, và
từ giữa thế kỷ 19 trở về sau, chỉ miền Nam Việt Nam3. Lần đầu
1
2
3
Chẳng hạn, Lê Thành Khôi, Le Viêt Nam, les Editions de Minuit, Paris, 1955, và Histoire du Viêt Nam
des origines à 1858, Sudestasie, Paris, 1981; Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Khai Trí, Sài Gòn,
1969; và Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, Văn sử học, Sài Gòn, 1973.
Joseph Buttinger, The Smaller Dragon, Praeger, New York, 1958; Jean Chesneaux, Contribution à
l'histoire de la nation Viêtnamienne, Editions sociales, Paris, 1954. Keith Taylor, “Nguyễn Hoàng and
the beginning of Việt Nam's southward expansion”, trong Southeast Asia in the Early Modern Era,
Anthony Reid chủ biên, Ithaca, Cornell University Press. Đây có lẽ là đóng góp mới và quan trọng nhất
để hiểu lịch sử họ Nguyễn.
L.Aurousseau, “Sur le nom de 'Cochinchine' ”, BEFEO, tập 24, 1924, trg. 563-566; A. Lamb, The mandarin
Road to old Hue, Chatto & Windus, London (1970), trg. 12. Lamb đồng hóa Cachao, một địa danh theo
tiếng Bồ Đào Nha, với Hà Nội. Tác giả lập luận Cachao là từ Giao Chỉ mà ra. Tuy nhiên, Cachao đúng
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP 19
tiên chúng ta bắt gặp tên gọi Cochinchina này có lẽ là trong Tom
Pires vào năm 1515. Đất nước ông muốn ám chỉ đến dưới tên
gọi Cauchy hay Cauchy China chính là Việt Nam1. Aurousseau
cho ta hiểu là người Bồ Đào Nha đã tạo nên tên gọi này từ từ
Kuchi của tiếng Mã Lai. Nhưng một số tác giả khác lại cho rằng
từ Cochin có thể là do cách người Nhật đọc từ Giao Chỉ của
tiếng Hán. Nhưng cho đến giữa thế kỷ 16, giữa người Nhật và
Cochinchina chưa có các quan hệ buôn bán đáng kể, nên giả
thuyết của Aurousseau vẫn còn đứng vững.
Trong luận án, chúng tôi sử dụng lẫn lộn các từ Cochinchina
và Đàng Trong, vì cả hai tên gọi này, vào thế kỷ 17 và 18, cùng
chỉ một vùng đất mà thôi. Điều chúng tôi chú trọng không phải
là tìm xem tên gọi nào thích hợp nhất đối với vùng đất này mà
là các tên gọi này luôn được dùng để chỉ một “vùng đất mới”
trong lịch sử Việt Nam2. Và công trình nghiên cứu này tập trung
trọn vẹn vào vùng đất mới đó.
1
2
hơn là Cacciam (hay Kẻ Chiêm theo tiếng Việt), nơi trấn thủ Quảng Nam ở vào thời kỳ này, ngày nay
là làng Thanh Chiêm. Xem Phạm Đình Khiêm, “Đi tìm địa điểm và di tích hai thành cổ Quảng Nam và
Phú Yên đầu thế kỷ 17”, Việt Nam khảo cổ tập san, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1960, tập 1, trg.
83. Theo Manguin, trong Les Portugais sur les cotes du Viêt Nam et du Campa, trg. 185, thì Cachao
nằm trong Quảng Nam.
The Suma Oriental of Tome Pires, The Hakluyt Society, Lessing-Druckerei-Wiesbaden, 1967, trg. 114:
“Vương quốc nằm giữa Champa và Trung Hoa”.
Giống như từ “phía nam” trong lịch sử Việt Nam. Từ “nam” ở Việt Nam đã thay đổi theo phong trào tiến
xuống phía nam của người Việt Nam. Thuận Hóa, ngày nay nằm ở miền Trung Việt Nam, đã được coi
là phía “nam” khi bắt đầu cuộc Nam tiến, bởi vì nằm ở phía nam ranh giới phía nam cũ của nước Đại
Việt. Đại Nam thực lục tiền biên 1559: “Thanh Hóa và Nghệ An bị lụt, dân lưu tán nhiều vào nam”. Từ
“nam” ở đây chỉ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam. Từ “trung” xem ra chỉ xuất hiện từ thế kỷ 19. Việc cải
cách hành chánh dưới triều Minh Mạng (1831) đã tạo ra Trung kỳ, mặc dù Gia Long đã ngầm tạo ra
một “trung tâm” khi thành lập các đơn vị hành chánh Bắc Thành và Gia Định Thành.
www.hocthuatphuongdong.vn
CHƯƠNG 1
VÙNG ĐẤT MỚI
Địa hình
Vùng đất mới đối với người Việt Nam này chủ yếu là một dải
đất dài và hẹp, nằm giữa núi và biển. Địa hình của vùng đất này
có hai đặc điểm: thứ nhất là dãy Trường Sơn, phủ đầy rừng rậm,
chạy suốt chiều dài của nước này, và càng xuống phía nam càng
thấp dần. Thứ hai là dãy núi đã bị nhiều con sông nước chảy
mạnh và mũi núi cắt ngang làm thành một số lưu vực nhỏ và
hẹp, ít gắn với nhau về mặt địa lý. Xét về mặt hình thể, vương
quốc cũ được thiết lập trên vùng đất này có vẻ như bao gồm
một số vùng định cư biệt lập với nhau, được cho thấy qua sự
tập hợp các di tích cổ tại các thung lũng không có đường thông
thương với nhau. Bộ sách Chư phiên chí của một nhà du lịch
người Trung Hoa vào thế kỷ 13 cũng gợi cho người ta nghĩ như
thế. Trong quyển một của bộ sách này, vương quốc này được
tả là có 11 quốc gia chư hầu, nhưng đúng hơn, phải hiểu là 11
vùng định cư biệt lập nhau. Và do đó, điều làm chúng ta ngạc
www.hocthuatphuongdong.vn
VÙNG ĐẤT MỚI 21
nhiên là họ Nguyễn đã tìm được cách thiết lập và duy trì được
một quốc gia thống nhất trong nhiều thế kỷ trên cái “vùng đất
rời rạc nhất thế giới” ấy, như Gourou sau này nhận định1.
Vùng đất mới này có thể được chia thành ba vùng tự nhiên
khác nhau. Hai vùng đầu có những diện tích tương đối rộng
thích hợp với nông nghiệp. Vùng thứ nhất2, ngày nay là Quảng
Nam, là một đồng bằng phì nhiêu, khoảng 1.800 cây số vuông.
Nước do sông Thu Bồn và nhiều nhánh của con sông này cung
cấp. Vùng thứ hai tương ứng với đồng bằng Bình Định trù phú
ngày nay, có diện tích là 1.550 cây số vuông, có hai dãy núi khác
nhau bao quanh. Hai thung lũng của vùng đất này sử dụng nước
của hai con sông Đà Rằng và Lai Giang. Vùng thứ ba gồm ba
thung lũng3 thông thương với nhau một cách dễ dàng, một vùng
khác biệt, các sách của Trung Hoa được viết trong thời kỳ từ
thế kỷ 8 đến thế kỷ 10 coi đây như là một quốc gia riêng biệt4.
Đèo Hải Vân nằm giữa Huế và Đà Nẵng tạo thành một lằn
ranh khí hậu: phía bắc đèo là vùng khí hậu pha trộn giữa nhiệt
đới và cận nhiệt đới, có một mùa đông rõ rệt kéo dài từ 3 đến 4
tháng. Khí hậu phía nam mang tính cách một khí hậu giữa hai
chí tuyến5. Dãy Trường Sơn ở phía bắc thường hẹp và gồ ghề,
nhưng ở phía nam thì lại có chiều nở rộng tạo thành một cao
nguyên, thường được gọi là Tây nguyên hay Cao nguyên Trung
phần, có diện tích khoảng 20.000 dặm vuông (100 dặm chiều
rộng và 200 dặm chiều dài). Vùng cao nguyên này thường được
dùng làm nơi trú ẩn. Một dân tộc bị một nhóm người có vũ
1 Gourou, The Peasants of the Tongking Delta, Human Relations Area Files, New Haven, 1955, tập 1,
trg.3.
2 Minh thực lục gọi địa điểm này là A-mu-la-bu, trong khi đó Chư phiên chí lại gọi là Wu-ma-ba.
3 Ba thung lũng này là: Nha Trang, nước do sông Cái cung cấp; Phan Rang, nước do sông Dinh, chảy từ
cao nguyên Lâm Viên ra biển; Phan Rí và Phan Thiết, do sông Lũy và sông Cái.
4 Chư phiên chí gọi là Tân Đông Long (?), Lĩnh Ngoại Đại Đáp, quyền 2, gọi là Tân Đà Lĩnh (?), Tống sử,
quyển 489, gọi là Núi Tân Đà Long, Tân Đường Thư, quyển 43, gọi là Bản Đà Long (?).
5 Vietnam - Geographical Data, Hanoi, 1979, trg. 34.
www.hocthuatphuongdong.vn
22
XỨ ĐÀNG TRONG
trang mạnh hơn đánh bại có thể kéo lên lẩn trốn ở đây để duy
trì một sự tự trị nào đó. Trường hợp đầu tiên có lẽ là trường
hợp các dân tộc được gọi là Mọi. Họ bị người Chăm xua đuổi
khỏi đồng bằng. Kế đó đến lượt một số đông người Chăm. Họ
phải rút lên đây trước sức ép của người Việt.
Champa sau 1471
Các nguồn tư liệu mới được nghiên cứu1 còn cho thấy rằng,
không như người ta tưởng trước đây, dân cư của vương quốc
này bao gồm không chỉ những người thuộc dân tộc Chăm mà
cả các nhóm dân nói tiếng Austronesia như Jarai, Rhađê, Churu,
và Roglai và các nhóm dân nói tiếng Austroasiatic như Mnong
và Stiêng. Đây là một phát hiện rất quan trọng: nó đảo lộn cách
hiểu của chúng ta về Champa. Trước đây, các nhà nghiên cứu
đã đi theo con đường đã được vạch ra trong công trình nghiên
cứu đầu tiên của Aymonier về vùng này. Trong công trình này,
tác giả đã áp dụng một mô hình “quốc gia” không thích hợp
cho rằng Champa là lãnh thổ của người Chăm, theo kiểu nước
Pháp là lãnh thổ của người Pháp. Nhưng, như Po Dharma mới
đây cho thấy, từ nguyên học của từ “cam” không dính dáng gì
tới “Campa” cả, về mặt lịch sử cũng như về mặt dân tộc học.
Trong khi “cam” có nghĩa là người Chăm, thì “Campa”, trong
“nagara Campa” - tên do chính người dân đặt cho vương quốc
1
Trừ các phần có ghi rõ, đoạn này tóm tắt việc nghiên cứu gần đây nhất. Xem cách riêng Po Dharma,
Le Panduranga (Campa) 1802-1835. Ses rapports avec le Vietnam (Paris: EFEO, 1987), 2 tập; Actes
du Séminaire sur le Campa organisé à L'Université de Copenhague, le 3 Mai 1987, (Paris: Travaux
du Centre d'Histoire et Civilisations de la Péninsule indochinoise, 1988), cách riêng Bernard Gay,
“Une nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, tr. 49-56 và Po Dharma, “État des dernières
recherches sur la date de l'absorption du Campa par le Vietnam”, tr. 59-70. Cũng xem Pierre-Bernard
Lafont, “Le grandes dates de l'histoire du Campa”, trong Le Campa et le Monde Malais (Paris: Centre
d'Histoire et Civilisations de la Péninsule indochinoise, 1991), tr. 6-25.
www.hocthuatphuongdong.vn
VÙNG ĐẤT MỚI 23
của họ - lại ám chỉ một liên minh bao gồm người Chăm và
người cao nguyên1.
Trong các bia ký cũng như trong các tài liệu lịch sử bằng
tiếng Chăm muộn thời đều không thấy có sự phân biệt giữa
người dân đồng bằng với người dân miền núi. Các tài liệu này
sử dụng cùng một tên gọi, “urang Campa”, để chỉ tất cả người
dân nagara Campa, bất luận họ ở đâu. Quả thật, nhiều vua
Champa vào thời sau này là người gốc miền núi, điều mà các
sử gia cho tới gần đây đã không nhận ra do không quan tâm
tới các tài liệu bằng tiếng Chăm muộn thời. Trong số các vị vua
này, người nổi tiếng nhất của thời sau 1471 là Po Ram (hay Po
Rame). Ông vua này trị vì từ 1627 đến 1651. Theo nguồn gốc,
ông là một người Churu, một thành viên của dân miền núi có
tổ tiên sinh ra từ các cuộc hôn nhân giữa các nhóm người Chăm
tỵ nạn và các dân địa phương Roglai và Koho2. Mười bốn vua
thuộc dòng dõi của vị vua này đã cai trị nagara Campa cho tới
năm 1786. Hôn nhân với người cao nguyên đã trở nên thông
thường trong hoàng tộc: người con nổi tiếng nhất của Po Rame,
Po Saut, lên ngôi năm 1655, là con của một bà vợ người Rhađê
(hay Koho). Thêm vào đó, các thực lục và lưu trữ của triều
đình có nhắc tới nhiều viên chức cao cấp tại triều đình cũng
như trong hành chánh là người cao nguyên. Có đến 12 người
là người cao nguyên nằm trong số những người được tôn thờ
như là thần trong thần điện tại Kate, trong nghi lễ cúng bái đầu
tiên của năm, khi mọi người dân đều tưởng nhớ tới những nhân
vật lớn của nagara Campa. Vào dịp cúng bái này, những người
canh giữ kho tàng quý báu của Champa, tất cả đều là người cao
Xem Bernard Gay, “Une nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, trong Actes du Séminaire
sur le Campa organisé à l'Université de Copenhague, le 23 mai 1987, travaux du Centre d'Histoire
et Civilisations de la Péninsule indochinoise, Paris, 1988, trg. 50.
2 Hickey, Sons of the Mountains, trg. 113.
1
www.hocthuatphuongdong.vn
24
XỨ ĐÀNG TRONG
nguyên, đã trưng các vật quý báu cho người ta tôn kính. Nhiều
vật quý trong số này đã được cất giữ tại vùng cao nguyên cho
tới thời Pháp thuộc1.
Tất cả các thông tin mới này cho thấy rằng, duy nhất trong
lục địa Đông Nam Á, nagara Campa là “một nước đa dân tộc
trong đó mọi nhóm dân tộc đều có các quyền bình đẳng”2.
Cuộc Nam tiến trước thời các chúa Nguyễn
Cuộc Nam tiến không đơn thuần là một quá trình diễn ra
theo đường thẳng, như người ta thường nghĩ, được quyết định
trước qua đó “Việt Nam” của thế kỷ thứ 10 trở thành “Việt Nam”
ngày nay mà đúng hơn, là một loạt những sự kiện khác nhau
nhằm đáp ứng những hoàn cảnh hay cơ hội riêng biệt, đôi khi
do những sự tình cờ ít nhiều có tính cách quân sự quyết định3.
Trong khi các hình thức muộn thời của cuộc Nam tiến có
mục đích là chiếm đất, các biến cố được coi như là những
bước đầu của cuộc Nam tiến4 lại nhằm vào việc bắt người và
lấy của, một hình thức tiêu biểu của chiến tranh tại Đông Nam
Á. Chẳng hạn, vào năm 982, khi Lê Hoàn mở cuộc tấn công
Champa, ông đã bắt giữ 100 cung phi Chăm và chiếm kho tàng
của nhà vua Champa5. Những cuộc viễn chinh tương tợ, tuy ở
mức độ nhỏ hơn, có thể đã diễn ra lâu dài. Chẳng hạn, sử Việt
Nam ghi lại việc thả 360 tù binh người Chăm bị giam giữ ở
1
2
3
4
5
Ibid, trg. 106-07.
Bernard Gay, “Une nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, trg. 55.
Về cuộc trao đổi gần đây nhất liên quan tới cụm từ “Nam tiến”, xem Keith Taylor, “Regional Conflicts
among the Viet Peoples between the 13th and 19th centuries”, tại cuộc Hội thảo về “La conduite des
relations entre sociétés et Etats: Guerre et paix en Asie de Sud-est”, Paris, tháng 7. 1996, trg. 6-11.
Xem Trương Bá Phát, “Lịch sử cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam”, Sử Địa, số 19 và 20, 1970.
Toàn thư, quyển 1, trg. 189.
www.hocthuatphuongdong.vn
VÙNG ĐẤT MỚI 25
Thăng Long vào năm 9921, sử này cũng ghi nhận những cuộc
ruồng bố tương tợ của người Việt ở vùng biên giới Trung-Việt
vào năm 995, bắt giữ một số tù nhân người Trung Hoa2. Đúng
thế, trong nhiều thế kỷ sau, những người Chăm bị bắt trong
chiến tranh và dòng dõi của họ thường chiếm một tỷ lệ khá
lớn trong số những người dân sinh sống gần thủ đô Việt Nam.
Nhưng người Chăm cũng không chịu ngồi yên. Trong giai đoạn
từ 979 đến 997, họ cũng đã thực hiện nhiều cuộc ruồng bố tại
thủ đô của n...
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
General Sciences Library Cataloging-in-Publication Data
Li, Tana
Xứ Đàng Trong : lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 / Li Tana ; bản dịch của Nguyễn Nghị. - T.P. Hồ Chí Minh
: Trẻ, 2013.
284tr. ; 23 cm.
Nguyên bản : Nguyen Cochinchina : Southern Vietnam in 17th and 18th centuries.
1. Miền Nam Việt Nam -- Lịch sử. 2. Việt Nam -- Lịch sử -- Triều đại hậu Lê,1428-1787. I. Nguyễn Nghị. II. Ts: Nguyen
Cochinchina : Southern Vietnam in 17th and 18th centuries.
III. Ts: Nguyen Cochinchina : Southern Vietnam in the seventeenth
and eighteenth centuries.
959.77026 -- dc 22
L693
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI GIỚI THIỆU
C
húng tôi xin chân thành giới thiệu với độc giả Việt Nam Xứ
Đàng Trong, Lịch sử Kinh tế - Xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và
18, luận án tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Australia, có sửa chữa
để xuất bản, của Li Tana. Bản tiếng Anh của luận án Nguyễn
Cochinchina, Southern Vietnam in Seventeenth and Eighteenth
Centuries, được xuất bản tại Hoa Kỳ năm 1998 bởi Cornell
Southeast Asia Program.
Tác giả là một nhà Việt Nam học khá quen thuộc trong giới
nghiên cứu về Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Để thực
hiện các công trình nghiên cứu của mình, tác giả đã lui tới Việt
Nam nhiều lần, tham khảo các nguồn tư liệu tại Hà Nội cũng
như tại thành phố Hồ Chí Minh, tiếp xúc và trao đổi với các
nhà khoa học, tham dự nhiều hội nghị khoa học về Việt Nam...
Tác giả đã xuất bản nhiều công trình khoa học về lịch sử Việt
Nam. Riêng công trình nghiên cứu về Đàng Trong này đã được
nhiều nhà Việt Nam học nổi tiếng như Alexander Woodside,
David Chandler, Anthony Reid... đánh giá cao và coi như là một
công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc.
www.hocthuatphuongdong.vn
6
XỨ ĐÀNG TRONG
Đề tài tác giả chọn để nghiên cứu trong công trình này là một
đề tài khó vì liên quan tới một thời kỳ khá phức tạp trong lịch
sử Việt Nam: sự hình thành, phát triển và gần như diệt vong
của một xứ Đàng Trong của họ Nguyễn, trên một vùng đất mới,
trong những hoàn cảnh mới và với những vấn đề mới... Lãnh
vực tác giả đề cập tới và nhấn mạnh lại là lãnh vực kinh tế - xã
hội, cho tới nay chưa được nhiều tác giả bàn tới một cách sâu
sắc. Trong lãnh vực này, công trình của Li Tana, nếu chưa giải
quyết một cách thỏa đáng những vấn đề được nêu, thì ít ra cũng
đã là một gợi ý rất phong phú cho công việc nghiên cứu kế tiếp.
Chẳng hạn vấn đề liên quan đến dân số của Đàng Trong vào
các thế kỷ 17 và 18. Một vấn đề hầu như không thể giải quyết
nổi nếu chỉ dựa vào những con số thống kê, những kết quả của
các cuộc điều tra dân số, vốn rất hiếm hoi trong tài liệu của Việt
Nam, kể cả của nước ngoài. Tuy nhiên, tác giả đã phá vỡ được
sự bế tắc này bằng cách dựa vào số các làng, kích thước các làng
nói chung, các thông tin về làng trong lịch sử Việt Nam. Đây có
thể được coi là một đóng góp mới mẻ và quan trọng của tác giả
trong lãnh vực nghiên cứu về dân số của Đàng Trong, hay của
Việt Nam, trong quá khứ.
Hai thế kỷ 17 và 18 lại cũng là thời kỳ “mở rộng cửa” của
Đàng Trong đối với nền ngoại thương mà theo tác giả là nền
tảng của sự sống còn của Đàng Trong dưới quyền họ Nguyễn,
“gần bốn lần yếu hơn họ Trịnh ở Đàng Ngoài về mọi mặt”. Nói
đến ngoại thương cũng là nói đến sự hiện diện của tàu bè và
thương gia người Nhật, người Trung Hoa... và những người
châu Âu như Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... vì đây cũng là
thời kỳ người châu Âu ồ ạt kéo nhau sang buôn bán và đặt căn
cứ tại Đông Nam Á. Nghiên cứu về hai thế kỷ này của Đàng
Trong không thể bỏ qua các nguồn tư liệu, trong thực tế rất
phong phú và đa dạng, của những người thuộc nhiều quốc tịch
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI GIỚI THIỆU
7
khác nhau để lại. Công trình cho thấy tác giả đã khai thác được,
bằng cách này hay cách khác, các nguồn tư liệu khác nhau này.
Do đó, công trình nghiên cứu của tác giả đã cho chúng ta một
cái nhìn tổng quát hơn và cũng có sức thuyết phục hơn về các
vấn đề được bàn đến. Đây cũng là một ưu điểm được các nhà
phê bình nhìn nhận. Tiếp xúc được với các tư liệu gốc là một
trong những điều kiện tiên quyết để một công trình sử học có
được những đóng góp mới, hay ít ra không đi vào con đường
đã bị cày nát dưới bánh xe những người đi trước.
Và cũng để tránh lặp lại những gì người đi trước đã viết về
Đàng Trong, tác giả đã chọn nhấn mạnh - mà không khuếch
đại - những điểm khác biệt giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong.
Nhưng dưới ngòi bút của tác giả, những sự khác biệt này, ngay
cả khi tác giả đặt tiêu đề cho một chương trong công trình của
mình là “Cuộc sống ở Đàng Trong: Hội nhập và sáng tạo”, đã
không phá vỡ sự thống nhất của dân tộc Việt Nam mà trái lại
đã làm cho sự thống nhất trở nên vô cùng phong phú và sống
động, một sự thống nhất không đóng khung trong khuôn khổ
nhưng chấp nhận sáng tạo và đa dạng.
Là một nhà khoa học muốn giới thiệu với độc giả Việt Nam
công trình khoa học của mình và qua đó góp phần vào việc
tìm hiểu kho tàng phong phú của lịch sử Việt Nam, tác giả hẳn
không mong muốn gì hơn - nhất là khi tác giả lại là người nước
ngoài - là tác phẩm của mình được độc giả Việt Nam tiếp nhận
như một công trình khoa học và nhận được những trao đổi có
tính khoa học về công trình của mình. Hiểu được mong muốn
trên đây của tác giả, tôi xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc
Việt Nam công trình mới này về lịch sử kinh tế - xã hội của xứ
Đàng Trong thế kỷ 17 và 18 để tham khảo.
Nguyễn Đình Đầu
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI CÁM ƠN
T
rước hết, tôi xin chân thành cám ơn ông David Marr, người
đã đưa tôi tới đây và là người hướng dẫn chính của tôi, đã
giúp tôi bằng mọi cách và bằng những hiểu biết thâm sâu của
ông về Việt Nam. Tôi cũng cảm thấy rất may mắn khi giáo sư
Anthony Reid nhận làm cố vấn cho tôi. Giáo sư đã luôn giúp
tôi đi thẳng vào vấn đề và trợ giúp tôi hết mức tôi có thể mong
đợi. Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi đối với các nhà
nghiên cứu John Fincher, Trần Kính Hòa, Estar Ungar, Ann
Kuma, Greg Lockhart, Craig Reynolds, David Bulbeck, Terry
Hull, Peter Xenos, Hans Nelson và Đỗ Thiện. Mỗi người đều đã
giúp tôi ở nhiều cấp độ khác nhau, và tất cả đều đã có những
đóng góp quan trọng và có giá trị. Tôi cũng rất lấy làm vinh dự
được có dịp trao đổi với giáo sư Wolters. Giáo sư đã kiên nhẫn
nghe tôi trình bày và đã khuyến khích tôi triển khai một cách
rộng rãi và sâu sắc hơn các tư tưởng của tôi.
Tôi cũng mang ơn rất nhiều đối với Nola Cooke, người đã
có những đóng góp quý giá trong việc thực hiện luận án này
của tôi. Không một sai sót nào trong nội dung, cấu trúc hay
văn phạm của luận án có thể thoát khỏi con mắt sắc bén của
www.hocthuatphuongdong.vn
LỜI CÁM ƠN 9
cô. Luận án này có được như hiện tại là nhờ cô đã đọc kỹ và
xem lại các bản thảo.
Các ông Pierre Manguin và Nguyễn Thế Anh cũng như bà
Christiane Rageau đã giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu, tham khảo
nguồn tư liệu khi tôi tới Paris làm việc. Tại Việt Nam, các ông
Nguyễn Đức Nghinh, Đỗ Văn Ninh, Đỗ Bang, Huỳnh Lứa và
nhiều học giả và bè bạn khác đã giúp tôi hiểu rõ Việt Nam hơn.
Tôi mang ơn họ rất nhiều.
Tôi cũng xin cám ơn Viện Hán Nôm và Viện Sử học Hà Nội
đã cho phép tôi đọc các thủ bản, nhờ đó tôi có thể thực hiện
được công việc nghiên cứu này. Tôi xin đặc biệt cám ơn ông
Phạm Đình Nham, giám đốc Kho lưu trữ 2 tại thành phố Hồ
Chí Minh, và Ban quản lý di tích Hội An. Cả hai đều đã cho
phép tôi đọc các tư liệu liên quan đến công trình nghiên cứu
của tôi.
Đại học Quốc gia Australia đã dành cho tôi mọi sự dễ dãi và
đã trợ giúp một cách rộng rãi tất cả công việc nghiên cứu của
tôi. Tôi cũng xin cám ơn các bạn hữu trong phân khoa, cám ơn
Norah Forster và Kristine Alilunas-Rodgers đã giúp tôi đọc các
nguồn tư liệu bằng tiếng Pháp.
Lihong, chồng tôi cũng đã hết sức tận tụy giúp đỡ tôi và hỗ
trợ tôi mỗi khi tôi yêu cầu. Luận án này không thể hoàn thành
nếu không có sự đóng góp của anh.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu xa của tôi đối với ông
Nguyễn Nghị, người đã nhận dịch luận án của tôi ra tiếng Việt,
đã kiên nhẫn chấp nhận những sửa chữa, thêm, bớt của tôi
trong nguyên bản ngay trong quá trình dịch và cả sau khi bản
dịch đã hoàn thành. Ông đã dịch chính xác và diễn tả đúng ý
công trình của tôi. Tôi cũng xin cám ơn ông Nguyễn Đình Đầu
đã cổ vũ việc dịch và xuất bản luận án của tôi bằng tiếng Việt và
www.hocthuatphuongdong.vn
10
XỨ ĐÀNG TRONG
đã lưu ý tôi về một số sai sót trong luận án. Ông Cao Tự Thanh
tại thành phố Hồ Chí Minh đã giúp tôi hiểu rõ hơn về miền
Nam và người dân miền Nam. Tôi xin cám ơn ông và cám ơn
nhiều bạn hữu khác nữa.
Mặc dù được sự giúp đỡ của các đồng nghiệp và bạn bè,
luận án này có thể vẫn còn những thiếu sót và sai lầm. Tất cả
các thiếu sót và sai lầm này hoàn toàn do tôi chịu trách nhiệm.
www.hocthuatphuongdong.vn
11
Bản đồ 1:
Đàng Trong (đất liền), 1690: nhà kho và nhà giam
www.hocthuatphuongdong.vn
12
Bản đồ 2: Đàng Trong (đất liền), 1690:
cơ quan hành chánh và đồn phòng thủ
www.hocthuatphuongdong.vn
13
Bản đồ 3:
Đàng Trong (đất liền), 1690: chợ, nhà trọ và cảng
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP
X
ác định rõ một thay đổi quan trọng của lịch sử đã xảy ra
đích xác ở đâu, lúc nào và như thế nào không bao giờ là
dễ dàng cả. Nhưng trong trường hợp Việt Nam, chúng ta lại có
thể chỉ ra năm tháng và biến cố đã đem lại cho Việt Nam gần
3/5 số diện tích hiện nay của nước này do quyết định dời khỏi
kinh đô của một dòng họ.
Hai họ Trịnh Nguyễn đang là thông gia với nhau bỗng trở
thành thù địch của nhau khi Trịnh Kiểm tiếm quyền vua Lê
năm 1546. Người ta kể là Nguyễn Hoàng, thấy trước mình có
thể gặp phiền hà, đã tới hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà nho
được tôn là “trạng”, xem phải làm gì. Nguyễn Bỉnh Khiêm suy
nghĩ một lúc lâu rồi trả lời: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung
thân” (một dải núi Ngang có thể dung thân muôn đời được). Và
Nguyễn Hoàng đã nhờ bà chị của ông cũng là vợ Trịnh Kiểm
thuyết phục chồng cử ông đi trấn Thuận Hóa, vùng biên giới
xa xôi. Nguyễn Hoàng đã thành công với nước cờ thí này. Lúc
ấy là năm 1558.
Trịnh Kiểm chỉ có ý tống khứ một địch thủ. Nhưng ông đã
đi sai nước cờ. Và thay vì tống khứ, ông lại cho không Nguyễn
Hoàng một vương quốc. Và một chuỗi các sự kiện diễn ra đã
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP 15
làm thay đổi toàn bộ lịch sử Việt Nam nói riêng và lịch sử Đông
Nam Á nói chung.
Họ Nguyễn yếu hơn họ Trịnh rất nhiều về hầu như mọi mặt.
Phía bắc đã thiết lập được một hệ thống nhà nước vững chắc
giúp họ Trịnh kiểm soát một diện tích lớn hơn diện tích của họ
Nguyễn từ ba đến bốn lần và duy trì được một lực lượng quân
sự cũng lớn hơn từ ba đến bốn lần. Hơn nữa, họ Trịnh quản lý
một vùng đất người Việt Nam cư ngụ từ nhiều thế kỷ nay và dân
dưới quyền cai trị của họ Trịnh cũng chính là cư dân của vùng
đất này, trong khi vương quốc của họ Nguyễn lại được thiết lập
trên một vương quốc đã được Ấn Độ hóa, có một nền văn hóa
rực rỡ và một truyền thống rõ ràng là khác với người Việt. Vậy
mà họ Nguyễn đã không chỉ tồn tại được và đẩy lui bảy lần tấn
công của họ Trịnh mà còn có thể mở rộng biên giới của mình sâu
xuống phía nam, tới tận đồng bằng sông Cửu Long. Phải chăng
do ngẫu nhiên mà một lực lượng ra đời trong một môi trường
mới đã không chỉ tồn tại mà còn chiến thắng trong khi các lực
lượng khác trụ lại trong môi trường quen thuộc lại thất bại?
Chúng ta thử đánh dấu trên bản đồ lịch sử Việt Nam địa
điểm các sự kiện quan trọng diễn ra từ đầu thế kỷ 15 đến năm
1802, chúng ta sẽ thấy là các sự kiện này đã tuần tự diễn ra
theo chiều hướng tiến dần xuống phía nam. Lê Lợi khởi binh
ở Thanh Hóa, phía nam đồng bằng sông Hồng vào đầu thế kỷ
15. Nguyễn Kim nổi lên chống lại nhà Mạc trong vùng Thanh
Hóa và Nghệ An năm 1533. Nguyễn Hoàng bắt đầu gây thân
thế ở Quảng Trị năm 1558. Tây Sơn khởi nghĩa tại Quy Nhơn
năm 1771 và Nguyễn Ánh thiết lập căn cứ trong vùng Gia Định
vào những năm 80 của thế kỷ 181. Tất cả các sự kiện này nằm
1
Tạ Chí Đại Trường bàn đến vấn đề này trong cuốn Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, Văn Sử Học, Sài Gòn,
1973, trg. 38.
www.hocthuatphuongdong.vn
16
XỨ ĐÀNG TRONG
trong quá trình rộng lớn của cuộc Nam tiến, sự phát triển của
Việt Nam về phía nam.
Sự phát triển dần dần xuống phía nam này đã tạo nên một
vùng đất, nơi đó Khổng giáo, một ý thức hệ đã chiếm địa vị
thống trị ở phía bắc từ triều Lê Thánh Tông, đã không được đề
cao, thậm chí, về căn bản, hầu như không được biết đến. Điều
này xem ra cho phép nghĩ tới một vùng biên nhiều hứa hẹn đối
với sự phát triển của các lực lượng chính trị mới. Họ Nguyễn
mà chúng ta sẽ tìm hiểu trong luận án này quả đã tạo nên được
một bối cảnh như thế cho lịch sử Việt Nam.
Từ thế kỷ 17, đồng bằng sông Hồng đã không còn là trung
tâm duy nhất của văn minh Việt Nam. Một bức tranh hoàn toàn
mới đã được phác họa. Ngoài Thăng Long, một trung tâm mới
là Huế đã xuất hiện. Ngoài đồng bằng sông Hồng, một vùng
kinh tế khác đã hình thành. Đó là vùng Thuận Quảng. Đây
không đơn thuần là vùng kinh tế cũ được mở rộng ra. Đúng
hơn, chúng ta đang đứng trước một vùng đất mới đang phát
triển với một bối cảnh văn hóa khác và một dân cư hoạt động
trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác. Khi người Việt ở phía
nam chấp nhận những cái tên mới họ đặt cho hai miền - vùng
ở “trong” (Đàng Trong) chỉ vùng đất của họ và vùng ở “ngoài”,
(Đàng Ngoài)1 chỉ phía bắc - thì rõ ràng là đã có sự khác biệt
giữa hai miền Nam, Bắc. Sự khác biệt này mang một ý nghĩa
quan trọng: từ nay, sẽ có hai cách thức làm người Việt Nam khác
nhau. Sự khác biệt giữa hai tên gọi này còn cho thấy một cách
rõ ràng là hai miền đất tuy có khác nhau, nhưng đối với người
ở phía nam, hai miền này cũng phải được coi là bình đẳng.
1 Hai từ này xuất hiện trong Dictionarivm Annamiticvm, Lvsitanvm, et Latinvmope, Typis. &
Sumptibus eiusdem Sacr. Congreg, Rome, 1651, trg. 201. Các từ này dường như do người ở phía nam
tạo ra vào thập niên 1620.
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP 17
Đây là một thay đổi căn bản và đầy ấn tượng trong lịch sử
Việt Nam. Về tầm quan trọng, sự kiện này có thể sánh với việc
Việt Nam giành được độc lập từ tay Trung Hoa vào thế kỷ 10.
Thoạt nhìn, sự kiện có dáng dấp một câu chuyện về một dòng
họ đã có thể tồn tại và triển nở về mặt chính trị sau khi đã đánh
mất quyền hạn đang có ở triều đình tại Thăng Long. Nhưng về
bản chất, đây lại là một sự kiện đã dẫn đến việc thành lập một
hệ thống nhà nước mới và một nền văn hóa mới phồn thịnh1.
Những thay đổi diễn ra trong hai thế kỷ chắc chắn đã đóng
một vai trò tích cực trong nền văn hóa Việt Nam.
Sự đoàn kết dân tộc và cuộc kháng chiến chống ngoại xâm là
hai chủ đề trọng tâm của Việt Nam thời hiện đại. Tiếc thay, cuộc
thử nghiệm của họ Nguyễn đã đi ngược lại cả hai chủ đề này.
Thứ nhất, chế độ họ Nguyễn đã phá đổ sự thống nhất quốc gia
trong 200 năm. Thứ đến, Nguyễn Ánh đã đánh bại cuộc “khởi
nghĩa” Tây Sơn, với sự giúp đỡ của “thực dân phương Tây”.
Có lẽ do đó mà một số nhà viết sử của Việt Nam có khuynh
hướng hạ thấp lịch sử Đàng Trong. Vương quốc họ Nguyễn
thường được xem như một biến thể có tính địa phương của
triều Lê và của nền văn hóa theo Nho giáo, không khác Đàng
Ngoài là mấy2. Người ta có khuynh hướng bàn về một nước “Đại
Việt” duy nhất với những “nét đặc trưng chung Việt Nam” ngay
cả vào các thế kỷ 17 và 183. Nhưng, như sẽ được trình bày trong
công trình nghiên cứu này, chúng tôi lại hoàn toàn nghĩ khác:
vào thời đó, không chỉ có hai nước “Đại Việt” mà còn có thể
1
2
3
Từ 1600, Nguyễn Hoàng quyết định tự mình đi theo con đường của mình mà không tham khảo ý kiến
của triều đình. Dòng dõi của ông đã kiên trì đi theo con đường này của ông.
Về dung mạo Nho giáo của họ Trịnh ở phía bắc, xem Keith Taylor, “The literati revival in seventeenthcentury Viêtnam”, Journal of Southeast Asian Studies, no.1, bộ XVIII, 1987.
Thái độ này cũng có thể tìm thấy nơi một số nhà nghiên cứu ngoại quốc. Xem, chẳng hạn, Insun Yu's
Law and Society in Seventeenth and Eighteenth Century Vietnam, Asiatic Research Center, Korea
University, Seoul, 1990.
www.hocthuatphuongdong.vn
18
XỨ ĐÀNG TRONG
nói, vương quốc ở phía nam có những điểm riêng biệt làm cho
nền văn hóa Việt Nam, trong tương lai xa, phong phú thêm rất
nhiều. Bởi vậy, trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi có
khuynh hướng chú trọng tới những thay đổi và khác biệt hơn
là tới tính liên tục và những điểm giống nhau, để qua đó làm rõ
tầm quan trọng của Đàng Trong trong lịch sử Việt Nam.
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam đã viết về lịch sử chính
trị của hai thế kỷ chia cắt này, hoặc bằng tiếng Việt hoặc bằng
tiếng Pháp1. Một số tác giả phương Tây cũng đã viết về lịch sử
chính trị của Việt Nam trong những năm này2. Không cần sao
chép lại ở đây những gì các tác giả này đã viết. Nhưng thay vào
đó, và cũng là điều chúng tôi quan tâm, chúng tôi sẽ chú trọng
chủ yếu vào một số đặc điểm kinh tế, xã hội và văn hóa của xã
hội Đàng Trong, theo chúng tôi nghĩ, đã giúp Đàng Trong có
được những thành công lâu dài về mặt chính trị dù phải ở trong
những điều kiện không mấy thuận lợi.
Một điểm khác nữa cần được nêu lên ở đây, đó là trong một
thời gian khá dài, người ta chỉ biết đến miền đất này qua tên gọi
bằng tiếng châu Âu là Cochinchina. Và cách thức người Pháp sau
đó sử dụng tên gọi này đã làm người ta dễ lẫn lộn về mặt nội
dung. Aurousseau và Lamb đã lưu ý: Cochinchina, từ giữa thế
kỷ 19 trở về trước, chỉ miền Trung của Việt Nam hiện nay, và
từ giữa thế kỷ 19 trở về sau, chỉ miền Nam Việt Nam3. Lần đầu
1
2
3
Chẳng hạn, Lê Thành Khôi, Le Viêt Nam, les Editions de Minuit, Paris, 1955, và Histoire du Viêt Nam
des origines à 1858, Sudestasie, Paris, 1981; Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Khai Trí, Sài Gòn,
1969; và Tạ Chí Đại Trường, Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, Văn sử học, Sài Gòn, 1973.
Joseph Buttinger, The Smaller Dragon, Praeger, New York, 1958; Jean Chesneaux, Contribution à
l'histoire de la nation Viêtnamienne, Editions sociales, Paris, 1954. Keith Taylor, “Nguyễn Hoàng and
the beginning of Việt Nam's southward expansion”, trong Southeast Asia in the Early Modern Era,
Anthony Reid chủ biên, Ithaca, Cornell University Press. Đây có lẽ là đóng góp mới và quan trọng nhất
để hiểu lịch sử họ Nguyễn.
L.Aurousseau, “Sur le nom de 'Cochinchine' ”, BEFEO, tập 24, 1924, trg. 563-566; A. Lamb, The mandarin
Road to old Hue, Chatto & Windus, London (1970), trg. 12. Lamb đồng hóa Cachao, một địa danh theo
tiếng Bồ Đào Nha, với Hà Nội. Tác giả lập luận Cachao là từ Giao Chỉ mà ra. Tuy nhiên, Cachao đúng
www.hocthuatphuongdong.vn
DẪN NHẬP 19
tiên chúng ta bắt gặp tên gọi Cochinchina này có lẽ là trong Tom
Pires vào năm 1515. Đất nước ông muốn ám chỉ đến dưới tên
gọi Cauchy hay Cauchy China chính là Việt Nam1. Aurousseau
cho ta hiểu là người Bồ Đào Nha đã tạo nên tên gọi này từ từ
Kuchi của tiếng Mã Lai. Nhưng một số tác giả khác lại cho rằng
từ Cochin có thể là do cách người Nhật đọc từ Giao Chỉ của
tiếng Hán. Nhưng cho đến giữa thế kỷ 16, giữa người Nhật và
Cochinchina chưa có các quan hệ buôn bán đáng kể, nên giả
thuyết của Aurousseau vẫn còn đứng vững.
Trong luận án, chúng tôi sử dụng lẫn lộn các từ Cochinchina
và Đàng Trong, vì cả hai tên gọi này, vào thế kỷ 17 và 18, cùng
chỉ một vùng đất mà thôi. Điều chúng tôi chú trọng không phải
là tìm xem tên gọi nào thích hợp nhất đối với vùng đất này mà
là các tên gọi này luôn được dùng để chỉ một “vùng đất mới”
trong lịch sử Việt Nam2. Và công trình nghiên cứu này tập trung
trọn vẹn vào vùng đất mới đó.
1
2
hơn là Cacciam (hay Kẻ Chiêm theo tiếng Việt), nơi trấn thủ Quảng Nam ở vào thời kỳ này, ngày nay
là làng Thanh Chiêm. Xem Phạm Đình Khiêm, “Đi tìm địa điểm và di tích hai thành cổ Quảng Nam và
Phú Yên đầu thế kỷ 17”, Việt Nam khảo cổ tập san, Bộ Quốc gia Giáo dục, Sài Gòn, 1960, tập 1, trg.
83. Theo Manguin, trong Les Portugais sur les cotes du Viêt Nam et du Campa, trg. 185, thì Cachao
nằm trong Quảng Nam.
The Suma Oriental of Tome Pires, The Hakluyt Society, Lessing-Druckerei-Wiesbaden, 1967, trg. 114:
“Vương quốc nằm giữa Champa và Trung Hoa”.
Giống như từ “phía nam” trong lịch sử Việt Nam. Từ “nam” ở Việt Nam đã thay đổi theo phong trào tiến
xuống phía nam của người Việt Nam. Thuận Hóa, ngày nay nằm ở miền Trung Việt Nam, đã được coi
là phía “nam” khi bắt đầu cuộc Nam tiến, bởi vì nằm ở phía nam ranh giới phía nam cũ của nước Đại
Việt. Đại Nam thực lục tiền biên 1559: “Thanh Hóa và Nghệ An bị lụt, dân lưu tán nhiều vào nam”. Từ
“nam” ở đây chỉ vùng Thuận Hóa và Quảng Nam. Từ “trung” xem ra chỉ xuất hiện từ thế kỷ 19. Việc cải
cách hành chánh dưới triều Minh Mạng (1831) đã tạo ra Trung kỳ, mặc dù Gia Long đã ngầm tạo ra
một “trung tâm” khi thành lập các đơn vị hành chánh Bắc Thành và Gia Định Thành.
www.hocthuatphuongdong.vn
CHƯƠNG 1
VÙNG ĐẤT MỚI
Địa hình
Vùng đất mới đối với người Việt Nam này chủ yếu là một dải
đất dài và hẹp, nằm giữa núi và biển. Địa hình của vùng đất này
có hai đặc điểm: thứ nhất là dãy Trường Sơn, phủ đầy rừng rậm,
chạy suốt chiều dài của nước này, và càng xuống phía nam càng
thấp dần. Thứ hai là dãy núi đã bị nhiều con sông nước chảy
mạnh và mũi núi cắt ngang làm thành một số lưu vực nhỏ và
hẹp, ít gắn với nhau về mặt địa lý. Xét về mặt hình thể, vương
quốc cũ được thiết lập trên vùng đất này có vẻ như bao gồm
một số vùng định cư biệt lập với nhau, được cho thấy qua sự
tập hợp các di tích cổ tại các thung lũng không có đường thông
thương với nhau. Bộ sách Chư phiên chí của một nhà du lịch
người Trung Hoa vào thế kỷ 13 cũng gợi cho người ta nghĩ như
thế. Trong quyển một của bộ sách này, vương quốc này được
tả là có 11 quốc gia chư hầu, nhưng đúng hơn, phải hiểu là 11
vùng định cư biệt lập nhau. Và do đó, điều làm chúng ta ngạc
www.hocthuatphuongdong.vn
VÙNG ĐẤT MỚI 21
nhiên là họ Nguyễn đã tìm được cách thiết lập và duy trì được
một quốc gia thống nhất trong nhiều thế kỷ trên cái “vùng đất
rời rạc nhất thế giới” ấy, như Gourou sau này nhận định1.
Vùng đất mới này có thể được chia thành ba vùng tự nhiên
khác nhau. Hai vùng đầu có những diện tích tương đối rộng
thích hợp với nông nghiệp. Vùng thứ nhất2, ngày nay là Quảng
Nam, là một đồng bằng phì nhiêu, khoảng 1.800 cây số vuông.
Nước do sông Thu Bồn và nhiều nhánh của con sông này cung
cấp. Vùng thứ hai tương ứng với đồng bằng Bình Định trù phú
ngày nay, có diện tích là 1.550 cây số vuông, có hai dãy núi khác
nhau bao quanh. Hai thung lũng của vùng đất này sử dụng nước
của hai con sông Đà Rằng và Lai Giang. Vùng thứ ba gồm ba
thung lũng3 thông thương với nhau một cách dễ dàng, một vùng
khác biệt, các sách của Trung Hoa được viết trong thời kỳ từ
thế kỷ 8 đến thế kỷ 10 coi đây như là một quốc gia riêng biệt4.
Đèo Hải Vân nằm giữa Huế và Đà Nẵng tạo thành một lằn
ranh khí hậu: phía bắc đèo là vùng khí hậu pha trộn giữa nhiệt
đới và cận nhiệt đới, có một mùa đông rõ rệt kéo dài từ 3 đến 4
tháng. Khí hậu phía nam mang tính cách một khí hậu giữa hai
chí tuyến5. Dãy Trường Sơn ở phía bắc thường hẹp và gồ ghề,
nhưng ở phía nam thì lại có chiều nở rộng tạo thành một cao
nguyên, thường được gọi là Tây nguyên hay Cao nguyên Trung
phần, có diện tích khoảng 20.000 dặm vuông (100 dặm chiều
rộng và 200 dặm chiều dài). Vùng cao nguyên này thường được
dùng làm nơi trú ẩn. Một dân tộc bị một nhóm người có vũ
1 Gourou, The Peasants of the Tongking Delta, Human Relations Area Files, New Haven, 1955, tập 1,
trg.3.
2 Minh thực lục gọi địa điểm này là A-mu-la-bu, trong khi đó Chư phiên chí lại gọi là Wu-ma-ba.
3 Ba thung lũng này là: Nha Trang, nước do sông Cái cung cấp; Phan Rang, nước do sông Dinh, chảy từ
cao nguyên Lâm Viên ra biển; Phan Rí và Phan Thiết, do sông Lũy và sông Cái.
4 Chư phiên chí gọi là Tân Đông Long (?), Lĩnh Ngoại Đại Đáp, quyền 2, gọi là Tân Đà Lĩnh (?), Tống sử,
quyển 489, gọi là Núi Tân Đà Long, Tân Đường Thư, quyển 43, gọi là Bản Đà Long (?).
5 Vietnam - Geographical Data, Hanoi, 1979, trg. 34.
www.hocthuatphuongdong.vn
22
XỨ ĐÀNG TRONG
trang mạnh hơn đánh bại có thể kéo lên lẩn trốn ở đây để duy
trì một sự tự trị nào đó. Trường hợp đầu tiên có lẽ là trường
hợp các dân tộc được gọi là Mọi. Họ bị người Chăm xua đuổi
khỏi đồng bằng. Kế đó đến lượt một số đông người Chăm. Họ
phải rút lên đây trước sức ép của người Việt.
Champa sau 1471
Các nguồn tư liệu mới được nghiên cứu1 còn cho thấy rằng,
không như người ta tưởng trước đây, dân cư của vương quốc
này bao gồm không chỉ những người thuộc dân tộc Chăm mà
cả các nhóm dân nói tiếng Austronesia như Jarai, Rhađê, Churu,
và Roglai và các nhóm dân nói tiếng Austroasiatic như Mnong
và Stiêng. Đây là một phát hiện rất quan trọng: nó đảo lộn cách
hiểu của chúng ta về Champa. Trước đây, các nhà nghiên cứu
đã đi theo con đường đã được vạch ra trong công trình nghiên
cứu đầu tiên của Aymonier về vùng này. Trong công trình này,
tác giả đã áp dụng một mô hình “quốc gia” không thích hợp
cho rằng Champa là lãnh thổ của người Chăm, theo kiểu nước
Pháp là lãnh thổ của người Pháp. Nhưng, như Po Dharma mới
đây cho thấy, từ nguyên học của từ “cam” không dính dáng gì
tới “Campa” cả, về mặt lịch sử cũng như về mặt dân tộc học.
Trong khi “cam” có nghĩa là người Chăm, thì “Campa”, trong
“nagara Campa” - tên do chính người dân đặt cho vương quốc
1
Trừ các phần có ghi rõ, đoạn này tóm tắt việc nghiên cứu gần đây nhất. Xem cách riêng Po Dharma,
Le Panduranga (Campa) 1802-1835. Ses rapports avec le Vietnam (Paris: EFEO, 1987), 2 tập; Actes
du Séminaire sur le Campa organisé à L'Université de Copenhague, le 3 Mai 1987, (Paris: Travaux
du Centre d'Histoire et Civilisations de la Péninsule indochinoise, 1988), cách riêng Bernard Gay,
“Une nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, tr. 49-56 và Po Dharma, “État des dernières
recherches sur la date de l'absorption du Campa par le Vietnam”, tr. 59-70. Cũng xem Pierre-Bernard
Lafont, “Le grandes dates de l'histoire du Campa”, trong Le Campa et le Monde Malais (Paris: Centre
d'Histoire et Civilisations de la Péninsule indochinoise, 1991), tr. 6-25.
www.hocthuatphuongdong.vn
VÙNG ĐẤT MỚI 23
của họ - lại ám chỉ một liên minh bao gồm người Chăm và
người cao nguyên1.
Trong các bia ký cũng như trong các tài liệu lịch sử bằng
tiếng Chăm muộn thời đều không thấy có sự phân biệt giữa
người dân đồng bằng với người dân miền núi. Các tài liệu này
sử dụng cùng một tên gọi, “urang Campa”, để chỉ tất cả người
dân nagara Campa, bất luận họ ở đâu. Quả thật, nhiều vua
Champa vào thời sau này là người gốc miền núi, điều mà các
sử gia cho tới gần đây đã không nhận ra do không quan tâm
tới các tài liệu bằng tiếng Chăm muộn thời. Trong số các vị vua
này, người nổi tiếng nhất của thời sau 1471 là Po Ram (hay Po
Rame). Ông vua này trị vì từ 1627 đến 1651. Theo nguồn gốc,
ông là một người Churu, một thành viên của dân miền núi có
tổ tiên sinh ra từ các cuộc hôn nhân giữa các nhóm người Chăm
tỵ nạn và các dân địa phương Roglai và Koho2. Mười bốn vua
thuộc dòng dõi của vị vua này đã cai trị nagara Campa cho tới
năm 1786. Hôn nhân với người cao nguyên đã trở nên thông
thường trong hoàng tộc: người con nổi tiếng nhất của Po Rame,
Po Saut, lên ngôi năm 1655, là con của một bà vợ người Rhađê
(hay Koho). Thêm vào đó, các thực lục và lưu trữ của triều
đình có nhắc tới nhiều viên chức cao cấp tại triều đình cũng
như trong hành chánh là người cao nguyên. Có đến 12 người
là người cao nguyên nằm trong số những người được tôn thờ
như là thần trong thần điện tại Kate, trong nghi lễ cúng bái đầu
tiên của năm, khi mọi người dân đều tưởng nhớ tới những nhân
vật lớn của nagara Campa. Vào dịp cúng bái này, những người
canh giữ kho tàng quý báu của Champa, tất cả đều là người cao
Xem Bernard Gay, “Une nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, trong Actes du Séminaire
sur le Campa organisé à l'Université de Copenhague, le 23 mai 1987, travaux du Centre d'Histoire
et Civilisations de la Péninsule indochinoise, Paris, 1988, trg. 50.
2 Hickey, Sons of the Mountains, trg. 113.
1
www.hocthuatphuongdong.vn
24
XỨ ĐÀNG TRONG
nguyên, đã trưng các vật quý báu cho người ta tôn kính. Nhiều
vật quý trong số này đã được cất giữ tại vùng cao nguyên cho
tới thời Pháp thuộc1.
Tất cả các thông tin mới này cho thấy rằng, duy nhất trong
lục địa Đông Nam Á, nagara Campa là “một nước đa dân tộc
trong đó mọi nhóm dân tộc đều có các quyền bình đẳng”2.
Cuộc Nam tiến trước thời các chúa Nguyễn
Cuộc Nam tiến không đơn thuần là một quá trình diễn ra
theo đường thẳng, như người ta thường nghĩ, được quyết định
trước qua đó “Việt Nam” của thế kỷ thứ 10 trở thành “Việt Nam”
ngày nay mà đúng hơn, là một loạt những sự kiện khác nhau
nhằm đáp ứng những hoàn cảnh hay cơ hội riêng biệt, đôi khi
do những sự tình cờ ít nhiều có tính cách quân sự quyết định3.
Trong khi các hình thức muộn thời của cuộc Nam tiến có
mục đích là chiếm đất, các biến cố được coi như là những
bước đầu của cuộc Nam tiến4 lại nhằm vào việc bắt người và
lấy của, một hình thức tiêu biểu của chiến tranh tại Đông Nam
Á. Chẳng hạn, vào năm 982, khi Lê Hoàn mở cuộc tấn công
Champa, ông đã bắt giữ 100 cung phi Chăm và chiếm kho tàng
của nhà vua Champa5. Những cuộc viễn chinh tương tợ, tuy ở
mức độ nhỏ hơn, có thể đã diễn ra lâu dài. Chẳng hạn, sử Việt
Nam ghi lại việc thả 360 tù binh người Chăm bị giam giữ ở
1
2
3
4
5
Ibid, trg. 106-07.
Bernard Gay, “Une nouvelle sur la composition ethnique du Campa”, trg. 55.
Về cuộc trao đổi gần đây nhất liên quan tới cụm từ “Nam tiến”, xem Keith Taylor, “Regional Conflicts
among the Viet Peoples between the 13th and 19th centuries”, tại cuộc Hội thảo về “La conduite des
relations entre sociétés et Etats: Guerre et paix en Asie de Sud-est”, Paris, tháng 7. 1996, trg. 6-11.
Xem Trương Bá Phát, “Lịch sử cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam”, Sử Địa, số 19 và 20, 1970.
Toàn thư, quyển 1, trg. 189.
www.hocthuatphuongdong.vn
VÙNG ĐẤT MỚI 25
Thăng Long vào năm 9921, sử này cũng ghi nhận những cuộc
ruồng bố tương tợ của người Việt ở vùng biên giới Trung-Việt
vào năm 995, bắt giữ một số tù nhân người Trung Hoa2. Đúng
thế, trong nhiều thế kỷ sau, những người Chăm bị bắt trong
chiến tranh và dòng dõi của họ thường chiếm một tỷ lệ khá
lớn trong số những người dân sinh sống gần thủ đô Việt Nam.
Nhưng người Chăm cũng không chịu ngồi yên. Trong giai đoạn
từ 979 đến 997, họ cũng đã thực hiện nhiều cuộc ruồng bố tại
thủ đô của n...
 





