BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg

    Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học

    Việt sử toàn thư

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:53' 05-04-2024
    Dung lượng: 2.1 MB
    Số lượt tải: 8
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Table of Contents
    Mục lục
    Mục Lục:
    Lời Giới Thiệu Lời Tác Giả:
    Phần 1 – Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Phần 2 – Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Chương Vi
    Chương Vii
    Chương Viii
    Chương Ix
    Phần 3 – Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Chương Vi
    Chương Vii
    Chương Vii (Tt)
    Chương Viii
    Chương Ix
    Chương X

    https://thuviensach.vn

    Chương X (Tt):
    Chương Xi
    Chương Xii
    Chương Xiii
    Chương Xiv
    Chương Xv
    Chương Xvi
    Chương Xvii
    Chương Xviii
    Chương Xix
    Chương Xx
    Chương Xxi
    Chương Xxii
    Phần Iv -Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Phụ Lục:

    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Mục Lục:
    Lời Giới Thiệu & Lời Tác Giả:
    Phần 1 – Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Phần 2 – Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Chương Vi
    Chương Vii
    Chương Viii
    Chương Ix
    Phần 3 – Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Chương Vi
    Chương Vii
    Chương Vii (Tt)
    Chương Viii
    Chương Ix
    Chương X
    Chương X (Tt):
    Chương Xi
    Chương Xii
    Chương Xiii
    Chương Xiv
    Chương Xv
    Chương Xvi
    Chương Xvii
    Chương Xviii
    Chương Xix
    Chương Xx

    https://thuviensach.vn

    Chương Xxi
    Chương Xxii
    Phần Iv -Chương I
    Chương Ii
    Chương Iii
    Chương Iv
    Chương V
    Phụ Lục:

    https://thuviensach.vn

    VIỆT SỬ TOÀN THƯ
    Phạm Văn Sơn
    www.dtv-ebook.com

    Mục Lục:
    Phần Thứ Nhất
    Chương 1 - Khái luận về xã hội Việt Nam xưa và nay
    1- Địa lý thiên nhiên - 2. Người Việt Nam - 3. Gốc tích.
    Chương 2 - Đời sống thượng cổ của dân tộc Việt Nam
    Chương 3 - Nhà Hồng Bàng (2879 - 258 tr. T. L.)
    1. Truyền thuyết về nhà Hồng Bàng -- 2. Nước Văn Lang
    Chương 4 - Nhà Thục (257 - 207 tr. T. L.)
    Chương 5 - Xã hội Trung Hoa trong thời thượng cổ
    Xã hội và văn hóa - 2. Trật tự xã hội và gia đình - 3. Việc quan chế - 4.
    Pháp chế - 5. Binh chế - 6. Điền chế - 7. Học chính - 8. Khổng Tử - 9. Lão
    Tử -- 10. Trang Tử - 11. Tuân Huống.
    Phần Thứ Hai Bắc
    Thuộc Thời Đại
    Chương 1 - Nhà Triệu (Bắc thuộc lần thứ I 207-111 tr. T. L.)
    1. Chỗ rẽ của lịch sử Âu Lạc - 2. Chính trị của Triệu Đà - 3. Nam Việt
    và Tây Hán - 4. Xã hội Việt Nam dưới thời Triệu Đà - 5. Những vua kế
    nghiệp Triệu Đà - 6. Đế quốc Việt Nam xụp đổ - 7. Công tội của Thái Phó
    Lữ Gia (Phê bình của Ngô Thời Sĩ).

    https://thuviensach.vn

    Chương 2 - Nhà Tây Hán (Bắc thuộc lần II 111 tr. T. L. - 39 T. L.)
    1. Đơn vị hành chánh trên đất Giao Chỉ - 2. Bộ máy cai trị ở đất Giao
    Châu. Chương 3 - Nhà Trưng (40 - 43)
    1. Phần cờ nương tử - 2. Nhà Đông Hán phục thù - 3. Tính chất cách
    mạng của cuộc khởi nghĩa năm Canh Tý.
    Chương 4 - Bắc thuộc lần III (43 - 544 Đông Hán - Nam Bắc triều)
    Cuộc cải cách của Mã Viện trên đất Giao Châu
    Chương 5 - Người Việt Nam học chữ Tàu
    1. Việc truyền bá Hán học - 2. Ảnh hưởng Phật đồ với nền văn học của
    chúng ta -3. Phật Giáo - 4. Một điều sai lầm về Sĩ Nhiếp.
    Chương 6 - Cuộc cách mạng phản Đế lần thứ hai của dân Giao Chỉ
    1. Bà Triệu chống quân Đông Ngô -- 2. Lâm Ấp quấy phá Giao Châu.
    Chương 7 - Nhà Tiền Lý (544 - 602)
    1. Lý Nam Đế (544 - 548) - 2. Hậu Lý Nam Đế (571 - 602).
    Chương 8 - Bắc thuộc lần IV (603 - 939)
    1. Nhà Tùy đánh Lâm Ấp - 2. Nhà Đường đối với An Nam - 3. Mai Hắc
    Đế khởi nghĩa (722) - 4. Giặc Côn Lôn và Đồ Bà -- 5. Bố Cái Đại Vương 6. Cuộc xâm lăng Giao Châu của Nam Chiếu - 7. Sự thất bại của Nam
    Chiếu và sự nghiệp của Cao Biền.
    Chương 9 - Cuộc tranh đấu của dân tộc Việt Nam từ họ Khúc đến họ
    Ngô Trận thủy chiến đầu tiên của Việt Nam.
    Phần Thứ Ba
    https://thuviensach.vn

    Việt Nam Trên Đường Độc Lập (939)
    Chương 1 - Nhà Ngô (939 - 965)
    Chương 2 - Nhà Đinh (968 - 980)
    1. Đinh Tiên Hoàng - 2. Đinh Phế Đế.
    Chương 3 - Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
    1. Lê Hoàn đánh Tống - 2. Việc ngoại giao - 3. Việc đánh Chiêm Thành
    - 4. Sự mở mang trong nước - 5. Cái án Lê Hoàn và Dương Hậu.
    Chương 4 - Các vua kế tiếp Lê Đại Hành
    I. Lê Trung Tông (1005)
    II. Lê Ngọa Triều (1005 - 1009)
    1. Việc ngoại giao với Bắc Triều - 2. Sự tàn ác của Ngọa Triều - 3. Vụ
    âm mưu cướp ngôi nhà Tiền Lê.
    Chương 5 - Nhà Hậu Lý (1010 - 1225)
    I. Lý Thái Tổ (1010 - 1028)
    II. Lý Thái Tông (1028 - 1054)
    1. Việc chính trị - 2. Việc quân sự - 3. Dẹp Chiêm Thành.
    III. Lý Thánh Tông (1054 - 1072)
    1. Việc mở mang Phật Giáo và Nho Giáo -- 2. Đánh Chiêm Thành.
    IV. Lý Nhân Tông (1072 - 1127)

    https://thuviensach.vn

    1. Vụ tranh dành quyền vị -- 2. Việc chính trị -- 3. Việc đánh Tống -- 4.
    Cuộc phục thù của nhà Tống -- 5. Đánh Chiêm Thành.
    V. Lý Thần Tông (1128 - 1138)
    VI. Lý Anh Tông (1138 - 1175)
    1. Đỗ Anh Vũ và Tô Hiến Thành -- 2. Việc ngoại giao.
    VII. Lý Cao Tông (1176 - 1210)
    VIII. Lý Huệ Tông (1211 - 1225)
    IX. Lý Chiêu Hoàng (1225)
    Chương 6 - Khái niệm về Phật giáo và văn học dưới đời nhà Lý Chương
    7 - Nhà Trần (1225 - 1413) -- Nước Việt Nam dưới đời Trần Sơ
    I. Trần Thái Tông (1225 - 1258)
    1. Tàn sát họ Lý. - 2. Việc đảo lộn nhân luân. - 3. Việc đánh dẹp trong
    nước. - 4. Những công cuộc cải cách. - 5. Việc binh chế và lực lượng quân
    đội dưới đời Trần - Sơ. - 6. Kinh tế và xã hội. --7. Phong tục. - 8. Văn hóa. 9. Cuộc chiến tranh tự vệ thứ nhất của Việt Nam.
    II. Trần Thánh Tông (1258 - 1278)
    1. Việc chính trị. - 2. Việc ngoại giao với Mông Cổ.
    III. Trần Nhân Tông (1279 - 1293)
    A - Mông Cổ gây hấn lần thứ hai
    1. Việc ngoại giao tan vỡ. - 2 Huyết chiến giữa Việt Nam và Mông Cổ. Hội Nghị Bình Than (1282). - Hội Nghị Diên Hồng (1284). - Quân Nam rút
    theo kế hoạch. - Hội nghị quân sự Vạn Kiếp. III Mông Cổ tấn công. - Mặt
    https://thuviensach.vn

    trận Đông Nam. - Cuộc tổng tấn công của Việt Nam. Việt Nam thu phục
    Thăng Long. - Trận Tây Kết. - Trận Vạn Kiếp.
    B- Mông Cổ tấn công lần thứ hai (1287)
    I Trận Vân Đồn. II Trận Bạch Đằng. III Việc truy kích Thoát Hoan. IV
    Cuộc giảng hòa. V Chiến pháp của Hưng Đạo Vương.
    IV. Trần Anh Tông (1293 - 1314)
    Việc gả Huyền Trân cho Chế Mân
    V. Trần Minh Tông (1314 - 1329)
    VI. Trần Hiến Tông (1329 - 1341)
    Giặc Ngưu Hống và giặc Lào
    VII. Trần Dụ Tông (1341 - 1369)
    1. Việc chính trị. - 2. Việc giao thiệp với Trung Hoa. - 3. Việc giao thiệp
    với Chiêm Thành. - 4. Dụ Dương Nhật Lễ.
    VIII. Trần Nghệ Tông (1370 - 1372)
    Tiểu sử Hồ Quý Ly.
    IX. Trần Duệ Tông (1372 - 1377)
    X. Trần Phế Đế (1377 - 1388)
    1. Việc giao thiệp với nhà Minh. -- 2. Chiêm Thành tấn công Thăng
    Long. -- 3. Âm mưu trừ Hồ Quý Ly thất bại.
    XI. Trần Thuận Tông (1388 - 1398)

    https://thuviensach.vn

    Chế Bồng Nga tử trận. - 2. Cuộc cách mạng của Hồ Quý Ly: Cải cách
    chính trị. Cải cách quân sự. Cải cách kinh tế. Cải cách xã hội. Cải cách văn
    hóa. - 3. Cuộc đảo chính Hồ Quý Ly.
    Chương 8 - Nhà Hồ (1400 - 1407)
    Hồ Quý Ly (1400) II. Hồ Hán Thương (1400 - 1407)
    Cuộc giao tranh giữa nhà Hồ và nhà Minh. - Thành Đa Bang thất thủ. Trận Mộc Phàm Giang. - Trận Hàm Tử Quan. - Nguyên nhân thất bại của
    Hồ Quý Ly. - 2. Hồ Quý Ly có làm mất nước không?
    Chương 9 - Bắc thuộc lần thứ năm - Nhà Hậu Trần (1407 - 413)
    1. Chính sách thống trị của nhà Minh. - 2. Giản Định Đế khởi nghĩa
    (1407 - 1409).
    - 3. Trần Quý Khoách (1409 - 1413)
    Chương 10 - Nhà Hậu Lê. Lê Lợi chấm dứt chế độ Minh thuộc (1417 1427)
    1. Giai đoạn đen tối. - 2. Giai đoạn tươi sáng. - 3. Cuộc tổng phản công
    của giặc Minh (Mặt trận miền Bắc). - 4. Trận Tuy Động. - 5. Việt quân
    phong tỏa Đông Đô. - 6. Trận chi Lăng. - 7. Quân Minh xin hòa giải. - 8.
    Việc cầu phong.
    Nhà Hậu Lê (1428 - 1527)
    I. Lê Thái Tổ (1428 - 1433)
    1. Học chính. - 2. Luật pháp. - 3. Hành chánh. - 4. Cải cách điền địa. - 5.
    Binh chế. - 6. Việc giết công thần.
    II. Lê Thái Tông (1434 - 1442)

    https://thuviensach.vn

    Cái án Lê Chi Viên (1442)
    III. Lê Nhân Tông (1443 - 1459)
    IV. Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
    1. Việc chính trị. - 2. Tổ chức hương thôn. - 3. Việc đình. - 4. Hành
    chính. - 5. Quan chế. - 6. Thuế đinh. - 7. Thuế điền thổ. - 8. Nông nghiệp. 9. Luật pháp
    bảo vệ nhân quyền. -- 10. Quyền lợi xã hội. -- 11. Tổ chức võ bị. -- 12.
    Võ công đời Hồng Đức. - 13. Văn trị đời Hồng Đức.
    V. Lê Hiến Tông (1497 - 1504)
    VI. Lê Túc Tông (1504 1505)
    VII. Lê Uy Mục (1505 - 1509)
    VIII. Lê Tương Dực (1510 - 1516)
    IX. Lê Chiêu Tông
    X. Lê Cung Hoàng (1516 - 1527)
    Chương 11 - Nhà Mạc (1527 - 1667)
    Mạc Đăng Dung (1527 - 1529)
    1. Tình trạng Việt Nam đầu thế kỷ XVI. - 2. Tiểu sử Mạc Đăng Dung. 3. Vụ Trần Thiêm Bình thứ hai. - 4. Một cuộc chiến tranh tâm lý. - 5.Vụ án
    Mạc Đăng Dung.
    Chương 12 - Loạn phong kiến Việt Nam. Nam Bắc triều (1527 - 1592)

    https://thuviensach.vn

    Trịnh Kiểm và Nguyễn Kim. - 2. Biến cố tại Nam triều. - 3. Thất bại của
    Bắc triều.
    Chương 13 - Nước Việt Nam từ Bắc vào Nam (1674 - 1775)
    1. Họ Trịnh làm chúa miền Bắc. - 2. Họ Nguyễn xưng hùng phương
    Nam.
    Chương 14 - Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 - 1775)
    1. Đại chiến lần thứ nhất (1627). - 2. Đại chiến lần thứ hai (1630) - 3.
    Đại chiến lần thứ ba (1635). - 4. Đại chiến lần thứ tư (1648). - 5. Đại chiến
    lần thứ năm (1655) - 6. Đại chiến lần thứ sáu (1661) - 7. Đại chiến lần thứ
    bảy (1672).
    Chương 15 - Sự nghiệp hai họ Trịnh - Nguyễn
    Chương 16 - Những vụ phiến loạn dưới đời chúa Trịnh
    Chương 17 - Các hoạt động của Nguyễn
    Chương 18 - Các cuộc chiến tranh cuối cùng của hai họ Trịnh - Nguyễn
    (1774)
    Chương 19 - Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
    1. Tiểu sử nhà Tây Sơn. -- 2. Tây Sơn diệt Nguyễn tại Nam Việt. - 3.
    Nguyễn Huệ đuổi quân Xiêm. - 4. Nguyễn Huệ đánh Thuận Hóa. - 5.
    Nguyễn Huệ ra Thăng Long. - 6. Chim Bằng gẫy cánh.
    Chương 20 - Một võ công oanh liệt bậc nhất của Việt Nam cuối thế kỷ
    XVIII
    1. Cái chết của Vũ Văn Nhậm. - 2. Chiến sự Việt-Thanh. - 3. Cuộc giao
    thiệp giữa Tây Sơn và Thanh đình. - 4. Chính trị của vua Quang Trung. - 5.

    https://thuviensach.vn

    Vua Chiêu Thống bị nhục trên đất Tàu.
    cuộc chiến tranh cuối cùng giũa Tây Sơn và Cựu Nguyễn
    1. Nguyễn vương quật khởi. - 2. Nguyễn vương tấn công Qui Nhơn lần
    thứ nhất (1790). - 3. Qui Nhơn thất thủ lần thứ hai và ba. - 4. Phú Xuân đổi
    chủ. - 5. Nguyễn Vương ra Bắc Hà.
    Chương 21 - Người Âu Châu sang Việt Nam
    1. Việt Nam dưới con mắt người Pháp. - 2. Đạo Thiên Chúa.
    Chương 22 - Nhà Nguyễn (1802 - 1945)
    I. Gia Long (1802 - 1820)
    1. Thế tổ xưng đế hiệu. - 2. Bộ máy chính quyền trung ương. - 3. Các
    địa hạt hành chính lớn. - 4. Binh chế. - 5. Công vụ. - 6. Việc học hành và
    luật pháp. - 7. Việc tài chính. - 8. Việc ngoại giao với Pháp. - 9. Việc ngoại
    giao với Trung Quốc. - 10. Giao thiệp với Miên-Lào-Tiêm La. - 11. Bàn về
    loạn phong kiến ở Việt Nam. -12. Vài ý kiến về vua Gia Long.
    II. Thánh Tổ (1820 - 1840)
    1. Hoàn thiên bộ máy chính quyền. - 2. Việc học hành thi cử. - 3. Sách
    vở. - 4. Những cuộc phiến loạn. - 5. Việc ngoại giao với Pháp. -- 6. Việc Ai
    Lao và Chân Lạp. - 7. Việc cấm đạo. - 8. Bàn về Thánh Tổ.
    III. Hiến Tổ (1841 - 1847)
    Cá nhân của vua Hiến Tổ. - 2. Việc Chân Lạp và Tiêm La. - 3. Cuộc
    đánh phá đầu tiên của Pháp ở Việt Nam.
    Phần Thứ Tư

    https://thuviensach.vn

    Việt Nam Mất Độc Lập Về Tay Pháp
    Chương 1 - Dực Tông (1847 - 1883)
    1. Vua Tự Đức và tình thế Việt Nam giữa thế kỷ XIX. - 2. Việc ngoại
    giao và cấm đạo. - 3. Việc văn học và binh chế. - 4. Những vụ phiến động
    trong nước.
    Chương 2 - Người Pháp ra mặt xâm chiếm Việt Nam
    1. Nguyên nhân của sự xâm lăng. - 2. Đặc phái viên Pháp đến Việt Nam.
    - 3. Việt Nam mất ba tỉnh Đông Nam Kỳ. - 4. Phản ứng của triều đình Huế.
    - 5. Phong Trào kháng Pháp ở Nam Kỳ. - 6. Người Pháp chiếm nốt ba tỉnh
    miền Tây Nam Kỳ. - 7. Những nghĩa sĩ miền Nam.
    Chương 3 - Quân Pháp đánh Bắc Kỳ
    1. Nguyên nhân việc người Pháp ra Bắc. - 2. Pháp quân đánh Bắc Kỳ lần
    thứ I. -3. Hòa ước năm Giáp Tuất (1874). - 4. Hà thành thất thủ lần thứ hai.
    - 5. Sự phế lập ở Huế. - 6. Hòa ước năm Quí Mùi (1883). - 7. Hòa ước
    Thiên Tân lần thứ hai. - 8. Hòa ước Patenôtre (1884).
    Chương 4 - Tàn cuộc của phong kiến Việt Nam
    Phong trào Cần vương cứu quốc. - 2. Phong trào Văn Thân kháng Pháp.
    - 3. Vua Thành Thái (1884 - 1907). - 4. Vua Duy Tân (1907 - 1916). - 5.
    Cuộc bảo hộ của nước Pháp. Chương V - Những cuộc tranh thủ độc lập của
    Việt Nam từ 1928 - 1954
    Xã hội Việt Nam dưới thời Pháp thuộc. - 2. Những cuộc tranh đấu của
    thế hệ trẻ tuổi. - 3. Cuộc đảo chánh 9-3-1945. - 4. Lá bài Bảo Đại và Hiệp
    Định Hạ Long. - 5. Cuộc chiến tranh Thực - Cộng (1945 - 1954). - 6. Thỏa
    hiệp Genève. - 7. Kết Luận
    Tài liệu tham khảo

    https://thuviensach.vn

    Ý kiến của văn gia trí thức về Việt Sử Toàn Thư
    Phụ lục 1: Bảng đối chiếu các triều đại Việt Nam với triều đại Trung
    Hoa
    Phụ lục 2: Thế Phả họ Nguyễn
    Phụ lục 3: Thế Phả họ Trịnh

    https://thuviensach.vn

    VIỆT SỬ TOÀN THƯ
    Phạm Văn Sơn
    www.dtv-ebook.com

    Lời Giới Thiệu & Lời Tác Giả:
    Kính dâng hương hồn song thân đã sớm hun đúc cho con một tấm lòng
    thiết tha với đất nước để viết nên những trang sử oai hùng của dân tộc.
    Phạm Văn Sơn
    "Chim Việt làm tổ cành nam (Việt điểu sào nam chi)", một câu nói ngắn
    gọn nhưng hàm chứa một ý nghĩa thật sâu: người Việt Nam không bao giờ
    quên được cội nguồn của mình! Nhờ tinh thần đó mà trên trường quốc tế,
    dù phải chịu một ngàn năm đô hộ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây.
    Nhưng hiện nay, với chính sách hủy diệt văn hóa truyền thống dân tộc
    trong nước, và sức lôi cuốn mãnh liệt của nền văn minh vật chất Âu Mỹ
    ngoài nước, dân tộc chúng ta đang phải đối đầu với một hiểm họa diệt vong
    mới, có mức độ trầm trọng hơn tất cả
    các hiểm họa đã gặp phải trong quá khứ.
    Chỉ có lòng yêu nước nồng nàn, phát xuất từ đáy lòng của mọi người
    Việt mới giúp chúng ta vượt qua được hiểm họa này. Chỉ có lòng yêu quê
    hương thiết tha mới là động cơ bắt chúng ta chung góp tâm trí vào việc bảo
    tồn và phát huy nền văn hóa cao quý của cha ông để lại.
    Với mục tiêu duy nhất là nuôi dưỡng lòng yêu nước cần thiết trong lòng
    mọi người Việt tại Nhật, sinh thành những tâm hồn thiết tha với quê hương,
    dân tộc, chúng tôi đã mạn phép in lại 600 bộ Việt Sử Toàn Thư này của Sử
    Gia Phạm Văn Sơn để phân phối
    trong cộng đồng người Việt tại Nhật.

    https://thuviensach.vn

    Với công trình khảo cứu sâu rộng của Sử gia yêu nước Phạm Văn Sơn
    và tính chất
    khách quan, dân tộc, khoa học, phong phú, giản dị ... của bộ sách này,
    chúng tôi mong muốn mỗi gia đình Việt Nam tại Nhật sẽ có ít nhất một bộ,
    lúc nào cũng có trong nhà, để dễ dàng chỉ dạy con em về lịch sử hào hùng
    bất khuất của dân tộc Việt.
    Chúng tôi cũng chân thành cảm tạ Hiệp Hội Liên Đới Người Tỵ Nạn
    Đông Dương đã yểm trợ toàn thể chi phí để in lại bộ sách này.
    Hiệp Hội Người Việt Tại Nhật Bản
    Nhật Bản, 1983
    Nam Nghệ Xã

    https://thuviensach.vn

    Cùng Bạn Đọc Thân Mến
    Từ mười hai năm nay, bước chân vào làng sử học, chúng tôi đã được hân
    hạnh giới thiệu các bạn văn gia trí thức và học sinh một tổ tác phẩm nhỏ
    như Việt Nam Tranh Đấu Sử, Việt Nam Hiện Đại Sử Yếu, Vĩ Tuyến 17,
    Việt Sử Tân Biên quyển I, II, III.
    Những cuốn sách này được tái bản nhiều lần và trước những sự đóng
    góp của chúng tôi đối với văn hóa nước nhà, các bạn đọc đã tỏ có nhiều
    cảm tình và tin cậy, do đó để tạ lòng tri kỷ bốn phương hàng năm chúng tôi
    tiếp tục gửi đến tay các bạn những tác phẩm về sử học.
    Gần đây, Việt sử tân biên được các bạn trí thức trong nước và ngoài
    nước đặc biệt lưu ý và tán thưởng trên các báo Bách Khoa, Thế Giới Tự Do,
    Tân Dân, Chỉ Đạo, Ngôn Luận, Tự Do, v.v... nhưng bộ sử này còn tới 4
    cuốn nữa mới hết, tức là phải xuất bản đều đặn luôn bốn năm mới hoàn
    thành.
    Trong lúc này, nhiều bạn giáo sư và học sinh thường gửi thư đến chúng
    tôi yêu cầu nên gấp rút soạn một cuốn Việt sử tân biên thâu hẹp gồm đủ chi
    tiết từ Thượng cổ thời đại đến hết thời Pháp thuộc để tiện dụng hơn trong
    các trường học. Theo ý các bạn, Việt Sử Tân Biên gồm 7 cuốn chỉ lợi ích
    nhiều cho các giáo sư sử địa, các văn gia trí thức cần biên khảo rộng rãi và
    cho một số sinh viên nặng tình đặc biệt với sử học. Quả vậy, chúng tôi đã
    đọc khá nhiều sách, chuyện ký để viết một bộ sách có mục đích giúp các
    bạn kể trên khỏi mất nhiều thời giờ tìm tòi sử liệu và nghĩ ngợi về sự bình
    giải, mặc dầu công việc của chúng tôi vẫn có thể còn nhiều khuyết điểm.
    Ngoài ra, từ trên 30 năm nay, tuy trong các thư viện của chúng ta đã có
    một sách về lịch sử, nhưng các sách này vẫn còn mang nặng ảnh hưởng của
    tư tưởng thời phong kiến, đế quốc. Nếu cần tiến bộ, tất nhiên ta phải có

    https://thuviensach.vn

    những cuốn sử mới viết theo quan niệm rộng rãi và tinh thần phóng khoáng
    của trào lưu dân chủ ngày nay cùng gồm thâu được nhiều điều mới lạ do sự
    khám phá hay sưu tầm của các học giả cận đại, hiện đại.
    Hôm nay, Việt Sử Toàn Thư ra mắt các bạn. Chúng tôi hy vọng tác phẩm
    này sẽ hợp với nhu cầu của tình thế một phần nào, góp được ít nhiều công
    quả cần thiết cho sự phát triển và xây dựng văn học của nước nhà trong giai
    đoạn mới của lịch sử. Tuy nhiên do sử học nước nhà chưa hết phôi thai, ấu
    trĩ, sử liệu lại thất đắc khá nhiều qua các quốc biến, sách này không khỏi có
    điều lỗi lầm, sơ sót. Trong khi chờ đợi một hoàn thiện, chúng tôi xin sẵn
    sàng chào đón sự uốn nắn và chỉ bảo của các bạn trí thức gần xa.
    Sài gòn ngày 14 tháng 3 năm Canh Tý
    Phạm Văn Sơn

    https://thuviensach.vn

    VIỆT SỬ TOÀN THƯ
    Phạm Văn Sơn
    www.dtv-ebook.com

    Phần 1 – Chương I
    - Địa lý thiên nhiên Việt Nam
    - Người Việt Nam
    - Gốc tích của người Việt Nam
    Địa lý thiên nhiên Việt Nam Việt Nam ngày nay là một nước trên bán
    đảo Đông Dương ở vào khoảng giữa Ấn Độ và Trung Hoa thuộc Châu Á
    hướng về phía Nam. Bắc, Việt Nam giáp Trung Hoa (giáp giới ba tỉnh miền
    Nam Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Đông và Quảng Tây), Tây giáp Ai
    Lao, Cao Mên, Đông giáp bờ biển Nam Hải. Một đằng khác, ở Đông Nam
    Châu Á, bán đảo Đông Dương trong đó có Việt Nam nhìn qua quần đảo Phi
    Luật Tân và chuỗi chân về phía Nam như đạp xuống quần đảo Mã Lai mà
    vị trí cùng mối liên hệ đối với bán đảo Đông Dương có thể ví với Địa Trung
    Hải ở Âu Châu.
    Nước Việt Nam giống hình chữ S hẹp ở giữa, rộng hai đầu. Chiều cong
    vòng theo bờ biển bắt đầu từ vịnh Bắc Việt, lượn vào đến đầu Trung Việt
    dần dần ưỡn ra, xuống đến Nam Việt thì chiều cong lại dần dần ăn vòng vào
    theo một đường rất êm dịu.
    Diện tích rộng chừng 312.000 cây số vuông trong đó:
    Bắc Việt: 105.000 cây số vuông
    Trung Việt: 150.000 cây số vuông
    Nam Việt: 57.000 cây số vuông.

    https://thuviensach.vn

    Bắc Việt chia ra làm ba miền: Thượng du có nhiều rừng núi chạy vòng
    cánh cung theo hình thể xứ Bắc, như chiếc quạt xòe ra từ nơi giáp miền
    Thượng Lào chạy sát các vùng biên giới Việt Hoa. Ngọn núi cao nhất là
    Hoàng Liên Sơn (3.141 thước). Trung du là miền ở giữa trung châu và
    thượng du, sát các khu rừng núi. Trung châu đáng chú ý vì có nhiều đồng
    bằng, sẵn ruộng đất để cầy cấy và sông ngòi thuận tiện cho mọi việc giao
    thông (sông Hồng Hà phát nguyên từ Tây Tạng có nhiều chi nhánh tản mác
    khắp Trung Châu, sông thường không rộng lắm) – dân cư rất đông đúc, thóc
    lúa, ngô, khoai có nhiều.
    Trung Việt là một giải đất hẹp, có dẫy Trường Sơn giống như cái xương
    sống chạy dọc từ Bắc Việt vào Nam Việt, có thể ví là cái bình phong ngăn
    cách hai xứ Việt Lào, ở đây ruộng đất hiếm hoi, khô khan, vì vị t rí sát bể và
    núi nên sự sinh sống của dân chúng trông vào lâm sản và hải sản hay ngư
    lợi (nghề đánh cá). Kinh tế nông nghiệp ở đây không được phong phú như ở
    miền Bắc Việt và Nam Việt có thể coi là hai vựa thóc của Việt Nam.
    Nam việt ở khúc dưới sông Cửu Long có sông Tiền Giang, Hậu Giang,
    Vàm Cỏ và Đồng Nai chạy dài trên toàn cõi, lại có nhiều đất ruộng nên rất
    thịnh đạt về nông nghiệp. Nhân dân ở đây không đông đúc mấy, tương đối
    với tổng số diện tích đất đai, vừa sống với biển, vừa sống với ruộng vườn
    nên không chật vật, vất vả như dân Bắc Việt bị nạn nhân từ bao nhiều đời.
    (Mật độ dân cư trung bình lên tới 800 người trên một cây số vuông, có chỗ
    lên tới 2.000 người, điều ít thấy ở một nơi nào trên thế giới ngày nay.)
    Việt Nam là một xứ thuộc nhiệt đới, nhưng khí hậu có khác nhau từ
    Nam ra Bắc, thường nóng và ẩm thấp. Bắc Việt giáp giới Trung Quốc là
    một miền ôn đới, có bốn mùa rõ rệt, mùa xuân đầm ấm, có nhiều ngày lất
    phất mưa, cũng có khi lạnh. Trong mùa này, cây cỏ mọc mạnh. Mùa hè
    nóng bức, có khi rất oi ả, khó chịu, nhưng cũng là mùa để thảo mộc sinh sối
    nảy nở, thuận tiện cho nông nghiệp. Các bệnh dịch tả nhất là đối với con trẻ
    hay phát sinh trong vụ hè. Vào khoảng tháng sau hay tháng bảy, thường có

    https://thuviensach.vn

    nước lớn do những trận mưa rào như trút nước từ các vùng thượng du về
    đồng bằng dễ sinh ra nạn nước lụt, xưa kia hay phá vỡ đê điều, gây nên
    nhiều sự thiệt hại về tài sản và tính mệnh cho dân chúng vùng Trung Châu.
    Cuộc chống chọi với nước lũ hằng năm đe dọa đê điều, đáng kể là một công
    cuộc vĩ đại của dân tộc Việt nam trải qua bao nhiêu thế kỷ trong khi khoa
    học chưa được áp dụng. Đây là một cuộc chiến đấu giữa Người và Thiên
    Nhiên, có lẽ đã hun đúc cho dân tộc chúng ta cái đức tính kiên nhẫn và một
    tinh thần chiến đấu đáng kể. Trái lại vì lụt mà ruộng đất thêm màu mỡ, nhất
    là ở đồng bằng sông Cửu Long. Mùa thu có những ngày nắng dịu nhưng về
    những ngày chót, đời sống của cỏ cây bắt đầu ngưng trệ cho đến mùa đông
    thì rõ rệt là mùa thu, nắng hanh thường hay phát sinh các bệnh lặt vặt và gió
    bấc lạnh thổi buốt kèm với mưa phùn lại có những sự thay đổi thời tiết đột
    ngột, đang nóng đổi ngay ra lạnh.
    Từ cửa Hàn trở vào Nam Việt khí hậu hình như riêng biệt. ở đây có rõ
    rệt hai mùa mưa, nắng, nhất là ở Nam Việt, nghĩa là có 6 tháng nắng. Trong
    một ngày có nhiều trận mưa rào đổ xuống trong chốc lát rồi trời lại nắng rào
    như thường. Buổi tối thường có gió mát. Ở đại phương này vấn đề thực
    phẩm, khí hậu và nông nghiệp chịu ảnh hưởng của biển rất nhiều.
    Sống trên đất Việt Nam, ngoài dân tộc Việt Nam còn có nhiều giống
    khác nữa tại các vùng sơn cước mà người Việt ngày nay gọi là các đồng bào
    Thượng, vì trải qua bao nhiêu thế hệ đã cùng sinh sống với nhau tuy không
    trực tiếp nhiều, nhưng đã cùng chung lưng đấu cật những biến cố lớn lao
    của lịch sử và không hề có sự mâu thuẫn gì về quyền lợi tinh thần hay vật
    chất.
    Ở miền thượng du Bắc Việt có dân Thái, Thổ, Mường, Mán, Mèo,
    Nùng, Yao, Lô Lô... Ở các miền rừng núi Trung Việt có giống Mọi và
    Chàm. Ở Nam Việt trong các vùng sơm lâm cũng có dân Mọi, Chàm, các
    thành thị có Chà Và, Hoa Kiều, cùng người Thổ nguồn gốc Cao Mên, lâu

    https://thuviensach.vn

    đời sinh sống ở đây vui vẻ êm ấm như người Việt và không bị một đố kỵ
    nào hết.
    Nhân dân Việt Nam ở Bắc Việt có vào khoảng 9 triệu người, Trung việt
    có độ 6 triệu, Nam Việt có chừng 5 triệu, đó là con số ước lượng 30 năm về
    trước. Giờ đây có thể con số đó đã vượt quá rồi. Còn dân miền núi cũng tới
    trên dưới một triệu.
    2 – Người Việt Nam
    Người Việt Nam thuộc giống da vàng. Kẻ làm nghề lao động dầm mưa
    dãi nắng da ngăm ngăm đen. Người làm các nghề nhàn nhã ít ra ngoài trời
    thì da trắng mầu ngà. Về chiều cao, người Việt Nam phần nhiều tầm thước
    (không cao không thấp), nhỏ hơn người Tầu chút ít – mặt phần nhiều xương
    xương, trán cao rộng, mắt đen và hơi xếch về phía bên, gò má cao, mũi hơi
    tẹt, môi hơi dầy, răng to thường khểnh, râu thưa, tóc đen và nhiều, cắt ngắn.
    Dáng đi lanh lẹ, vẻ mặt lanh lợi, thân hình mảnh dẻ nhưng cũng cứng cáp
    và vững chắc.
    Y phục của người đàn ông Việt Nam thường dài, rộng trong áo hẹp.
    Người lao động vận quần áo ngắn, ở nơi tỉnh thành dùng mầu trắng, chốn
    thôn quê dùng mầu nâu hoặc đên, đi ra ngoài thăm bè bạn, dự lễ nghi
    thường mặc thêm chiếc áo thâm dài quá gối. Ở chốn thôn quê thì thêm
    chiếc khăn đen hay quấn ngang đầu làm cho vẻ mặt thêm phần nghiêm
    trang. Ngày nay, ở các thành thị, những người tân tiến như các công chức,
    trí thức, sinh viên là những phần tử có tiếp xúc với văn hóa Tây Phương
    thường vận Âu phục do lẽ thuận tiện và mỹ thuật.
    Phụ nữ Việt Nam ở các đô thị Bắc Việt và Trung Việt thường mặc quần
    trắng hay đen, nhưng áo dài thì thay đổi nhiều mầu, chit khăn đen, cuộn
    tròn quanh đầu. Ở thôn quê thì mặc váy, có yếm che ngực, lại cũng có nhiều
    người mặc quần như đàn bà thành thị. Ở Nam Việt, đàn bà ưu mặc quần
    đen, áo ngắn và búi tóc.

    https://thuviensach.vn

    Người đàn bà Việt Nam có nhiều đức tốt hơn là thói xấu. Phần lớn từ
    thành thị đến thôn quê, người đàn bà lo buôn bán, cày cấy, biết tần tảo, chịu
    thương khó và rất hy sinh cho chồng con. Sự kiện tốt đẹp này là do ảnh
    hưởng của giáo lý Khổng mạnh đã đi sâu vào đời sống tinh thân của dân tộc
    chúng ta từ ngót hai ngàn năm nay.
    Gần một thế kỷ trở về đây, Việt Nam lại tiếp xúc với Tây phương, phụ
    nữ Việt Nam hấp thụ văn hóa Âu Mỹ đã tỏ ra có nhiều khả năng trên trường
    học vấn và đã có những sự tranh đấu về quyền lợi gia đình, xã hội với nam
    giới.
    Bàn về các điều tốt xấu trong con người Việt Nam, ta thấy đồng bào ta
    thông minh, nhớ dai, có óc nghệ thuật, khéo tay chân, giàu trực giác hơn là
    luận lý, ưa điều đạo đức, ham chuộng văn chương. (Có người nói người
    Việt ta thích văn chương phù hoa hơn là thực học, thiết tưởng không đúng,
    chẳng qua chúng ta trong mười thế kỷ mất độc lập, chịu ảnh hưởng văn hóa
    nô dịch nên không được hướng dẫn phải đường, phải lối mà thôi, chớ không
    phải là ta không biết trọng thực học). Chúng ta lại còn đức tính lễ phép và
    biết ơn, chuộng hòa bình và giàu có hy sinh.
    Người lao động rất cần cù và nhẫn nại, có sức chịu đựng những việc
    nặng nhọc rất bền bỉ, nhất là các đồng bào miền Bắc.
    Người đi lính ra trận rất trọng kỷ luật và can đảm. Nói đến người lính
    đây tức là lớp nông dân của chúng ta trong vai trò tranh đấu cho Tự do và
    Độc lập của xử sở từ bốn ngàn năm lập quốc đến giờ rất đáng phục.
    Tinh thần dân tộc được như vậy là nhờ ở hoàn cảnh kinh tế, địa lý, văn
    hóa và chính trị cấu tạo nên bởi:
    1) Bắc giáp Trung Quốc, Nam giáp Chiêm Thành là hai gọng kìm ghê
    gớm, luôn luôn xiết chặt vào dân tộc chúng ta.
    2) Rừng núi Bắc Việt hoang vu và nhiều thú dữ.
    https://thuviensach.vn

    3) Đồng bằng Bắc Việt hay bị lụt lội và hạn hán.
    4) Miền duyên hải Trung Việt hay nổi going tố.
    5) Vì hai vị gió mùa đổi thay luân chuyển, khí hậu thường hay khô ráo
    và ẩm thấp.
    Đó là những yếu tố đã hun đúc cho chúng ta nhiều năng lực tranh đấu,
    sức chịu đựng với thiên nhiên và các cường bang ngoại địch.
    Chúng ta cũng có nhiều tính xấu như các dân tộc khác:
    Người dân trung lưu và hạ lưu hay nông nổi, háo danh, thích phô trương,
    mê cờ bạc, tin ma quỷ, sung việc cúng bái, không nhiệt tín tôn giáo nào cả,
    ham kiện cáo, tinh vặt và quỷ quyệt.
    Tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất, mặc dầu có sự phân
    biệt Trung – Nam – Bắc, giọng nói hơi nặng nhẹ ở một vài nơi, nhưng
    người Việt đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo cũng
    không có gì khác biệt lắm từ Nam ra Bắc.
    Xã hội Việt nam gồm 4 giai cấp: Sĩ, Nông, Công, Thương, cùng sống
    dưới chế độ phong kiến lâu đời, nhưng không có nhiều chia rẽ quá đáng
    như ở nhiều dân tộc khác.
    Tóm lại, Việt Nam, nếu đem so sánh với nhiều dân tộc khác thì rõ rệt có
    rất nhiều đức tính thuần nhất nhờ đó mà có đủ sức mạnh vật chất, tinh thần
    để giải quyết nhiều việc khó khăn nội ngoại, qua nhiều thế hệ.
    Tiếng nói của người Việt có thể cho là đồng nhất vì mặc dầu có sự phân
    chia Trung-Nam-Bắc, giọng nói có hơi nặng nhẹ ít nhiều, nhưng người Việt
    đi đến đâu cũng hiểu nhau. Tính tình, phong tục, tôn giáo cũng không có gì
    khác biệt từ Nam ra Bắc.

    https://thuviensach.vn

    Đây là sự trình bày đại khái về vị trí, tính tình, phong tục của người Việt
    Nam. Chúng tôi xin nghiên cứu kỹ lưỡng thành từng vấn đề ở những trang
    dưới đây tùy theo sự thuận tiện của việc biên khảo.
    3- Gốc tích của Người Việt Nam
    Bàn về gốc tích dân tộc Việt Nam, những nhà làm sử của chúng ta và
    các học giải ngoại quốc thường không đồng ý kiến. Nguyên do dân tộc Việt
    nam là một dân tộc rất cố cựu, ra đời trong khi khoa học, nhân chủng, địa
    dư học và sử học chưa khai triển. Thêm vào đó, dân tộc Việt Nam từ bốn
    ngàn năm lập quốc, trải qua bao nhiêu cuộc biến chuyển của Lịch sử, sống
    một cuộc đời bất định từ lưu vực sông Nhị Hà, sông Mã cho tới ngày nay
    mới ngừng hẳn bên bờ biển Tiêm La.
    Nhiều nhà khảo cổ Pháp cho rằng người Việt Nam phát tích ở miền núi
    Tây Tạng cũng như người Thái, qua các triều đại di cư dần xuống Bắc Việt,
    lần xuống phía Đông Nam và lập ra nước Việt Nam ngày nay. Còn người
    Thái lần theo sông Cửu Long (Meekong) tạo ra nước Tiêm La và Mên, Lào.
    Như vậy dân tộc Việt Nam là một trong nhiều dân tộc đã do các miền Tây
    Bắc Trung Hoa là nguồn gốc. Đồng thời, một vài dân tộc khác ở các quần
    đảo Đông Nam di cư lên như dân Mã Lai, dân Phù Nam, Chiêm Thành
    cũng tập hợp trên bán đảo Đông Dương.
    Có thuyết cho rằng người Việt thuộc giống Anh-đô-nê-dieng
    (Indonésien) bị giống A-ri-ăng (Aryens) đánh bạt ra khỏi Ấn Độ phải chạy
    qua bán đảo Hoa Ấn. Tới đây ta chia ra làm hai ngành, một ở lại bán đảo
    Hoa Ấn tiêu diệt đám thổ dân ở đây là người Mê-la-nê-diêng (Meslanésien),
    một thiên xuống Nam Dương quần đảo - Ở mạn Bắc, ta hòa going với
    người Mông Cổ, chịu ảnh hưởng văn minh Trung Quốc. Ở mạn Nam giống
    Anh-đô-nê-dieng hợp thành giống Cao Mên và Chiêm Thành, chịu văn hóa
    Ấn Độ. Ngay ngành ở mạn Bắc cũng chia ra hai chi phái: một sinh tụ ở
    Trung Châu sông Nhị Hà và các miền duyên hải, nhờ các đất cát phì nhiêu
    lại chịu nhiều cuộc biến chuyển lịch sử mà tiếp xúc được với văn hóa Trung

    https://thuviensach.vn

    Quốc nên tiến bộ mau lẹ. Còn chi phái kia lần lên các vùng cao nguyên,
    sống với rừng núi – chịu ảnh hưởng của giống Thái ở lân cận tuy vẫn giữ
    được nền nếp cũ là các tổ chức và thể chế phong kiến. Các người Mường
    hiện cư trú tại Hòa Bình và Nghệ An ngày nay là di duệ của chi phí này.
    Ông Lesonard Augousseau, căn cứ vào sách Tàu, cho rằng người Việt
    Nam thuộc dòng dõi người nước Việt đời Xuân Thu tức là thuộc quyền
    Quốc Vương Câu Tiễn thời đó (cuối thế kỷ thứ 6 trước Công Lịch), đóng
    kinh đô ở thành Thiệu hung, tỉnh Chiết Giang ngày nay. Năm 333 trước
    Công Lịch, nước Sở đánh bại người Việt, người Việt chạy lùi thêm xuống
    miền Nma chia ra làm phái:
    1) Đông Âu hay là Việt Đông Hải thuộc miền Ôn Châu (Phía Nam tỉnh
    Chiết Giang).
    2) Mân Việt tụ tập tại Phúc Châu tức Phúc Kiến.
    3) Nam Việt thuộc Quảng Đông và phía Bắc Quảng Tây.
    4) Lạc Việt hay là Tây Âu Lạc ở phía Nam Quảng Tây. Và miền Bắc
    Việt của chúng ta bây giờ.
    Chúng ta thuộc thị tộc nào?
    Tác giả cuốn “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam” như chúng tôi xét, cũng
    không đứng ngoài thuyết này.
    Giao Chỉ và Việt Thường
    Theo sự khảo cứu của ông Đào Duy Anh, ở đời thái cổ từ Nghiêu,
    Thuấn, Hạ, Thương trong lịch sử Trung Hoa, trong khi người Hán tộc
    đương quanh quẩn ở lưu vực sông Hoàng Hà và sông Vị Thủy thì ở miền
    Nma trong khoảng lưu vực sông Dương Tử, sông Hán và sông Hoài có
    những giống người văn hóa khác hẳn với văn hóa người Phương Bắc. Trong

    https://thuviensach.vn

    thư tịch của người Trung Hoa, bọn người đó là Man Di...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN VIỆT - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !