Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học
Việt Nam một thiên lịch sử

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:52' 05-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:52' 05-04-2024
Dung lượng: 1.9 MB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Việt Nam Một Thiên Lịch Sử
(Vietnam Une Longue Histoire)
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Thể loại: History
Nhà Xuất Bản Khoa học xã hội - Thái Hà - 2007
Dịch giả: Diệu Bình
Ngày hoàn thành: 05-9-2014
Số hóa: Hanhdb
Thư viện ebook TVE-4U Read Freely, Think Freedom
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
https://thuviensach.vn
Lời nói đầu
Trong lễ tưởng niệm bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tại Paris, Tiến sĩ Sử học
Charles Fourniau, Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp - Việt đã viết:
"... Ngay từ những phút đầu tiên, tôi nhận ra ngay đây sẽ là bậc thầy của
tôi. Và ông mãi vẫn là bậc thầy của tôi. Tôi may mắn được tiếp cận ông một trong những trí tuệ sáng chói nổi bật nhất. Vốn văn hóa của ông , hay
nói đúng ra là vốn các văn hóa của ông, bởi lẽ ông có đến ba vốn văn hóa,
Việt Nam, Trung Hoa, Pháp... quả thật dường như là vô hạn..."
Nhiều tác phẩm của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn
nhưng giá trị lớn lao. Bất cứ đối tượng nào, từ người già, thanh niên đến trẻ
em đều có thể thấy qua tác phẩm của ông bóng dáng một người bạn , một
người thầy, một người ông với kiến thức uyên thâm và tấm lòng nhân ái.
Về một số vấn đề có tính thời sự, trong dịp tái bản cuốn Một đôi lời trước
ngày đi xa một năm, ông đã viết:
"... Mới hơn 10 năm mà nay nhớ lại nhiều việc, như là chuyện thời xa
xưa, cả nước đã chuyển sang một thời đại mới. Nay cho in lại, xin cứ giữ
nguyên bản, không sửa chữa, như là một vết tích của một thời, để bạn đọc
ngày nay thấy một số người "xưa kia" suy nghĩ những gì... Thời thế thay
đổi, không thể không thay đổi ý kiến, loại trừ một số sai lầm tư tưởng,
nhưng điều không thể thay đổi là cái đạo lý làm người. Thức thời, chứ
không phải cơ hội..."
Quả là toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khắc Viện, kể cả những đề tài "thời
sự" đã qua như phong trào "hợp tác xã" hay " Liên Xô" ... vẫn sáng rõ một
"đạo lý" đẹp đẽ và chung thủy của một sĩ phu trung thực, hết lòng vì nước
vì dân, nên đều có giá trị bổ sung kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn cho nhiều
thế hệ bạn đọc.
Với sự ngưỡng mộ và kính trọng đặc biệt sâu sắc với bác sĩ Nguyễn
Khắc Viện, được sự đồng ý và cộng tác của gia đình cố bác sĩ Nguyễn
https://thuviensach.vn
Khắc Viện, Công ty Cổ phần Sách Thái Hà xin giới thiệu với độc giả bộ
sách gồm 5 cuốn: Tâm tình của đất nước, Đạo và Đời, Việt Nam - Một
thiên lịch sử, Nguyễn Khắc Viện - Chân dung và kỷ niệm, Tự truyện.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả và rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của bạn đọc gần xa.
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH THÁI HÀ
https://thuviensach.vn
Chương 1
Cội nguồn từ thời đồ đá đến thời đại đồ đồng
https://thuviensach.vn
Thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới
Nước Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á: Tại đây có những dấu
hiệu được phát hiện cho thấy khỉ dạng người đã tìm xuất hiện ở nhiều nơi.
Tháng 8-1965, trong một hang động thuộc xã Tân Văn,tỉnh Lạng Sơn,
người ta phát hiện di cốt của một vượn người, và những chiếc răng của một
người vượn khác gần với người vượn Bắc Kinh hơn. Di cốt ấy đang được
nghiên cứu, nhưng những nhận xét đầu tiên cho phép xác định thời điểm
chúng xuất hiện là vào thời kì trung pleistocène(1)(khoảng 500.000 năm).
Các vết tích đầu tiên của một kỹ nghệ thực sự của con người được phát
hiện tháng 11-1960, trên núi Đọ, tỉnh Thanh Hóa: ở một độ cao cách mặt
ruộng xung quanh từ 20 đến 30m, người ta tìm thấy hàng nghìn mảnh tước
dùng để cắt, cào. Trong số các mảnh tước có những nắm đấm hình hạnh
nhân, hai mặt được gọt cẩn thận, điển hình cho thời kì chelléen. Điều đó
khẳng định sự tồn tại của sơ kì đá cũ ở Việt Nam(một số nhà khảo học Việt
Nam không công nhận điều này).
Trong nhiều hang động của các tỉnh Yên Bái, Ninh Bình, Quảng Bình
với những lớp trầm tích chứa xương động vật thuộc thời kì hậu pleistocène,
người ta đã phát hiện ra những chiếc răng và hàm của người vượn Homo
sapiens(2). Vậy là con người vẫn tiếp tục tồn tại suốt một thời gian dài, cải
tiến dần dần tuy rất chậm các công cụ của mình để tiến lên một kỹ nghệ
hoàn thiện hơn.
Vào cuối thời đại đá cũ châu thổ sông Hồng chưa được phù sa lấp đầy,
con người phải cư trú trong những khối núi đá vôi bao quanh các châu thổ,
những khối núi này có nhiều hang động rộng rãi thuận tiện cho việc cư trú,
gần các sông suối, rừng rậm sẵn thức ăn. Các hòn sỏi trong lòng suối cũng
là nguyên liệu cần thiết để chế tác công cụ. Chính trong các hang động Hòa
Bình và Bắc Sơn, người ta đã tìm thấy nhiều trung tâm văn hóa đồ đá, với
https://thuviensach.vn
những dụng cụ, những vật dụng hàng ngày, những dấu vết của bếp núc và
những thứ được bỏ lại sau bữa ăn, chủ yếu là vỏ sò, ốc và xương thú.
Các công cụ được làm bằng đá đẽo còn thô kệch có hình dạng ê-líp, hình
đĩa, hạnh nhân, làm thành những con dao, những cái cào, những rìu tay
hình chữ nhật. Những hòn sỏi được dùng làm chày để giã các loại hạt. Dần
dần xuất hiện loại rìu bằng đá mài, gọi là rìu Bắc Sơn. Các công cụ bằng
xương hay sừng thú có vẻ không phổ biến. Có khả năng là cây tre, dễ sử
dụng, được dùng rộng rãi cho nhiều việc khác nhau: cọc, tên bắn, dao và
một gốc tre già được dùng để chứa đựng, thậm chí làm nồi để nấu thức
ăn(cách làm này hiện nay vẫn còn phổ biến ở các miền núi).
Các thân tre, sọ dừa, vỏ bầu cũng được dùng làm vật đựng và nồi niêu.
Vào thời kì Bắc Sơn, đồ gốm xuất hiện. Lúc đầu đất sét được nhào và nặn
thành những khúc dài và tròn như những khúc dồi, rồi đem quấn lại để tạo
thành những vật đựng hay những nồi niêu, sau đó người ta làm nhẵn cả mặt
trong và mặt ngoài. Trong một số đồ vật được tìm thấy, người ta còn nhận
ra những dấu vết chắc là của một thứ dụng cụ giống cái bay có buộc bằng
một sợi dây leo, dùng để vỗ đất khi còn ướt. Nói chung, các đồ gốm còn
thô kệch và được nung ở nhiệt độ không cao.
Hái lượm và săn bắn là những hoạt động chính, chưa có dấu vết của
nông nghiệp, cũng không có dấu vết của gia súc, có lẽ trừ con chó.
Cũng vào thời kì ấy, ở các vùng ven biển Trung Bộ, con người sống chủ
yếu bằng đánh cá và vỏ của những con sò(ruột sò dùng làm thức ăn) được
chất thành những đống khổng lồ cao từ 5 đến 6m trải rộng trên nhiều nghìn
mét vuông, điển hình nhất là trong vùng Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Trong
các đông vỏ sò này, người ta cũng tìm thấy những xương thú(hươu, nai,
trâu, chó) và những chiếc chày với cối bằng đá rỗng để nghiền các loại hạt.
Nhiều công cụ bằng đá cũng được tìm thấy ở đấy.
Trong một đống vỏ sò ở Quỳnh Văn, đã tìm thấy nhiều ngôi mộ chôn tập
trung thành nhóm, người chết được chôn ngồi, đầu gối gấp lại, với vài công
cụ lao động và những vỏ sò, xương thú, hoặc bằng đá hay là những viên bi
bằng đất nung có đục lỗ làm đồ trang sức. Trên mặt đồ gốm xuất hiện
https://thuviensach.vn
những hình vẽ trang trí; trên vách một cái hang ở tỉnh Hòa Bình, người ta
tìm thấy một hình vẽ một con vật mình thú đầu người nhưng có sừng. Sự
tồn tại của những vỏ sò trong những hang động ở xa biển cũng như những
công cụ bằng đá ở những bờ biển không có nguyên liệu làm công cụ, có vẻ
chứng minh rằng đã có những sự trao đổi giữa hai miền.
Có lý do đế nghĩ rằng vào cuối thời đại đá mới, cách đây năm, sáu nghìn
năm, phần lớn các cư dân nguyên thủy đóng trên lãnh thổ hiện nay của Việt
Nam đã bước vào kỉ nguyên trồng lúa. Những phát hiện khảo cổ gần đây đã
cho thấy những vết tích của việc trồng lúa mỗi nơi một ít, từ Bắc chí Nam,
từ miền trung đến đồng bằng, bờ biển hay xa hơn nữa, ở các đảo ngoài
khơi. Ngoài các di chỉ đá mới đã được biết trong châu thổ Sông Hồng và
lưu vực sông Mã, người ta còn tìm thấy trên bờ biển tỉnh Quảng Ninh,
những di tích của nền văn hóa Hạ Long, có lẽ đã bắt nguồn từ các nền văn
hóa hậu Bắc Sơn. Cũng trên bờ biển nhưng quá xuống phía Nam, trong
phần bắc của Bình Trị Thiên, đã phát hiện di chỉ Bầu Tró mà lớp văn hóa
có thể coi là một giai đoạn tiến hóa cao hơn của truyền thông Quỳnh Văn.
Cũng thuộc thời kỳ này, người ta tìm thấy trên vùng cao nguyên ở tây
nam Trung Bộ những nhà ngoài trời, đặc biệt ở Gia Lai-Kon Tum và Đắc
Lắc, trong đó có rìu, dao, đá mài, những cuốc bằng đá và những đồ gốm mà
cách cấu tạo không có gì giống với những đồ vật được tìm thấy ở các nơi
khác ở Việt Nam.
Quá về phía nam trong lưu vực sông Đồng Nai, gần 50 di chỉ đá mới đã
được phát hiện trong những lớp phù sa cũ và mới của các đảo trên sông, có
khi tràn cả lên bờ, mà tiêu biểu nhất là di chỉ Cầu Sắt trong huyện Xuân
Lộc. Như vậy, cách đây hơn 4000 năm, ở miền này đã có một cuộc sống sôi
động với những điểm cư trú tương đối quan trọng. Văn hóa Đồng Nai là
một nền văn hóa của những vùng đất ở độ cao trung bình với một nền nông
nghiệp khô, khác với nền nông nghiệp ở đất ngập nước trong các miền
trũng của đồng bằng. Truyền thống này sẽ phát triển liên tục cho đến thời
kỳ đồ sắt và có thể đã dẫn đến sự hình thành nền văn hóa Óc Eo trong các
vùng đất thấp của miền Tây châu thổ sông Cửu Long.
https://thuviensach.vn
Các công cụ bằng đá mài ngày càng được chuyên môn hóa. Cái lưỡi rìu
và cuốc lim có vai hay mộng để tra cán được mài nhẵn, với những hình
dạng hình học đều đặn, những kiểu và những kích thước khác nhau, và đều
có cán. Con người biết cưa, khoan, và nhờ một loạt dụng cụ, có thể đốn
cây, khai hoang những khoảnh đất rộng, chế tạo thuyền, những đồ vật bằng
gỗ và bằng tre, cạo vỏ cây, da thú; con người có thể chế tác xương, sừng, đá
để tạo ra những chiếc nhẫn, vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt.
Nghệ thuật gốm đạt trình độ cao với việc sử dụng bàn xoay và việc nung
trong lò cung cấp những sản phẩm có chất lượng, có hình thức và kích
thước đa dạng: nồi to và nhỏ, bình, vò phần lớn mang những trang trí chạm
khắc, chủ yếu và những hình kỷ hà. Những chiếc kim bằng xương, những
guồng quay và những trục suốt bằng đất nung chứng tỏ sự tồn tại của nghề
dệt vải may quần áo, các nơi gần bờ biển hay gần sông, người ta tìm thấy
nhiều ''viên chì'' ở lưới đánh cá, bằng đất nung, cũng có những viên bi bằng
đất nung để săn bắn bằng ống xì đồng.
Sự xuất hiện nông nghiệp và chăn nuôi được khẳng định qua việc phát
hiện những cái cuốc, những vò lớn bằng gốm dùng để đựng thóc, và những
xương lợn và xương trâu. Hình như đã có trồng lúa rẫy trên núi và trong
các ruộng nước ở đồng bằng, bởi Đông Dương vốn là một trong số những
vùng trồng lúa nước sớm nhất.
Nếu ở miền núi con người tiếp tục sống trong các hang động thì ở những
di chỉ mới phát hiện gần đây ở đồng bằng, người ta tìm thấy những di tích
nhà bằng gỗ và tre; kích thước nhà hình như chứng minh rằng đó là những
nhà tập thể. Di tích các nhà rải ra trên hàng nghìn mét vuông, một diện tích
tương đương với một làng hiện nay. Số lượng không đếm xuể những dụng
cụ tìm thấy ở những nơi ấy chứng tỏ sự có mặt của hàng nghìn người, họp
thành một bộ lạc, gồm nhiều thị tộc. Nhà chắc là làm theo kiểu nhà sàn,
như các vùng dân tộc thiểu số miền núi ngày nay. Lịch sử truyền thống kể
lại rằng ''tổ tiên chúng ta xây dựng những nhà có tầng gác để tránh bị hổ tấn
công''.
https://thuviensach.vn
Sự chế tác hàng loạt các công cụ, sự xuất hiện các đồ trang sức với số
lượng lớn, những đồ gốm có trang trí, chứng tỏ sự phân công lao động đã
đạt một trình độ cao. Người chết được chôn cùng với những dụng cụ, đồ
trang sức và đồ gốm, người ta hay gặp những mộ tập thể. Sự bình đẳng
trước cái chết chứng tỏ chưa có sự phân hóa giai cấp giữa những người
sống.
Những chiếc sọ tìm thấy trong các di chỉ Hòa Bình, Bắc Sơn Quỳnh Văn,
Minh Cầm chỉ rõ rằng, các cư dân thuộc về nhóm australo-negroide; nhưng
chẳng bao lâu xuất hiện những yếu tố mongoloide. Sự pha giống những
người mongoioide đến từ phía Bắc với những người negroide ở phía Nam
sinh ra nhóm australo-negroide lúc đầu sống chung với các nhóm khác, rồi
rốt cuộc chiếm ưu thế. Các tộc người chung sống hiện nay trên đất nước
Việt Nam đều thuộc về nhóm người mongoloide phía Nam, nhưng còn
mang dấu vết ít nhiều rõ rệt của nhóm australo-negroide. Đó là sự pha
giống, cho ra đời một nhóm bản xứ, tiến triển tại chỗ với nền văn hóa của
riêng mình, chứ không phải là một cuộc di cư ồ ạt mang đến một nền văn
hóa từ bên ngoài. Kết quả nghiên cứu các công cụ bằng đá, các đố gôm của
những di chỉ khác nhau thuộc đồ đá giữa và đá mới chứng tỏ một quá trình
tiến triển liên tục nội bộ tại chỗ với sự độc đáo của riêng mình.
https://thuviensach.vn
Thời đại đồ đồng
Vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ hai trước C.N, đồ đồng bắt đầu xuất
hiện bên cạnh đồ đá. Các di chỉ có niên đại từ đầu thời đại đồ đồng phần
lớn tập trung trong miền trung du và đồng bằng sông Hồng. Điển hình nhất
là di chỉ Phùng Nguyên(tỉnh Vĩnh Phú), phát hiện năm 1958, mà những vật
thu thập được - công cụ lao động và đồ trang sức, đều được mài nhẵn rất
tính vi, chứng tỏ tình độ cao của kỹ thuật đồ đá, đặc biệt kĩ thuật cưa, cho
phép chế tạo những đồ vật có hình dạng chích xác và nhiều khi phức tạp,
với một số nguyên liệu tối thiểu. Chính trên cơ sở đó, những đồ đồng đã
xuất hiện, ngày càng chiếm ưu thế trong lĩnh vực các loại công cụ cũng như
vũ khí. Từ nền văn hóa Phùng Nguyên này của đầu thời đại đồ đồng, ta
chuyển sang giai đoạn Đồng Đậu(nửa sau nửa thiên niên kỷ thứ hai trước
C.N), rồi đến giai đoạn Gò Mun(đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước C.N) để
cuối cùng đạt đến một đỉnh cao khác, nền văn hóa Đông Sơn, mang tên của
di dủ Đông Sơn, là di chỉ quan trọng nhất, được phát hiện năm 1924, ở tỉnh
Thanh Hóa. Cho tới nay, các nhà khảo cố đã tìm thấy 98 di chỉ Đông Sơn,
cung cấp một bộ sưu tập phong phú những vật bằng đồng gồm ít nhất 50
loại khác nhau, phân bố hầu như trên khắp các vùng của bắc Việt Nam, đặc
biệt dọc theo lưu vực các sông Hồng, sông Mã và sông Cả.
Các vật đầu tiên bằng đồng, rồi bằng đồng thanh, xuất hiện trước tiên
bên cạnh những công cụ bằng đá đẽo, những đồ gốm vẫn còn mang tính
chất của thời kì đồ đá mới. Nhiều khuôn bằng sa thạch để chế tạo rìu, lưỡi
giáo, dao được tìm thấy mỗi nơi một ít. Chất lượng đồng thanh và các hình
dạng được cải tiến dần dần để cuối cùng đạt đến trình độ những sáng tạo
đặc sắc của Đông Sơn. Sự tiến hóa này đã kéo dài nhiều thế kỉ; có dấu ấn
của những đóng góp tìm ngoài vào quá trình đó, nhưng đó không phải là
yếu tố quyết định như các nhà khảo học phương Tây vẫn tưởng.
Dựa trên những tư liệu không đầy đủ, lại bị chi phối ít nhiều bởi đầu óc
thực dân, một số nhà khảo cổ học phương Tây thậm chí đã đưa ra ý kiến
https://thuviensach.vn
rằng nghệ thuật đồ đồng Việt Nam bắt nguồn từ châu Âu. Những phát hiện
gần đây cho thấy ba sự kiện quan trọng:
Nghệ thuật đồ đồng thanh xuất hiện trên cơ sở kĩ nghệ đá mới, bản thân
nghệ thuật đồng thanh cũng đã trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài đưa
đến sự sáng tạo ra những hình dáng đặc sắc của văn hóa Đông Sơn; nghệ
thuật đồng thanh được phố biến rộng trên lãnh thổ Việt Nam, và các di chỉ
được phát hiện những năm gần đây cho thay một sự thống nhất về văn
minh rất độc đáo.(3)
Những công cụ và đồ vật bằng đồng tìm thấy rất đa dạng. Ta có thể phân
biệt những công cụ sản xuất: lưỡi cày, rìu, dao, cào, đục để chế tác gỗ, kim,
dao để khắc, lưỡi câu; những đồ vật dùng trong nhà: bình, vò, nồi, vại,
chĩnh, những vũ khí: đầu mũi tên, giáo, gươm, dao găm, mâu, áo giáp;
những nhạc cụ: chuông, trống, những sản phẩm nghệ thuật: vòng đeo tay,
tượng nhỏ.
Đồ vật đặc sắc nhất chắc chắn là những trống đồng, người ta đã tìm thấy
được những trống đồng trong khắp cả vùng Đông Nam Á và ở Trung Quốc,
nhưng mọi người đều nhất trí thừa nhận những chiếc trống đẹp nhất đều đã
được phát hiện ở Việt Nam. Trống Ngọc Lũ cao 63cm, mặt trống có đường
kính 79cm, có dạng hình trụ. Ở mặt trên, giữa có hình mặt trời với rất nhiều
tia sáng tỏa ra, xung quanh có 16 vòng tròn đồng tâm với nhiều hình vẽ rất
khác nhau. Bên cạnh những hình trang trí kỷ hà là cả một đám rước gồm
những bầy hươu, chim nước với những nhân vật - người thì chơi nhạc cụ,
người thì giã gạo hay đánh trống. Người mặc áo lông chim, làm cho họ có
vẻ như những người chim, hẳn là mang tính chất vật tổ(totem): họ nhảy
múa theo nhịp phách. Trong bức tranh có những nhà sàn nhỏ, còn ở bên
dưới, trên một lỗ phình ra hình tròn, người ta thấy những thuyền đang bơi,
với những chiến sĩ trang bị bằng rìu, lao và tên.
Từ 1975, nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành ở miền Nam.
Tất cả các hình vẽ và trang trí này có tính chất vừa hiện thực vừa cách
điệu, chứng tỏ trình độ nghệ thuật cao của các tác giả. Phần lớn các vật
bằng đồng tìm thấy đều được trang trí rất đẹp hoặc có những dạng tạo hình
https://thuviensach.vn
đặc sắc. Đó rõ ràng là một nền văn minh đặc trưng, độc đáo. Các trống
đồng được sử dụng trong các lễ hội lớn, đặc biệt trong các lễ hội cầu mưa.
Các lưỡi cày bằng đồng, các lưỡi dao quắm, lưỡi liền, các hình vẽ những
cây lúa trên các lưỡi rìu, hay những người đang giã gạo chứng tỏ sự phát
triển của nông nghiệp. Nếu việc trồng lúa rẫy vẫn tiếp tục, thì việc trồng lúa
nước đang trên đà phát triển mạnh. Việc đánh cá sông và biển được tiến
hành rộng rãi. Các nghề thủ công, đồ gốm, đúc đồng, đạt đến một trình độ
cao bắt đầu tách khỏi nông nghiệp; trên các đồ gốm, thấy có vết tre đan,
nghề đan tre chắc chắn là đã phát triển rực rỡ.
Các hình trên mặt trống đồng vẽ những nhà sàn lớn cũng như những
chiếc thuyền lớn, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của nghề mộc.
Bằng chứng của sự trao đổi với bên ngoài, đặc biệt với các vùng khác
nhau của miền Nam Trung Hoa và Inđônêxia là sự phát hiện những đồ vật
khác nhau, những thứ vũ khí thời Chiến Quốc(từ thê kỷ thứ năm đến thế kỷ
thứ ba trước C.N, ở Trung Quốc) trong các ngôi mộ, trong khi các trống
đồng mang dấu ấn Đông Sơn được bán đi rất xa.
Cung với nền văn minh vật chất và những ngành nghệ thuật đã phát triển
đến trình độ sung mãn ở miền Bắc vào cuối thiên nên kỷ thứ nhất trước
C.N, người ta lại phát hiện thấy, trên một dải ven biển trải dài từ Nam Đèo
Ngang(vĩ tuyến thứ 18) đến tận lưu vực sông Đồng Nai, một nền văn minh
khác không kém phần rực rỡ và có những quan hệ rất nhiều mặt với nền
văn hóa Đông Sơn. Đó là văn hóa Sa Huỳnh, được phát hiện lần đầu tiên tại
di chỉ Sa Huỳnh, nằm trên bờ biển của tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Đặc
điểm chính của nền văn hóa này là sự tồn tại khắp nơi của những khu mộ
táng gồm những ngôi mộ bằng chum(cao trung bình 60m) chứa những vật
được táng theo là những đồ trang sức bằng đồng, đá quý hay thủy tinh,
những công cụ bằng đồng hay bằng đá, những sản phẩm tạo tác, qua đó có
thể nhận ra một truyền thong văn hóa đã tiến triển một cách liên tục trong
nhiều nghìn năm bắt đầu từ thời đại đồ đồng cho đến đầu thời đại đồ sắt(từ
thiên niên kỷ thứ tư đến thiên rên kỷ thứ nhất trước C.N).
https://thuviensach.vn
Kết quả nghiên cứu các vật thu nhặt được cho phép giả thiết rằng truyền
thống Sa Huỳnh được hình thành trên một nền tảng kinh tế mà cơ sở là việc
trồng lúa và các cây lương thực khô trên một địa hình phức tạp bao gồm cả
những gò và đồi cao, đồng bằng thấp trũng và những dải phù sa dọc bờ
biển: Cư dân Sa Huỳnh cũng đánh bắt cá biển và duy trì quan hệ liên tục
bằng đường biển với các cư dân của đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và
các đảo ở phía Nam. Như thế là các ngôi mộ chum nằm trong khuôn khổ
của một truyền thống văn hóa rộng hơn được phân bố đến tận Thượng Lào,
Thái Lan, Philipin, Inđônêxia. Văn hóa Sa Huỳnh có thế đã dẫn đến sự
thành lập các nhà nước Malai-Polynêdiêng cổ trên các đồng bằng ven biển
Trung Việt Nam ở những thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta.
https://thuviensach.vn
Các vua hùng và vương quốc Văn Lang
Các phát hiện khảo cố học, đặc biệt sự khai quật một loạt di chỉ đá mới
dọc sông Hồng, từ Phú Thọ đến gần Hà Nội, lịch sử huyền thoại như các sử
biên nên kể lại, những chỉ dẫn trích từ các tác giả Trung Quốc cổ, đều khớp
với nhau để đưa ra những thông tin ít nhiều chính xác về những buổi đầu
của lịch sử Việt Nam.
Các sử gia Trung Quốc đầu tiên gọi tên và Bách Việt gồm những cư dân
sống ở các vùng của phía nam Trung Quốc, phía nam sông Dương Tử.
Thực ra đó là một danh từ chủng loại bao gồm những nhóm tộc người khác
nhau, trong đó nhóm Lạc Việt chiếm cứ các đồng bằng và các miền ven
biển của Bắc Việt Nam hiện nay cũng như một phần tỉnh Quảng Đông của
Trung Quốc hiện nay.
Người Lạc Việt lúc đó gồm mười lăm bộ lạc đã định cư. Là nhà nông, họ
trồng lúa nước, xăm mình bằng những hình thủy quái, ăn trầu, nhuộm răng
đen, xát gạo bằng tay. Một loạt huyền thoại có ý nghĩa gắn liền với thời kỳ
đó.
Vua Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ sinh ra một trăm con trai. Một hôm
vua nói với vợ: ''Ta là dòng giống Rồng, nàng là dòng giống Tiên, chúng ta
phải chia tay''. Vua mang năm mươi người con trai xuống đồng bằng, còn
năm mươi người con trai kia theo mẹ lên núi. Lạc Long Quân truyền ngôi
cho một người con trai, mở đường cho một triều đại mười tám vua nối tiếp
nhau lấy tên là Hùng Vương. Theo lịch sử truyền thuyết, triều đại các vua
Hùng được thành lập cách đây bốn nghìn năm.
Vương quốc có tên là Văn Lang, là một liên hiệp của mười năm bộ lạc
mà hạt nhân là bộ lạc Mê Linh, đóng ở vùng Bạch Hạc, gần Việt Trì ngày
nay. Các vua Hùng cai trị thông qua các lạc hầu(quan văn) và lạc
tướng(quan võ) và những viên chức phụ trợ gọi là bố chính. Vua thì cha
truyền con nối, các lạc hầu và lạc tướng chắc cũng vậy: một tầng lớp quý
https://thuviensach.vn
tộc được hình thành như thế, trong khi các công xã nguyên thủy vẫn tồn tại,
trong đó sự phân hóa xã hội ngày càng tăng. Chiến tranh giữa các nhóm
khác nhau cũng cung cấp những nô lệ.
Vua Hùng đời cuối cùng có một người con gái rất đẹp, được hai kẻ cầu
hôn: thần núi Sơn Tinh và thần nước Thủy Tinh. Vua hứa gả nàng cho kẻ
nào mang quà cưới đến trước. Sơn Tinh đến trước và đưa nàng công chúa
lên núi, Thủy Tinh nổi giận dâng nước lên tấn công núi nhưng Sơn Tinh
chế ngự được nước, buộc nước phải rút. Nhưng hàng năm, vào mùa ấy,
cuộc chiến lại tiếp diễn giữa hai vị thần và kết cục lần nào Sơn Tinh cũng
thắng. Truyền thuyết rõ ràng phản ánh cuộc đấu tranh của dân chúng chống
những cơn lũ lụt chu kỳ của các con sông vào mùa mưa bão. Rõ ràng là từ
những buổi đầu lịch sử của mình, nhân dân Việt Nam đã phải tự tổ chức để
chế ngự nước, do đó cần đến một sự tập hợp và một tổ chức tập trung ngày
càng được củng cố cùng với sự chinh phục những châu thổ của các con
sông lớn.
https://thuviensach.vn
Vương quốc Âu Lạc
Trong khi người Lạc Việt tự tổ chức lại ở các đồng bằng và các vùng ven
biển, thì ở những miền núi của vùng Việt Bắc hiện nay và thêm một phần
tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc hiện nay, có Tây Âu(hay Âu Việt) sinh
sống, thường xuyên duy trì những trao đổi với dân Lạc Việt. Người Tây Âu
là tổ tiên của các nhóm tộc người Tày, Nùng và Choang hiện nay sống ở
bắc Việt Nam và nam Trung Quốc. Họ hình thành một liên hiệp bộ lạc mà
trung tâm nằm ở tỉnh Cao Bằng ngày nay. Giữa người Tây Âu và người Lạc
Việt cũng thỉnh thoảng xảy ra những cuộc chiến tranh lớn nhỏ.
Vào cuối thế kỷ thứ ba trước C.N, vua Thục Phán của người Tây Âu
đánh bại vua Hùng cuối cùng và thâu tóm được quyền mình các đất đai của
Tây Âu và của Lạc Việt để lập nên vương quốc Âu Lạc, vào năm 258 trước
C.N. Ông lấy vương hiệu là An Dương Vương và xây đựng một cơ chế
Nhà nước sơ khai, với một ''Triều đình'' và một quân đội mà theo lịch sử
truyền thống có thể lên đến vài vạn người. Lãnh thổ vương quốc Âu Lạc
gồm có bắc Việt Nam hiện nay đến tận dãy núi Hoành Sơn, các vùng phía
nam sông Hồng và phía tây các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An.
An Dương Vương, sau khi đánh thắng các vua Hùng, bèn dời đô từ miền
núi về đồng bằng, đóng đô ở Cổ Loa(cách Hà Nội 20 km). Thành Cổ Loa
này là di tích lịch sử quan trọng nhất của thời cố đại Việt Nam. Thành gồm
có ba vòng tường thành, tường ngoài cùng có chu vi 8.000m, cao từ 3 đến
4m, dày 12m với chân thành dày 25m. Các tường thành bằng đất được bảo
vệ từng chỗ bằng những tấm chắn bằng đất nung, bao quanh là những hố
rộng và sâu, nối liền với sông Hoàng Giang và được tăng cường ở nhiều
nơi bằng những tháp canh, những công sự phòng ngự. Năm 1959, cách lũy
thành về phía nam 300m, đã phát hiện một kho chứa hàng nghìn mũi tên
bằng đồng, rồi ít lâu sau, xung quanh thành, những rìu bằng đá chuốt hay
bằng đồng, cùng với những mũi tên, và năm 1966, ba lưỡi cày bằng đồng.
https://thuviensach.vn
Thành Cổ Loa là một công trình phòng ngự rất quan trọng, được xây
dựng với một nghệ thuật cao, làm cho việc tấn công từ bên ngoài là rất khó
khăn, bởi kẻ thù vấp phải một dãy liên hoàn những công sự phức tạp. Sự
liên thông được thiết lập giữa thành với các con sông trong vùng cho phép
những cuộc hành quân phối hợp giữa quân bộ và quân thủy. Để xây dựng
các công trình này người ta đã phải đào đắp đến hơn hai triệu mét khối đất.
Việc xây dựng bức thành này không phải là không có khó khăn dân
chúng bị bắt làm công trình này đã nổi loạn nhiều lần. Truyền thuyết kể lại
rằng ma quỷ đã phá hoại việc xây thành cho đến khi thần Kim Quy đến
giúp. Thần còn tặng cho vua một cái móng thần để khi lắp vào nỏ, nó sẽ
biến thành một thứ vũ khí giết được mọi kẻ thù, dù chúng đông đến đâu.
Quy mô của thành Cổ Loa với những kho lớn mũi tên đồng là dấu hiệu
sự xuất hiện của một quân đội nhà nghề, của một bộ máy nhà nước sơ khai.
Vương quốc Âu Lạc được sinh ra vào thời kỳ hưng thịnh của thời đại đồ
đồng, vào khoảng thế kỷ thứ ba trước C.N. Chúng ta đã thấy nông nghiệp
và thủ công nghiệp đến thời kỳ đó đã phát triển đến mức nào, thế tất phải
dựa trên cơ sở một sự phân công lao động tương đối phức tạp.
Tính chất của Nhà nước, của xã hội trong vương quốc Âu Lạc là gì? Về
vấn đề này giữa các nhà sử học Việt Nam có hai luận điểm khác nhau. Một
số cho rằng xã hội Âu Lạc là một xã hội nô lệ điển hình, với một tổ chức
kinh tế khá tinh vi, một quân đội chính quy được củng cố tốt mà bằng
chứng là thành Cổ Loa với các kho mũi tên. Những cuộc chiến tranh giữa
các bộ lạc tất phải cung cấp phần lớn số nô lệ được dùng làm nô bộc, tham
gia sản xuất nông nghiệp hay thủ công nghiệp, hoặc được sử dụng vào việc
xây dựng những công sự phòng vệ lớn. Công xã nguyên thủy vẫn vững
chắc mặc dù một số thành viên công xã có thể trở thành nô lệ.
Những nhà sử học khác, mặc dù thừa nhận sự tồn tại của nô lệ trong xã
hội Âu Lạc, nhưng cho rằng xã hội đó chưa phải chủ yếu là xã hội nô lệ;
các lực lượng sản xuất mặc dù đã tương đối phát triển vẫn chưa đủ để hình
thành một tầng lớp bóc lột và một Nhà nước giai cấp. Không nên bị huyễn
hoặc vì từ “vua” và những từ khác dùng để chỉ tầng lớp ''quý tộc'' hay các
https://thuviensach.vn
viên chức thời đó. Những công trình như đê điều, thành quách thì ngay các
công xã nguyên thủy cũng đã có thể xây dựng được. Xã hội Âu Lạc về tổng
thể vẫn là một xã hội mà nòng cốt vẫn là công xã nguyên thủy, mặc dù
công xã đó đang trên đà tan rã.
Phải thừa nhận rằng thực trạng các cuộc nghiên cứu khảo cố học với các
tư liệu viết thu thập được chưa cho phép ngả về luận điểm nào. Có những
sự việc xác thực hình như khẳng định giả thiết nô lệ, những vẫn không
cung cấp được một chỉ dẫn chính xác nào về lối sống của các giai cấp chỉ
huy hay của các nô lệ, về số lượng của họ, về các quan hệ kinh tế chính trị
pháp lý giữa chủ nô và nô lệ, cũng như về hoạt động của Nhà nước. Những
cuộc nghiên cứu đặc biệt về khảo cổ học đang được tiến hành, và có thể hy
vọng rằng sẽ có những sự kiện mới rọi những ánh sáng mới vào thời kỳ rất
quan trọng này của lịch sử Việt Nam.
Tuy nhiên có nhiều sự kiện có thể coi là đã được khẳng định, sau các
nghiên cứu khảo cổ học trong những năm gần đây:
– Sự tồn tại của con người từ thời đại đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam.
– Sự phát triển liên tục của những xã hội loài người từ thời đại đồ đá đến
thời đại kim loại với một sự tiến hóa đặc thù lệ thuộc chủ yếu vào những
nhân tố bên trong chứ không phải vào những nhân tố được mang đến từ bên
ngoài(mặc dù những nhân tố từ bên ngoài có thể đóng vai trò ít nhiều quan
trọng tùy từng thời kỳ).
– Sự phát triển một nền văn minh đồ đồng rất rực rỡ, cho thấy xã hội đã
ra khỏi tình trạng nguyên thủy của nó trong vòng vài thế kỷ trước C.N.
– Sự cần thiết phải có những công trình trị thủy đòi hỏi phải có một tổ
chức tập trung.
– Sự tồn tại kéo dài của các công xã nông thôn kéo theo sự xuất hiện
muộn màng của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất.
Điều được khẳng định là vào cuối thiên nên kỷ thứ nhất trước CN, đã
hình thành một nền văn minh độc đáo, cường tráng, nhất là trong các vùng
châu thổ và những vùng bao quanh các châu thổ, nền văn minh mà chẳng
https://thuviensach.vn
bao lâu sau đó sẽ phải chịu đựng một thử thách quyết định là sự chạm trán
với làn sóng bành trướng của phong kiên Trung Hoa. Bằng chứng rõ nhất
về sức sống mãnh liệt và tính độc đáo của nền văn minh ấy là nó đã không
để bị đồng hóa, và kết quả là, sau một quá trình chống cự lâu dài, rốt cuộc
đã nghiễm nhiên trở thành một nền văn hóa dân tộc độc lập.
https://thuviensach.vn
Chương 2
Cuộc trường chinh tiến tới độc lập
(Thế kỷ thứ nhất trước C.N - thế kỷ thứ 10 sau
C.N)
https://thuviensach.vn
Sơ lược
Trong thế kỷ thứ ba trước C.N, nhóm người Hán với cái nôi là lưu vực
sông Hoàng Hà, thống nhất vào tay mình toàn bộ Trung Quốc, đặc biệt gộp
vào trong một đế quốc tập trung những bộ tộc khác nhau cư trú ở miền nam
Trung Quốc, phía nam sông Dương Tử. Đế quốc phong kiến này chẳng bao
lâu đã phát triển nhanh vế phía nam. Năm 111 trước CN, triều đại nhà Hán
phái quân chinh phục Nam Việt, vương quốc do Triệu Đà lập nên năm 179,
bằng cách tập trung vào tay mình vương quốc Âu Lạc và một số lãnh thổ
thuộc miền Nam Trung Quốc.
Người Hán sáp nhập đất đai Âu Lạc vào đế quốc của mình, lập ra quận
Giao Chỉ, chia thành nhiều tỉnh, huyện; ba tỉnh bao gồm miền Bắc Việt
Nam hiện nay đến tận vĩ tuyến thứ 16, theo tài liệu của người Hán lúc đó
gồm có 981.735 dân. Từ đó lịch sử Việt Nam diễn biến dưới sự tác động
kết hợp của hai nhân tố trái ngược nhau: một mặt là chính sách bóc lột kinh
tế và đồng hóa về văn hóa, mặt khác, là sự chống cự bền bỉ của nhân dân
được đánh dấu bằng những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống ách đô hộ nước
ngoài, một sự chống cự kéo dài nhiều thế kỷ, rốt cuộc đã bảo toàn được bản
sắc dân tộc Việt Nam, làm nảy nở ý thức dân tộc, dẫn đến sự ra đời của một
nhà nước Việt Nam độc lập. Văn hóa dân tộc vừa bảo tồn được bản sắc độc
đáo của mình, đồng thời hấp thu nhiều yếu tố của nền văn hóa Trung Quốc,
trong mọi lĩnh vực. Hơn mười thế kỷ đã trôi qua như vậy, dẫn đến một sự
biến đổi sâu sắc của xã hội Việt Nam.
https://thuviensach.vn
Chính sách đế quốc của người Hán
Lúc đầu, ng...
Việt Nam Một Thiên Lịch Sử
(Vietnam Une Longue Histoire)
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Thể loại: History
Nhà Xuất Bản Khoa học xã hội - Thái Hà - 2007
Dịch giả: Diệu Bình
Ngày hoàn thành: 05-9-2014
Số hóa: Hanhdb
Thư viện ebook TVE-4U Read Freely, Think Freedom
Dự án ebook định dạng epub chuẩn cho mọi thiết bị di động
Epub (02/2019): @lamtam, tve-4u.org
https://thuviensach.vn
Lời nói đầu
Trong lễ tưởng niệm bác sĩ Nguyễn Khắc Viện tại Paris, Tiến sĩ Sử học
Charles Fourniau, Chủ tịch Hội Hữu nghị Pháp - Việt đã viết:
"... Ngay từ những phút đầu tiên, tôi nhận ra ngay đây sẽ là bậc thầy của
tôi. Và ông mãi vẫn là bậc thầy của tôi. Tôi may mắn được tiếp cận ông một trong những trí tuệ sáng chói nổi bật nhất. Vốn văn hóa của ông , hay
nói đúng ra là vốn các văn hóa của ông, bởi lẽ ông có đến ba vốn văn hóa,
Việt Nam, Trung Hoa, Pháp... quả thật dường như là vô hạn..."
Nhiều tác phẩm của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cho đến nay vẫn còn
nhưng giá trị lớn lao. Bất cứ đối tượng nào, từ người già, thanh niên đến trẻ
em đều có thể thấy qua tác phẩm của ông bóng dáng một người bạn , một
người thầy, một người ông với kiến thức uyên thâm và tấm lòng nhân ái.
Về một số vấn đề có tính thời sự, trong dịp tái bản cuốn Một đôi lời trước
ngày đi xa một năm, ông đã viết:
"... Mới hơn 10 năm mà nay nhớ lại nhiều việc, như là chuyện thời xa
xưa, cả nước đã chuyển sang một thời đại mới. Nay cho in lại, xin cứ giữ
nguyên bản, không sửa chữa, như là một vết tích của một thời, để bạn đọc
ngày nay thấy một số người "xưa kia" suy nghĩ những gì... Thời thế thay
đổi, không thể không thay đổi ý kiến, loại trừ một số sai lầm tư tưởng,
nhưng điều không thể thay đổi là cái đạo lý làm người. Thức thời, chứ
không phải cơ hội..."
Quả là toàn bộ tác phẩm của Nguyễn Khắc Viện, kể cả những đề tài "thời
sự" đã qua như phong trào "hợp tác xã" hay " Liên Xô" ... vẫn sáng rõ một
"đạo lý" đẹp đẽ và chung thủy của một sĩ phu trung thực, hết lòng vì nước
vì dân, nên đều có giá trị bổ sung kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn cho nhiều
thế hệ bạn đọc.
Với sự ngưỡng mộ và kính trọng đặc biệt sâu sắc với bác sĩ Nguyễn
Khắc Viện, được sự đồng ý và cộng tác của gia đình cố bác sĩ Nguyễn
https://thuviensach.vn
Khắc Viện, Công ty Cổ phần Sách Thái Hà xin giới thiệu với độc giả bộ
sách gồm 5 cuốn: Tâm tình của đất nước, Đạo và Đời, Việt Nam - Một
thiên lịch sử, Nguyễn Khắc Viện - Chân dung và kỷ niệm, Tự truyện.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả và rất mong nhận được ý kiến đóng
góp của bạn đọc gần xa.
CÔNG TY CỔ PHẦN SÁCH THÁI HÀ
https://thuviensach.vn
Chương 1
Cội nguồn từ thời đồ đá đến thời đại đồ đồng
https://thuviensach.vn
Thời đại đồ đá cũ và thời đại đồ đá mới
Nước Việt Nam nằm trong vùng Đông Nam Á: Tại đây có những dấu
hiệu được phát hiện cho thấy khỉ dạng người đã tìm xuất hiện ở nhiều nơi.
Tháng 8-1965, trong một hang động thuộc xã Tân Văn,tỉnh Lạng Sơn,
người ta phát hiện di cốt của một vượn người, và những chiếc răng của một
người vượn khác gần với người vượn Bắc Kinh hơn. Di cốt ấy đang được
nghiên cứu, nhưng những nhận xét đầu tiên cho phép xác định thời điểm
chúng xuất hiện là vào thời kì trung pleistocène(1)(khoảng 500.000 năm).
Các vết tích đầu tiên của một kỹ nghệ thực sự của con người được phát
hiện tháng 11-1960, trên núi Đọ, tỉnh Thanh Hóa: ở một độ cao cách mặt
ruộng xung quanh từ 20 đến 30m, người ta tìm thấy hàng nghìn mảnh tước
dùng để cắt, cào. Trong số các mảnh tước có những nắm đấm hình hạnh
nhân, hai mặt được gọt cẩn thận, điển hình cho thời kì chelléen. Điều đó
khẳng định sự tồn tại của sơ kì đá cũ ở Việt Nam(một số nhà khảo học Việt
Nam không công nhận điều này).
Trong nhiều hang động của các tỉnh Yên Bái, Ninh Bình, Quảng Bình
với những lớp trầm tích chứa xương động vật thuộc thời kì hậu pleistocène,
người ta đã phát hiện ra những chiếc răng và hàm của người vượn Homo
sapiens(2). Vậy là con người vẫn tiếp tục tồn tại suốt một thời gian dài, cải
tiến dần dần tuy rất chậm các công cụ của mình để tiến lên một kỹ nghệ
hoàn thiện hơn.
Vào cuối thời đại đá cũ châu thổ sông Hồng chưa được phù sa lấp đầy,
con người phải cư trú trong những khối núi đá vôi bao quanh các châu thổ,
những khối núi này có nhiều hang động rộng rãi thuận tiện cho việc cư trú,
gần các sông suối, rừng rậm sẵn thức ăn. Các hòn sỏi trong lòng suối cũng
là nguyên liệu cần thiết để chế tác công cụ. Chính trong các hang động Hòa
Bình và Bắc Sơn, người ta đã tìm thấy nhiều trung tâm văn hóa đồ đá, với
https://thuviensach.vn
những dụng cụ, những vật dụng hàng ngày, những dấu vết của bếp núc và
những thứ được bỏ lại sau bữa ăn, chủ yếu là vỏ sò, ốc và xương thú.
Các công cụ được làm bằng đá đẽo còn thô kệch có hình dạng ê-líp, hình
đĩa, hạnh nhân, làm thành những con dao, những cái cào, những rìu tay
hình chữ nhật. Những hòn sỏi được dùng làm chày để giã các loại hạt. Dần
dần xuất hiện loại rìu bằng đá mài, gọi là rìu Bắc Sơn. Các công cụ bằng
xương hay sừng thú có vẻ không phổ biến. Có khả năng là cây tre, dễ sử
dụng, được dùng rộng rãi cho nhiều việc khác nhau: cọc, tên bắn, dao và
một gốc tre già được dùng để chứa đựng, thậm chí làm nồi để nấu thức
ăn(cách làm này hiện nay vẫn còn phổ biến ở các miền núi).
Các thân tre, sọ dừa, vỏ bầu cũng được dùng làm vật đựng và nồi niêu.
Vào thời kì Bắc Sơn, đồ gốm xuất hiện. Lúc đầu đất sét được nhào và nặn
thành những khúc dài và tròn như những khúc dồi, rồi đem quấn lại để tạo
thành những vật đựng hay những nồi niêu, sau đó người ta làm nhẵn cả mặt
trong và mặt ngoài. Trong một số đồ vật được tìm thấy, người ta còn nhận
ra những dấu vết chắc là của một thứ dụng cụ giống cái bay có buộc bằng
một sợi dây leo, dùng để vỗ đất khi còn ướt. Nói chung, các đồ gốm còn
thô kệch và được nung ở nhiệt độ không cao.
Hái lượm và săn bắn là những hoạt động chính, chưa có dấu vết của
nông nghiệp, cũng không có dấu vết của gia súc, có lẽ trừ con chó.
Cũng vào thời kì ấy, ở các vùng ven biển Trung Bộ, con người sống chủ
yếu bằng đánh cá và vỏ của những con sò(ruột sò dùng làm thức ăn) được
chất thành những đống khổng lồ cao từ 5 đến 6m trải rộng trên nhiều nghìn
mét vuông, điển hình nhất là trong vùng Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An. Trong
các đông vỏ sò này, người ta cũng tìm thấy những xương thú(hươu, nai,
trâu, chó) và những chiếc chày với cối bằng đá rỗng để nghiền các loại hạt.
Nhiều công cụ bằng đá cũng được tìm thấy ở đấy.
Trong một đống vỏ sò ở Quỳnh Văn, đã tìm thấy nhiều ngôi mộ chôn tập
trung thành nhóm, người chết được chôn ngồi, đầu gối gấp lại, với vài công
cụ lao động và những vỏ sò, xương thú, hoặc bằng đá hay là những viên bi
bằng đất nung có đục lỗ làm đồ trang sức. Trên mặt đồ gốm xuất hiện
https://thuviensach.vn
những hình vẽ trang trí; trên vách một cái hang ở tỉnh Hòa Bình, người ta
tìm thấy một hình vẽ một con vật mình thú đầu người nhưng có sừng. Sự
tồn tại của những vỏ sò trong những hang động ở xa biển cũng như những
công cụ bằng đá ở những bờ biển không có nguyên liệu làm công cụ, có vẻ
chứng minh rằng đã có những sự trao đổi giữa hai miền.
Có lý do đế nghĩ rằng vào cuối thời đại đá mới, cách đây năm, sáu nghìn
năm, phần lớn các cư dân nguyên thủy đóng trên lãnh thổ hiện nay của Việt
Nam đã bước vào kỉ nguyên trồng lúa. Những phát hiện khảo cổ gần đây đã
cho thấy những vết tích của việc trồng lúa mỗi nơi một ít, từ Bắc chí Nam,
từ miền trung đến đồng bằng, bờ biển hay xa hơn nữa, ở các đảo ngoài
khơi. Ngoài các di chỉ đá mới đã được biết trong châu thổ Sông Hồng và
lưu vực sông Mã, người ta còn tìm thấy trên bờ biển tỉnh Quảng Ninh,
những di tích của nền văn hóa Hạ Long, có lẽ đã bắt nguồn từ các nền văn
hóa hậu Bắc Sơn. Cũng trên bờ biển nhưng quá xuống phía Nam, trong
phần bắc của Bình Trị Thiên, đã phát hiện di chỉ Bầu Tró mà lớp văn hóa
có thể coi là một giai đoạn tiến hóa cao hơn của truyền thông Quỳnh Văn.
Cũng thuộc thời kỳ này, người ta tìm thấy trên vùng cao nguyên ở tây
nam Trung Bộ những nhà ngoài trời, đặc biệt ở Gia Lai-Kon Tum và Đắc
Lắc, trong đó có rìu, dao, đá mài, những cuốc bằng đá và những đồ gốm mà
cách cấu tạo không có gì giống với những đồ vật được tìm thấy ở các nơi
khác ở Việt Nam.
Quá về phía nam trong lưu vực sông Đồng Nai, gần 50 di chỉ đá mới đã
được phát hiện trong những lớp phù sa cũ và mới của các đảo trên sông, có
khi tràn cả lên bờ, mà tiêu biểu nhất là di chỉ Cầu Sắt trong huyện Xuân
Lộc. Như vậy, cách đây hơn 4000 năm, ở miền này đã có một cuộc sống sôi
động với những điểm cư trú tương đối quan trọng. Văn hóa Đồng Nai là
một nền văn hóa của những vùng đất ở độ cao trung bình với một nền nông
nghiệp khô, khác với nền nông nghiệp ở đất ngập nước trong các miền
trũng của đồng bằng. Truyền thống này sẽ phát triển liên tục cho đến thời
kỳ đồ sắt và có thể đã dẫn đến sự hình thành nền văn hóa Óc Eo trong các
vùng đất thấp của miền Tây châu thổ sông Cửu Long.
https://thuviensach.vn
Các công cụ bằng đá mài ngày càng được chuyên môn hóa. Cái lưỡi rìu
và cuốc lim có vai hay mộng để tra cán được mài nhẵn, với những hình
dạng hình học đều đặn, những kiểu và những kích thước khác nhau, và đều
có cán. Con người biết cưa, khoan, và nhờ một loạt dụng cụ, có thể đốn
cây, khai hoang những khoảnh đất rộng, chế tạo thuyền, những đồ vật bằng
gỗ và bằng tre, cạo vỏ cây, da thú; con người có thể chế tác xương, sừng, đá
để tạo ra những chiếc nhẫn, vòng tay, hoa tai, chuỗi hạt.
Nghệ thuật gốm đạt trình độ cao với việc sử dụng bàn xoay và việc nung
trong lò cung cấp những sản phẩm có chất lượng, có hình thức và kích
thước đa dạng: nồi to và nhỏ, bình, vò phần lớn mang những trang trí chạm
khắc, chủ yếu và những hình kỷ hà. Những chiếc kim bằng xương, những
guồng quay và những trục suốt bằng đất nung chứng tỏ sự tồn tại của nghề
dệt vải may quần áo, các nơi gần bờ biển hay gần sông, người ta tìm thấy
nhiều ''viên chì'' ở lưới đánh cá, bằng đất nung, cũng có những viên bi bằng
đất nung để săn bắn bằng ống xì đồng.
Sự xuất hiện nông nghiệp và chăn nuôi được khẳng định qua việc phát
hiện những cái cuốc, những vò lớn bằng gốm dùng để đựng thóc, và những
xương lợn và xương trâu. Hình như đã có trồng lúa rẫy trên núi và trong
các ruộng nước ở đồng bằng, bởi Đông Dương vốn là một trong số những
vùng trồng lúa nước sớm nhất.
Nếu ở miền núi con người tiếp tục sống trong các hang động thì ở những
di chỉ mới phát hiện gần đây ở đồng bằng, người ta tìm thấy những di tích
nhà bằng gỗ và tre; kích thước nhà hình như chứng minh rằng đó là những
nhà tập thể. Di tích các nhà rải ra trên hàng nghìn mét vuông, một diện tích
tương đương với một làng hiện nay. Số lượng không đếm xuể những dụng
cụ tìm thấy ở những nơi ấy chứng tỏ sự có mặt của hàng nghìn người, họp
thành một bộ lạc, gồm nhiều thị tộc. Nhà chắc là làm theo kiểu nhà sàn,
như các vùng dân tộc thiểu số miền núi ngày nay. Lịch sử truyền thống kể
lại rằng ''tổ tiên chúng ta xây dựng những nhà có tầng gác để tránh bị hổ tấn
công''.
https://thuviensach.vn
Sự chế tác hàng loạt các công cụ, sự xuất hiện các đồ trang sức với số
lượng lớn, những đồ gốm có trang trí, chứng tỏ sự phân công lao động đã
đạt một trình độ cao. Người chết được chôn cùng với những dụng cụ, đồ
trang sức và đồ gốm, người ta hay gặp những mộ tập thể. Sự bình đẳng
trước cái chết chứng tỏ chưa có sự phân hóa giai cấp giữa những người
sống.
Những chiếc sọ tìm thấy trong các di chỉ Hòa Bình, Bắc Sơn Quỳnh Văn,
Minh Cầm chỉ rõ rằng, các cư dân thuộc về nhóm australo-negroide; nhưng
chẳng bao lâu xuất hiện những yếu tố mongoloide. Sự pha giống những
người mongoioide đến từ phía Bắc với những người negroide ở phía Nam
sinh ra nhóm australo-negroide lúc đầu sống chung với các nhóm khác, rồi
rốt cuộc chiếm ưu thế. Các tộc người chung sống hiện nay trên đất nước
Việt Nam đều thuộc về nhóm người mongoloide phía Nam, nhưng còn
mang dấu vết ít nhiều rõ rệt của nhóm australo-negroide. Đó là sự pha
giống, cho ra đời một nhóm bản xứ, tiến triển tại chỗ với nền văn hóa của
riêng mình, chứ không phải là một cuộc di cư ồ ạt mang đến một nền văn
hóa từ bên ngoài. Kết quả nghiên cứu các công cụ bằng đá, các đố gôm của
những di chỉ khác nhau thuộc đồ đá giữa và đá mới chứng tỏ một quá trình
tiến triển liên tục nội bộ tại chỗ với sự độc đáo của riêng mình.
https://thuviensach.vn
Thời đại đồ đồng
Vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ hai trước C.N, đồ đồng bắt đầu xuất
hiện bên cạnh đồ đá. Các di chỉ có niên đại từ đầu thời đại đồ đồng phần
lớn tập trung trong miền trung du và đồng bằng sông Hồng. Điển hình nhất
là di chỉ Phùng Nguyên(tỉnh Vĩnh Phú), phát hiện năm 1958, mà những vật
thu thập được - công cụ lao động và đồ trang sức, đều được mài nhẵn rất
tính vi, chứng tỏ tình độ cao của kỹ thuật đồ đá, đặc biệt kĩ thuật cưa, cho
phép chế tạo những đồ vật có hình dạng chích xác và nhiều khi phức tạp,
với một số nguyên liệu tối thiểu. Chính trên cơ sở đó, những đồ đồng đã
xuất hiện, ngày càng chiếm ưu thế trong lĩnh vực các loại công cụ cũng như
vũ khí. Từ nền văn hóa Phùng Nguyên này của đầu thời đại đồ đồng, ta
chuyển sang giai đoạn Đồng Đậu(nửa sau nửa thiên niên kỷ thứ hai trước
C.N), rồi đến giai đoạn Gò Mun(đầu thiên niên kỉ thứ nhất trước C.N) để
cuối cùng đạt đến một đỉnh cao khác, nền văn hóa Đông Sơn, mang tên của
di dủ Đông Sơn, là di chỉ quan trọng nhất, được phát hiện năm 1924, ở tỉnh
Thanh Hóa. Cho tới nay, các nhà khảo cố đã tìm thấy 98 di chỉ Đông Sơn,
cung cấp một bộ sưu tập phong phú những vật bằng đồng gồm ít nhất 50
loại khác nhau, phân bố hầu như trên khắp các vùng của bắc Việt Nam, đặc
biệt dọc theo lưu vực các sông Hồng, sông Mã và sông Cả.
Các vật đầu tiên bằng đồng, rồi bằng đồng thanh, xuất hiện trước tiên
bên cạnh những công cụ bằng đá đẽo, những đồ gốm vẫn còn mang tính
chất của thời kì đồ đá mới. Nhiều khuôn bằng sa thạch để chế tạo rìu, lưỡi
giáo, dao được tìm thấy mỗi nơi một ít. Chất lượng đồng thanh và các hình
dạng được cải tiến dần dần để cuối cùng đạt đến trình độ những sáng tạo
đặc sắc của Đông Sơn. Sự tiến hóa này đã kéo dài nhiều thế kỉ; có dấu ấn
của những đóng góp tìm ngoài vào quá trình đó, nhưng đó không phải là
yếu tố quyết định như các nhà khảo học phương Tây vẫn tưởng.
Dựa trên những tư liệu không đầy đủ, lại bị chi phối ít nhiều bởi đầu óc
thực dân, một số nhà khảo cổ học phương Tây thậm chí đã đưa ra ý kiến
https://thuviensach.vn
rằng nghệ thuật đồ đồng Việt Nam bắt nguồn từ châu Âu. Những phát hiện
gần đây cho thấy ba sự kiện quan trọng:
Nghệ thuật đồ đồng thanh xuất hiện trên cơ sở kĩ nghệ đá mới, bản thân
nghệ thuật đồng thanh cũng đã trải qua một quá trình tiến hóa lâu dài đưa
đến sự sáng tạo ra những hình dáng đặc sắc của văn hóa Đông Sơn; nghệ
thuật đồng thanh được phố biến rộng trên lãnh thổ Việt Nam, và các di chỉ
được phát hiện những năm gần đây cho thay một sự thống nhất về văn
minh rất độc đáo.(3)
Những công cụ và đồ vật bằng đồng tìm thấy rất đa dạng. Ta có thể phân
biệt những công cụ sản xuất: lưỡi cày, rìu, dao, cào, đục để chế tác gỗ, kim,
dao để khắc, lưỡi câu; những đồ vật dùng trong nhà: bình, vò, nồi, vại,
chĩnh, những vũ khí: đầu mũi tên, giáo, gươm, dao găm, mâu, áo giáp;
những nhạc cụ: chuông, trống, những sản phẩm nghệ thuật: vòng đeo tay,
tượng nhỏ.
Đồ vật đặc sắc nhất chắc chắn là những trống đồng, người ta đã tìm thấy
được những trống đồng trong khắp cả vùng Đông Nam Á và ở Trung Quốc,
nhưng mọi người đều nhất trí thừa nhận những chiếc trống đẹp nhất đều đã
được phát hiện ở Việt Nam. Trống Ngọc Lũ cao 63cm, mặt trống có đường
kính 79cm, có dạng hình trụ. Ở mặt trên, giữa có hình mặt trời với rất nhiều
tia sáng tỏa ra, xung quanh có 16 vòng tròn đồng tâm với nhiều hình vẽ rất
khác nhau. Bên cạnh những hình trang trí kỷ hà là cả một đám rước gồm
những bầy hươu, chim nước với những nhân vật - người thì chơi nhạc cụ,
người thì giã gạo hay đánh trống. Người mặc áo lông chim, làm cho họ có
vẻ như những người chim, hẳn là mang tính chất vật tổ(totem): họ nhảy
múa theo nhịp phách. Trong bức tranh có những nhà sàn nhỏ, còn ở bên
dưới, trên một lỗ phình ra hình tròn, người ta thấy những thuyền đang bơi,
với những chiến sĩ trang bị bằng rìu, lao và tên.
Từ 1975, nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành ở miền Nam.
Tất cả các hình vẽ và trang trí này có tính chất vừa hiện thực vừa cách
điệu, chứng tỏ trình độ nghệ thuật cao của các tác giả. Phần lớn các vật
bằng đồng tìm thấy đều được trang trí rất đẹp hoặc có những dạng tạo hình
https://thuviensach.vn
đặc sắc. Đó rõ ràng là một nền văn minh đặc trưng, độc đáo. Các trống
đồng được sử dụng trong các lễ hội lớn, đặc biệt trong các lễ hội cầu mưa.
Các lưỡi cày bằng đồng, các lưỡi dao quắm, lưỡi liền, các hình vẽ những
cây lúa trên các lưỡi rìu, hay những người đang giã gạo chứng tỏ sự phát
triển của nông nghiệp. Nếu việc trồng lúa rẫy vẫn tiếp tục, thì việc trồng lúa
nước đang trên đà phát triển mạnh. Việc đánh cá sông và biển được tiến
hành rộng rãi. Các nghề thủ công, đồ gốm, đúc đồng, đạt đến một trình độ
cao bắt đầu tách khỏi nông nghiệp; trên các đồ gốm, thấy có vết tre đan,
nghề đan tre chắc chắn là đã phát triển rực rỡ.
Các hình trên mặt trống đồng vẽ những nhà sàn lớn cũng như những
chiếc thuyền lớn, chứng tỏ sự phát triển mạnh mẽ của nghề mộc.
Bằng chứng của sự trao đổi với bên ngoài, đặc biệt với các vùng khác
nhau của miền Nam Trung Hoa và Inđônêxia là sự phát hiện những đồ vật
khác nhau, những thứ vũ khí thời Chiến Quốc(từ thê kỷ thứ năm đến thế kỷ
thứ ba trước C.N, ở Trung Quốc) trong các ngôi mộ, trong khi các trống
đồng mang dấu ấn Đông Sơn được bán đi rất xa.
Cung với nền văn minh vật chất và những ngành nghệ thuật đã phát triển
đến trình độ sung mãn ở miền Bắc vào cuối thiên nên kỷ thứ nhất trước
C.N, người ta lại phát hiện thấy, trên một dải ven biển trải dài từ Nam Đèo
Ngang(vĩ tuyến thứ 18) đến tận lưu vực sông Đồng Nai, một nền văn minh
khác không kém phần rực rỡ và có những quan hệ rất nhiều mặt với nền
văn hóa Đông Sơn. Đó là văn hóa Sa Huỳnh, được phát hiện lần đầu tiên tại
di chỉ Sa Huỳnh, nằm trên bờ biển của tỉnh Quảng Ngãi ngày nay. Đặc
điểm chính của nền văn hóa này là sự tồn tại khắp nơi của những khu mộ
táng gồm những ngôi mộ bằng chum(cao trung bình 60m) chứa những vật
được táng theo là những đồ trang sức bằng đồng, đá quý hay thủy tinh,
những công cụ bằng đồng hay bằng đá, những sản phẩm tạo tác, qua đó có
thể nhận ra một truyền thong văn hóa đã tiến triển một cách liên tục trong
nhiều nghìn năm bắt đầu từ thời đại đồ đồng cho đến đầu thời đại đồ sắt(từ
thiên niên kỷ thứ tư đến thiên rên kỷ thứ nhất trước C.N).
https://thuviensach.vn
Kết quả nghiên cứu các vật thu nhặt được cho phép giả thiết rằng truyền
thống Sa Huỳnh được hình thành trên một nền tảng kinh tế mà cơ sở là việc
trồng lúa và các cây lương thực khô trên một địa hình phức tạp bao gồm cả
những gò và đồi cao, đồng bằng thấp trũng và những dải phù sa dọc bờ
biển: Cư dân Sa Huỳnh cũng đánh bắt cá biển và duy trì quan hệ liên tục
bằng đường biển với các cư dân của đồng bằng sông Hồng ở phía Bắc và
các đảo ở phía Nam. Như thế là các ngôi mộ chum nằm trong khuôn khổ
của một truyền thống văn hóa rộng hơn được phân bố đến tận Thượng Lào,
Thái Lan, Philipin, Inđônêxia. Văn hóa Sa Huỳnh có thế đã dẫn đến sự
thành lập các nhà nước Malai-Polynêdiêng cổ trên các đồng bằng ven biển
Trung Việt Nam ở những thế kỷ đầu của kỷ nguyên chúng ta.
https://thuviensach.vn
Các vua hùng và vương quốc Văn Lang
Các phát hiện khảo cố học, đặc biệt sự khai quật một loạt di chỉ đá mới
dọc sông Hồng, từ Phú Thọ đến gần Hà Nội, lịch sử huyền thoại như các sử
biên nên kể lại, những chỉ dẫn trích từ các tác giả Trung Quốc cổ, đều khớp
với nhau để đưa ra những thông tin ít nhiều chính xác về những buổi đầu
của lịch sử Việt Nam.
Các sử gia Trung Quốc đầu tiên gọi tên và Bách Việt gồm những cư dân
sống ở các vùng của phía nam Trung Quốc, phía nam sông Dương Tử.
Thực ra đó là một danh từ chủng loại bao gồm những nhóm tộc người khác
nhau, trong đó nhóm Lạc Việt chiếm cứ các đồng bằng và các miền ven
biển của Bắc Việt Nam hiện nay cũng như một phần tỉnh Quảng Đông của
Trung Quốc hiện nay.
Người Lạc Việt lúc đó gồm mười lăm bộ lạc đã định cư. Là nhà nông, họ
trồng lúa nước, xăm mình bằng những hình thủy quái, ăn trầu, nhuộm răng
đen, xát gạo bằng tay. Một loạt huyền thoại có ý nghĩa gắn liền với thời kỳ
đó.
Vua Lạc Long Quân lấy nàng Âu Cơ sinh ra một trăm con trai. Một hôm
vua nói với vợ: ''Ta là dòng giống Rồng, nàng là dòng giống Tiên, chúng ta
phải chia tay''. Vua mang năm mươi người con trai xuống đồng bằng, còn
năm mươi người con trai kia theo mẹ lên núi. Lạc Long Quân truyền ngôi
cho một người con trai, mở đường cho một triều đại mười tám vua nối tiếp
nhau lấy tên là Hùng Vương. Theo lịch sử truyền thuyết, triều đại các vua
Hùng được thành lập cách đây bốn nghìn năm.
Vương quốc có tên là Văn Lang, là một liên hiệp của mười năm bộ lạc
mà hạt nhân là bộ lạc Mê Linh, đóng ở vùng Bạch Hạc, gần Việt Trì ngày
nay. Các vua Hùng cai trị thông qua các lạc hầu(quan văn) và lạc
tướng(quan võ) và những viên chức phụ trợ gọi là bố chính. Vua thì cha
truyền con nối, các lạc hầu và lạc tướng chắc cũng vậy: một tầng lớp quý
https://thuviensach.vn
tộc được hình thành như thế, trong khi các công xã nguyên thủy vẫn tồn tại,
trong đó sự phân hóa xã hội ngày càng tăng. Chiến tranh giữa các nhóm
khác nhau cũng cung cấp những nô lệ.
Vua Hùng đời cuối cùng có một người con gái rất đẹp, được hai kẻ cầu
hôn: thần núi Sơn Tinh và thần nước Thủy Tinh. Vua hứa gả nàng cho kẻ
nào mang quà cưới đến trước. Sơn Tinh đến trước và đưa nàng công chúa
lên núi, Thủy Tinh nổi giận dâng nước lên tấn công núi nhưng Sơn Tinh
chế ngự được nước, buộc nước phải rút. Nhưng hàng năm, vào mùa ấy,
cuộc chiến lại tiếp diễn giữa hai vị thần và kết cục lần nào Sơn Tinh cũng
thắng. Truyền thuyết rõ ràng phản ánh cuộc đấu tranh của dân chúng chống
những cơn lũ lụt chu kỳ của các con sông vào mùa mưa bão. Rõ ràng là từ
những buổi đầu lịch sử của mình, nhân dân Việt Nam đã phải tự tổ chức để
chế ngự nước, do đó cần đến một sự tập hợp và một tổ chức tập trung ngày
càng được củng cố cùng với sự chinh phục những châu thổ của các con
sông lớn.
https://thuviensach.vn
Vương quốc Âu Lạc
Trong khi người Lạc Việt tự tổ chức lại ở các đồng bằng và các vùng ven
biển, thì ở những miền núi của vùng Việt Bắc hiện nay và thêm một phần
tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc hiện nay, có Tây Âu(hay Âu Việt) sinh
sống, thường xuyên duy trì những trao đổi với dân Lạc Việt. Người Tây Âu
là tổ tiên của các nhóm tộc người Tày, Nùng và Choang hiện nay sống ở
bắc Việt Nam và nam Trung Quốc. Họ hình thành một liên hiệp bộ lạc mà
trung tâm nằm ở tỉnh Cao Bằng ngày nay. Giữa người Tây Âu và người Lạc
Việt cũng thỉnh thoảng xảy ra những cuộc chiến tranh lớn nhỏ.
Vào cuối thế kỷ thứ ba trước C.N, vua Thục Phán của người Tây Âu
đánh bại vua Hùng cuối cùng và thâu tóm được quyền mình các đất đai của
Tây Âu và của Lạc Việt để lập nên vương quốc Âu Lạc, vào năm 258 trước
C.N. Ông lấy vương hiệu là An Dương Vương và xây đựng một cơ chế
Nhà nước sơ khai, với một ''Triều đình'' và một quân đội mà theo lịch sử
truyền thống có thể lên đến vài vạn người. Lãnh thổ vương quốc Âu Lạc
gồm có bắc Việt Nam hiện nay đến tận dãy núi Hoành Sơn, các vùng phía
nam sông Hồng và phía tây các tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An.
An Dương Vương, sau khi đánh thắng các vua Hùng, bèn dời đô từ miền
núi về đồng bằng, đóng đô ở Cổ Loa(cách Hà Nội 20 km). Thành Cổ Loa
này là di tích lịch sử quan trọng nhất của thời cố đại Việt Nam. Thành gồm
có ba vòng tường thành, tường ngoài cùng có chu vi 8.000m, cao từ 3 đến
4m, dày 12m với chân thành dày 25m. Các tường thành bằng đất được bảo
vệ từng chỗ bằng những tấm chắn bằng đất nung, bao quanh là những hố
rộng và sâu, nối liền với sông Hoàng Giang và được tăng cường ở nhiều
nơi bằng những tháp canh, những công sự phòng ngự. Năm 1959, cách lũy
thành về phía nam 300m, đã phát hiện một kho chứa hàng nghìn mũi tên
bằng đồng, rồi ít lâu sau, xung quanh thành, những rìu bằng đá chuốt hay
bằng đồng, cùng với những mũi tên, và năm 1966, ba lưỡi cày bằng đồng.
https://thuviensach.vn
Thành Cổ Loa là một công trình phòng ngự rất quan trọng, được xây
dựng với một nghệ thuật cao, làm cho việc tấn công từ bên ngoài là rất khó
khăn, bởi kẻ thù vấp phải một dãy liên hoàn những công sự phức tạp. Sự
liên thông được thiết lập giữa thành với các con sông trong vùng cho phép
những cuộc hành quân phối hợp giữa quân bộ và quân thủy. Để xây dựng
các công trình này người ta đã phải đào đắp đến hơn hai triệu mét khối đất.
Việc xây dựng bức thành này không phải là không có khó khăn dân
chúng bị bắt làm công trình này đã nổi loạn nhiều lần. Truyền thuyết kể lại
rằng ma quỷ đã phá hoại việc xây thành cho đến khi thần Kim Quy đến
giúp. Thần còn tặng cho vua một cái móng thần để khi lắp vào nỏ, nó sẽ
biến thành một thứ vũ khí giết được mọi kẻ thù, dù chúng đông đến đâu.
Quy mô của thành Cổ Loa với những kho lớn mũi tên đồng là dấu hiệu
sự xuất hiện của một quân đội nhà nghề, của một bộ máy nhà nước sơ khai.
Vương quốc Âu Lạc được sinh ra vào thời kỳ hưng thịnh của thời đại đồ
đồng, vào khoảng thế kỷ thứ ba trước C.N. Chúng ta đã thấy nông nghiệp
và thủ công nghiệp đến thời kỳ đó đã phát triển đến mức nào, thế tất phải
dựa trên cơ sở một sự phân công lao động tương đối phức tạp.
Tính chất của Nhà nước, của xã hội trong vương quốc Âu Lạc là gì? Về
vấn đề này giữa các nhà sử học Việt Nam có hai luận điểm khác nhau. Một
số cho rằng xã hội Âu Lạc là một xã hội nô lệ điển hình, với một tổ chức
kinh tế khá tinh vi, một quân đội chính quy được củng cố tốt mà bằng
chứng là thành Cổ Loa với các kho mũi tên. Những cuộc chiến tranh giữa
các bộ lạc tất phải cung cấp phần lớn số nô lệ được dùng làm nô bộc, tham
gia sản xuất nông nghiệp hay thủ công nghiệp, hoặc được sử dụng vào việc
xây dựng những công sự phòng vệ lớn. Công xã nguyên thủy vẫn vững
chắc mặc dù một số thành viên công xã có thể trở thành nô lệ.
Những nhà sử học khác, mặc dù thừa nhận sự tồn tại của nô lệ trong xã
hội Âu Lạc, nhưng cho rằng xã hội đó chưa phải chủ yếu là xã hội nô lệ;
các lực lượng sản xuất mặc dù đã tương đối phát triển vẫn chưa đủ để hình
thành một tầng lớp bóc lột và một Nhà nước giai cấp. Không nên bị huyễn
hoặc vì từ “vua” và những từ khác dùng để chỉ tầng lớp ''quý tộc'' hay các
https://thuviensach.vn
viên chức thời đó. Những công trình như đê điều, thành quách thì ngay các
công xã nguyên thủy cũng đã có thể xây dựng được. Xã hội Âu Lạc về tổng
thể vẫn là một xã hội mà nòng cốt vẫn là công xã nguyên thủy, mặc dù
công xã đó đang trên đà tan rã.
Phải thừa nhận rằng thực trạng các cuộc nghiên cứu khảo cố học với các
tư liệu viết thu thập được chưa cho phép ngả về luận điểm nào. Có những
sự việc xác thực hình như khẳng định giả thiết nô lệ, những vẫn không
cung cấp được một chỉ dẫn chính xác nào về lối sống của các giai cấp chỉ
huy hay của các nô lệ, về số lượng của họ, về các quan hệ kinh tế chính trị
pháp lý giữa chủ nô và nô lệ, cũng như về hoạt động của Nhà nước. Những
cuộc nghiên cứu đặc biệt về khảo cổ học đang được tiến hành, và có thể hy
vọng rằng sẽ có những sự kiện mới rọi những ánh sáng mới vào thời kỳ rất
quan trọng này của lịch sử Việt Nam.
Tuy nhiên có nhiều sự kiện có thể coi là đã được khẳng định, sau các
nghiên cứu khảo cổ học trong những năm gần đây:
– Sự tồn tại của con người từ thời đại đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam.
– Sự phát triển liên tục của những xã hội loài người từ thời đại đồ đá đến
thời đại kim loại với một sự tiến hóa đặc thù lệ thuộc chủ yếu vào những
nhân tố bên trong chứ không phải vào những nhân tố được mang đến từ bên
ngoài(mặc dù những nhân tố từ bên ngoài có thể đóng vai trò ít nhiều quan
trọng tùy từng thời kỳ).
– Sự phát triển một nền văn minh đồ đồng rất rực rỡ, cho thấy xã hội đã
ra khỏi tình trạng nguyên thủy của nó trong vòng vài thế kỷ trước C.N.
– Sự cần thiết phải có những công trình trị thủy đòi hỏi phải có một tổ
chức tập trung.
– Sự tồn tại kéo dài của các công xã nông thôn kéo theo sự xuất hiện
muộn màng của chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất.
Điều được khẳng định là vào cuối thiên nên kỷ thứ nhất trước CN, đã
hình thành một nền văn minh độc đáo, cường tráng, nhất là trong các vùng
châu thổ và những vùng bao quanh các châu thổ, nền văn minh mà chẳng
https://thuviensach.vn
bao lâu sau đó sẽ phải chịu đựng một thử thách quyết định là sự chạm trán
với làn sóng bành trướng của phong kiên Trung Hoa. Bằng chứng rõ nhất
về sức sống mãnh liệt và tính độc đáo của nền văn minh ấy là nó đã không
để bị đồng hóa, và kết quả là, sau một quá trình chống cự lâu dài, rốt cuộc
đã nghiễm nhiên trở thành một nền văn hóa dân tộc độc lập.
https://thuviensach.vn
Chương 2
Cuộc trường chinh tiến tới độc lập
(Thế kỷ thứ nhất trước C.N - thế kỷ thứ 10 sau
C.N)
https://thuviensach.vn
Sơ lược
Trong thế kỷ thứ ba trước C.N, nhóm người Hán với cái nôi là lưu vực
sông Hoàng Hà, thống nhất vào tay mình toàn bộ Trung Quốc, đặc biệt gộp
vào trong một đế quốc tập trung những bộ tộc khác nhau cư trú ở miền nam
Trung Quốc, phía nam sông Dương Tử. Đế quốc phong kiến này chẳng bao
lâu đã phát triển nhanh vế phía nam. Năm 111 trước CN, triều đại nhà Hán
phái quân chinh phục Nam Việt, vương quốc do Triệu Đà lập nên năm 179,
bằng cách tập trung vào tay mình vương quốc Âu Lạc và một số lãnh thổ
thuộc miền Nam Trung Quốc.
Người Hán sáp nhập đất đai Âu Lạc vào đế quốc của mình, lập ra quận
Giao Chỉ, chia thành nhiều tỉnh, huyện; ba tỉnh bao gồm miền Bắc Việt
Nam hiện nay đến tận vĩ tuyến thứ 16, theo tài liệu của người Hán lúc đó
gồm có 981.735 dân. Từ đó lịch sử Việt Nam diễn biến dưới sự tác động
kết hợp của hai nhân tố trái ngược nhau: một mặt là chính sách bóc lột kinh
tế và đồng hóa về văn hóa, mặt khác, là sự chống cự bền bỉ của nhân dân
được đánh dấu bằng những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống ách đô hộ nước
ngoài, một sự chống cự kéo dài nhiều thế kỷ, rốt cuộc đã bảo toàn được bản
sắc dân tộc Việt Nam, làm nảy nở ý thức dân tộc, dẫn đến sự ra đời của một
nhà nước Việt Nam độc lập. Văn hóa dân tộc vừa bảo tồn được bản sắc độc
đáo của mình, đồng thời hấp thu nhiều yếu tố của nền văn hóa Trung Quốc,
trong mọi lĩnh vực. Hơn mười thế kỷ đã trôi qua như vậy, dẫn đến một sự
biến đổi sâu sắc của xã hội Việt Nam.
https://thuviensach.vn
Chính sách đế quốc của người Hán
Lúc đầu, ng...
 





