BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg

    Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học

    Thượng kinh ký sự

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 18h:05' 07-04-2024
    Dung lượng: 574.9 KB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    MỘT TẬP DU-KÝ CỦA CỤ LÃN-ÔNG

    THƯỢNG-KINH KÝ-SỰ
    (Nguyên tác Hán-văn dịch ra quốc-ngữ)
    (bổ sung Phụ-lục:
    Một nhà danh-nho và danh-y của nước ta ngày xưa - Cụ Lãn-ông)
    NGUYỄN TRỌNG-THUẬT biên dịch

    Nam-Phong Tạp-chí


    https://thuviensach.vn

    Hải-thượng Lãn-ông Lê Hữu-Trác
    Việt-nam Y-tổ


    https://thuviensach.vn

    Đây là ebook do các thành viên của diễn đàn TVE-4U.ORG thực hiện theo bản scan các tập số 69, 70, 77,
    79, 80, 82, 83, 85, 87 của Nam-Phong Tạp-chí (xuất bản từ năm 1917 đến năm 1934). Do chất lượng của
    bản scan không rõ, nên trong quá trình đánh máy và biên tập chúng tôi có thể không tránh khỏi một vài sai
    sót; nếu có, xin bạn đọc vui lòng lượng thứ. Một ít chữ Hán quá mờ, không thể nào đọc được trong bản
    scan, mà trong tác phẩm cũng không có phần âm Hán-Việt để tra cứu, nên những chữ đó chúng tôi tạm thời
    để trống như sau []; mong có bạn đọc cao minh chỉ điểm và bổ khuyết cho chúng tôi bổ sung trong phiên
    bản sau, chúng tôi xin chân thành cảm ơn trước.

    https://thuviensach.vn

    MỤC LỤC
    Tự-tự của Dịch-giả
    Phàm-lệ
    Chương thứ I. Giã cố-sơn vâng ra kinh-quốc
    Chương thứ II. Vào vương-phủ thăm mạch lần trước
    Chương thứ III. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
    Chương thứ IV. Hội tao-đàn lần thứ-nhất ở trong Kinh
    Chương thứ V. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
    Chương thứ VI. Hội tao-đàn ở trong Kinh lần thứ hai
    Chương thứ VII. Các công-khanh mời đi chữa thuốc
    Chương thứ VIII. Một nhà nữ thi-sĩ ở Thăng-long
    Chương thứ IX. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
    Chương thứ X. Các công-khanh mời đi chữa thuốc
    Chương thứ XI. Nhân đi chữa thuốc lại qua Tây-hồ
    Chương thứ XII. Nhân đi chữa thuốc qua miền cố-hương
    Chương thứ XIII. Một nhà Nữ-thi-sĩ ở Thăng-long
    Chương thứ XIV. Nghĩa cũ tình ghi
    Chương thứ XV. Cảnh lữ-huống ở trong Kinh
    Chương thứ XVI. Về thăm cố-hương
    Chương thứ XVII. Vào chữa thuốc trong Vương-phủ
    Chương thứ XVIII. Từ đế-kinh về nơi sơn-thự
    Phụ-lục. Một nhà danh-nho và danh-y của nước ta ngày xưa - Cụ Lãn–ông
    o0o


    https://thuviensach.vn

    Tự-tự của Dịch-giả
    Phàm đọc văn của một nhà hiền-triết nào ở cách đời với mình, thời trước hết phải chứng xét cái thời-đại,
    cái thân-thế cùng cách lập-thân hành-đạo của nhà hiền-triết ấy thế nào, thì mới nhận ra được những cái
    chân tinh-thần về học-thuật tư-tưởng của nhà hiền triết ấy, mà sự đọc như thế mới có ích, có thú-vị vôcùng. Bởi vậy trước khi dịch sách du-ký của cụ Lãn-ông tức là sách Thượng-kinh ký-sự này, thời tôi đã
    khảo-cứu cái thời-đại, cái thân-thế và những cách lập-thân hành-đạo của cụ, rồi tập-thành truyện-ký mà
    lạm thêm đôi lời bình-luận cho phát-siển thêm cái tinh-thần về học-thuật tư-tưởng của cụ ra, là có ý giớithiệu cụ cho các nhà đọc văn du-ký này của cụ được đỡ tốn cái công khảo-cứu mà tự-hưởng được cái íchlợi cái thú-vị vô-cùng.
    Nay xét những văn du-ký của người Việt-Nam ta cùng của cả những người ở các nước phương Đông-Á này
    từ thế-kỷ thứ mười tám tức là từ đời cụ Lãn-ông về trước thì thấy ít lắm, mà có chăng nữa chẳng qua chỉ
    dùng cái ngòi bút tài-hoa, bài văn điêu-khắc mà, vẽ-vời những cảnh-trí của nước-non, để làm cái tài-liệu
    cung cho nhà tao-nhân, mặc-khách mà thôi, chứ cầu lấy cái ngòi bút thiên-nhiên, lời văn tả-thực, ngoài
    những sự miêu-tả cảnh-trí ra lại thu-thập được cả các trạng-thái của cả các hạng người trong xã-hội, mà
    thu-thanh tróc-ảnh, truyền lại cái minh-giám có bổ-ích cho đời sau, như vậy tập du-ký của cụ Lãn-ông này,
    không khác gì những văn du-ký của các nhà danh-nho Thái-tây cận-thời, thì thực là hiếm có. Như thế thì
    tập du-ký này không phải là một tập văn du-ký kiệt-tác mới xuất-hiện ra ở trong văn-học-giới Á-Đông ta
    dư?
    Và tập văn du-ký này về phần nhiều là lược-tả có những cảnh-trí, những phong-vị cùng những nhân-vật đất
    Hà-thành. Tôi nhân đọc tập du-ký này mà đối với cái đất cố-đô kia, trong lòng bất-giác sinh ra có điều
    cảm-khái, muốn nói mà không có thể điềm nhiên đi không nói được: bởi vì đất Hà-thành là cái chỗ vănhóa phát-nguyên của nước Việt-Nam ta ngày nay, là cái chỗ chủ-não của người nước Đại-Việt ta ngày
    trước, kể đặt kinh-đô thời cũng đã trải qua năm sáu triều, kể năm cũng đã hơn bảy tám trăm năm đến nay,
    biết bao nhiêu là công-nghiệp gây-dựng ở đấy, bao nhiêu là cái tinh-hoa tụy-tụ ở đấy, thế mà nay ta muốn
    tìm đến những chỗ di-tích để mà chiêm-bái các đấng tiền-nhân, thời ngoài cái Văn-miếu từ Lý-triều sángtạo đến quốc-triều trùng-tu, với một pho tượng đồng thần Trấn-Vũ, đúc từ đời Lê ra, không còn cái cổ-tích
    nào là khả-quan nữa: khách du-lịch bất-đắc-dĩ muốn bằng-điếu cổ-nhân ở trên tờ giấy, thời cũng không có
    sách-vở gì để ghi chép cái di-tích nào cả. Ấy về phần hình-thức còn như thế, nữa là những cái lưu-phong
    dư-vận vô-hình kia, thì còn biết tra-vấn vào đâu cho được. May sao còn được một quyển Thượng-kinh kýsự của cụ Lãn-ông là một quyển sách của cụ chép khi cụ trùng-du thành Thăng-long vì việc phải vào thăm
    bệnh ông thế-tử của chúa Trịnh, mà sở-ngộ những những người những cảnh nào có quan-hệ đến việc cụ
    kinh-qua, thì cụ mới chép để phụ vào bộ sách thuốc của cụ mà làm cái hứng-thú riêng của bọn y-gia, khiến
    cho hậu-nhân ta mới nhờ đó mà được phảng-phất thấy cái đất Hà-thành về cuối đời Hậu-Lê là lúc trị-hóa
    và văn-vật đã về mạt-lưu rồi. Còn thì cái đất Hà-thành từ cụ Lãn-ông về trước với cái đất Hà-thành từ sau
    cụ Lãn-ông cho đến cận-thời, oang-oanh liệt-liệt thế nào, nguy-nga điển-nhã thế nào, bất-quá chỉ tóm-tắt
    vào trong bốn câu thơ của một nhà thi-nhân mới vịnh thành Hà-nội nọ. Bốn câu thơ rằng: “Ngưu-hồ dĩ biến
    tam-triều cục, Long-đỗ không dư bách-chiến thành. Nùng-lĩnh phù-vân kim cổ sắc, Nhĩ-hà lưu-thủy
    khốc ca thanh ,.,
    .” Nghĩa là cái mùi nước Ngưu-hồ đã biến theo ba lần thay đổi triều-đình; cái đất
    Long-đỗ chỉ chỉ còn cái thành trải trăm trận chiến-tranh nay bỏ không; trông đám mây bay trên núi Nùnglĩnh kia như có những sắc đời kim cổ; nghe cái dòng nước chảy dưới sông Nhị-hà nọ, hình như có những
    tiếng khóc tiếng cười. Thực là bi-đát tiêu-sơ, trơ-trọi man-mát vô-cùng, mà sự khảo-cổ đáng nên di-hận là
    đường nào, người tiền-nhân ta thực không trối được cái lỗi không biết quí-báu những cổ-khí và biên-chép
    những cố-sự là những cơ-sở tiến-hóa riêng của một dân-chủng, mà sở-dĩ thành ra cái tệ-đoan như thế là vì
    có hai cái nguyên-nhân như sau này:
    1.– Vì cái tư-tâm chuyên-chế của người Á-Đông ta, đời này nổi lên thì muốn phá-diệt đi cho hết những cái
    https://thuviensach.vn
    dấu-vết của đời đã qua, để cho người ta không còn trông thấy cái dấu cũ gì mà sinh lòng hoài-cựu nữa, cho

    nên vô-luận sự-nghiệp công hay tư, công-trình khéo hay vụng, đều làm cho tiệt-diệt đi không còn một tí gì
    mới thỏa dạ.
    2.– Vì ngày trước cái tiếng chữ Hán-tự ta học với cái tiếng của miệng ta nói thường hai đàng khác nhau
    hẳn, cho nên khi viết văn trừ những những văn có qui-thức ấn-định như văn vần, văn biền-ngẫu cùng những
    lời vắn tắt, những bài ngắn-ngủi thì mới có thể dựa theo cái mẫu-mực mà mô-phỏng được. Đến như những
    văn ký-sự, văn luận-thuyết, tràng-thiên nhất-khí, từng quyển, từng pho, lúc viết văn vừa phải cấu-tứ lại vừa
    phải dịch lời, ý-nghĩa một nơi, văn viết một nẻo, muốn cho ý-nghĩa được hiển-minh, lời lẽ được liên-tiếp,
    như tiếng nói mẹ đẻ, thực là khó. Ấy cái thông-bệnh học chữ ngoại-quốc hay là thứ chữ cổ-văn gì mà nay
    âm-thoại thông-thường ít dùng đến thời đều như thế cả, không những một người Việt-Nam ta. Cái đó chỉ vì
    không quen mà thôi, đã khó mà văn-tự lại không bày-tỏ được hết cái ý-nghĩa của mình thì dẫu có việc gì
    hay, muốn ghi-chép lấy cũng phải ngần-ngại mà chưa dám quyết, phương-chi một đời đã hồ-dễ mấy người
    có chi.
    Xem thế thì biết rằng vì cớ thứ nhất mà nước ta ít những chỗ giữ được những cái mĩ-nghệ bản-quốc đời
    xưa. Lại vì cớ thứ hai mà nước ta ít những sách ghi-chép cố-sự trong nước. Từ khi phong-khí mở-mang
    đến nay, cái nghĩa tự-do, cái học bác-cổ đã truyền-bá dần vào mà người trong nước đã biết quí-trọng
    những cổ-khí là những cổ-khí là những cái ngụ những tâm-lý, những sự-nghiệp của tiền-nhân người mình:
    lại thêm được cái thể quốc-ngữ mới này, chữ là tiếng, tiếng là chữ, biên viết liên-tiếp mà ý-nghĩa rõ-ràng,
    không những sự trạng, những nghệ-thuật, học-vấn trong xã-hội đời nay, dẫu về cổ-đại cũng có thể tìm-tòi
    chắp-nhặt dần dần rồi ghi-chép lấy để làm khuôn làm phép cho đời sau. Thế mà đương cái thời người mình
    chỉ biết có một thứ chữ Hán, chỉ sùng-trọng có một thứ chữ Hán, là thể chữ gián-tiếp khó-khăn như cớ thứ
    hai trên kia đã nói, mà trong văn-giới Hán-tự của người mình cũng chưa có cái sách ký-sự tường-tế nào,
    mà cụ Lãn-ông cũng cố công chịu khó ghi chép lấy đôi chút việc mình có quan-thiệp với đời mà bỏ sót đến
    ngày nay, cho ta được xem mà biết, thì đủ biết tác-giả là người hữu-tâm với thiên-hạ hậu-thế là dường nào.
    Từ khi tôi mới được đọc văn du-ký này của cụ Lãn-ông thì tôi muốn đem dịch ra quốc văn ngay, nhưng tôi
    còn e lời dịch-văn của tôi còn non-nớt, không đủ thấu-triệt được hết cả tinh-thần của nguyên-văn; may gặp
    dịp Phạm Thượng-chi tiên-sinh đi tây-du về, tiên-sinh đang nhiệt-tâm những sự-trạng và những di thư của
    tiền-nhân ta, mà dịch ra quốc-văn để gây dựng lấy cái nền văn-tự cho nước nhà. Bời vậy tôi có đem trình
    tiên-sinh duyệt cho một cuốn truyện cụ Lãn-ông bằng quốc-văn mà tôi mới biên-dịch ra, thì tiên-sinh vui
    lòng nhận ngay mà cho đăng lên báo-chương, và chính cái tên “Một nhà danh-nho và danh-y nước ta ngày
    xưa: Cụ Lãn-ông” của cuốn truyện ấy là Phạm tiên-sinh mệnh-đề cho, là vì thích-hợp với cái chủ-nghĩa của
    tiên-sinh trên nọ, nên tiên-sinh mới lượng-thứ cái lời văn quê-mùa đi cho tôi. Vậy nay tôi lại thừa dịp mà
    dịch luôn cuốn du-ký của cụ Lãn-ông này, xin hải-nội chư-quân-tử cũng đồng một ý cho như Phạm-tiênsinh đối với cuốn truyện cụ Lãn-ông của tôi, nghĩa là vì người trong làng văn mà rộng lòng cho cái lời viết
    văn vậy, thì tôi lấy làm may lắm. Nay kính-tự.
    Dịch-giả đề bài tự-tự ở trên sân nước lụt trong nhà Hải-nam thư-hiên.
    N. T. T.


    https://thuviensach.vn

    Phàm-lệ
    1.– Nguyên-văn không có chia ra từng chương từng tiết, từ đầu đến cuối chỉ nói liên một hơi, người mới
    đọc bất-miễn lấy làm lan-man mà khó tổng-quát được mạch-lạc. Bởi vậy nay cứ xét trong văn-lý, hễ hết
    một việc và một mạch, thì ngắt ra làm một chương và đặt một cái tên chùm đầu chương, để giúp cho độcgiả dễ hiểu. Nhưng cái tên chùm đầu chương mới đặt thêm và cái số chương tự dịch-giả thêm vào, chứ
    không dám cải cái cốt-cách của nguyên-văn đi vậy.
    2.– Trong nguyên-văn có ba phần là: thơ, ký và y-án, mà thơ với ký là thuộc văn-học phổ-thông, ai xem
    cũng hiểu và cũng thích xem. Còn cái y-án thì thuộc về chuyên-khoa, phi những nhà chuyên-môn thì không
    hiểu được và cũng không thích xem. Bởi vậy những chỗ nói về bệnh-lý và đơn thuốc thì xin lược đi một
    đôi câu để cho chú-trọng về một khoa văn-học; nếu những nhà y-sĩ có muốn tra-cứu cho tường về khoa yhọc của cụ Lãn-ông thời đã có nguyên-thư.
    Hai điều phàm-lệ trên này: điều thứ 1 thời đứng vào địa-vị tiểu-chú; điều thứ 2 thì chỗ nào lược đi có
    đánh dấu và chua một chữ “lược”, dịch-giả phải kính-cẩn như thế, là muốn cho văn-lý được hiển-minh
    thêm và văn-thể được thuần-nhất mà đối với nguyên-văn không hại gì vậy, xin duyệt-giả thứ lỗi cho.
    3.– Nguyên tác-giả chép việc du-lịch có quan-thiệp với các bậc quốc-vương đại-thần đương-thời, cho nên
    nói đến những bậc ấy chỉ nói đến cái tôn-hiệu hay là quan-chức mà thôi, chứ không nói tên. Như đầu sách
    nói niên-hiệu Cảnh-hưng thứ 43 là niên hiệu vua Hiển-tôn nhà Hậu-Lê mà sau nói “Thánh-thượng”, nói
    “Ngự-sàng” thì thường ngờ là vua Lê. Lại nói một vị đương-quốc đại-thần mà chỉ nói quan “Chánhđường” mà thôi. Như thế người đời sau xem văn mà không tra-cứu đến những thời-sự và nhân-vật đươngthời, bất-miễn mang-nhiên không hiểu đầu đuôi cái việc du-ký ấy. Mà đã không hiểu thì tất không lĩnh-hội
    được cả cái tinh-thần lập-thân hành-đạo của Lãn-ông tiên-sinh là thế nào nữa. Bởi vậy dịch-giả đã giacông tra-cứu những thân-thế sự-nghiệp của tiên-sinh và những thời-sự nhân-vật có quan-thiệp đến tiênsinh, biên-tập và làm một chuyện ký của tiên-sinh mà giới-thiệu lên trước, xin duyệt-giả tham quan cho
    tiện.


    https://thuviensach.vn

    Chương thứ I. Giã cố-sơn vâng ra kinh-quốc
    Năm nhâm-dần, niên hiệu Cảnh-hưng thứ 43 (1781), tháng Mạnh-xuân, lúc đó trời quang mây tạnh, hoa cỏ
    đua tươi, ở trước sân nhà U-trai của tôi, có mấy cái cây đang ra hoa kết quả, tuyết rủ hương bay, tha-thướt
    bóng tà, hình như mĩ-nhân đâu vơ-vẩn. Những con đống-giao thời bò ra từng đàn, thỉnh-thoảng có mùi dịhương. Dưới ao bình-trì về mé tây-viên thời cá thung-thăng dợn sóng ra ăn vòng nguyệt. Mấy con oanh
    vàng líu-lô và thấm-thoắt đưa thoi trong cái bụi rậm um-xùm kia, càng tỏ ra có cái ý sinh-dục của tạo-vật.
    Trong những khi ấy: có lúc thì tôi dắt mấy tên đồng lên chơi núi, tha-hồ ngắm cảnh yên-hà mà giải-trí; có
    lúc thời tôi ngồi câu ở Nghinh-phong-đình ; có lúc thì tôi dạo cung cầm ở Tị-huyên-lư ; có lúc thì tôi xem
    sách ở Tối-quảng-đình ; lại có lúc thì tôi đánh cờ rồi ngủ ở Di-chân-đường ; tùy ý tôi thích chơi đâu thì
    chơi, ngày nào cũng chén say la-cà ra rồi mới về. Đến ngày 12 tháng ấy, bỗng thấy hai người dịch-mục của
    quan Thự-trấn bản-xứ sai về, mới tới sân thì hai người cùng nói lên rằng: “Cụ lớn tôi có lời mừng cho
    cụ”, tôi chưa hiểu ra việc gì, bèn bóc phong-thơ ra xem, thì thấy có hai đạo văn-thư như sau này.
    Một đạo là bản sao lời truyền rằng:
    “Quan Nội-sai-binh-phiên Trạch-trung-hầu phụng lời chỉ này mà truyền cho quan Thự-trấn xứ Nghệ-an là
    Côn-lĩnh-hầu phải hỏi thăm cho được một người tính-danh là Lê Hữu-Trác , tục gọi “Chiêu Bảy”, con
    quan tiền Thượng-thư họ Lê, làng Liêu-xá , huyện Đường-hào ; nay vào ở quê mẹ làng Tình-diễm , huyện
    Hương-sơn; rồi phải lượng sai lính trấn-binh tức-khắc đưa tiến kinh thi-mệnh.
    “Nay chỉ truyền
    “Ngày 29, tháng 11, năm Cảnh-hưng thứ 42”
    Một đạo là thủ-thư của quan Thự-trấn đưa mừng tôi, đại-lược rằng:
    “Một người học-trò nơi thảo-dã, mà nhất-đán danh tiếng đạt đến Cửu-trùng, thời thực đáng nên mừng-rỡ
    cho con đường tiền-trình muôn dặm kia là đường nào.” Lại “Vương-mệnh bất-sĩ-giá phải tức-nhật đăngtrình ngay, ra đến Vĩnh-doanh đã có lính trấn-binh đón cả ở đó để tiến-hành”.
    Một người đem tin ấy lại bảo thầm tôi rằng: “Việc này là bởi quan Chánh-đường cử-tri cho cụ vào vào
    thăm ông Đông-cung-vương-thế-tử bị bệnh nặng đã lâu. Chuyến đi này không phải việc thường, phải bộiđạo mà đi, bất-phân mộ dạ mới được”.
    Tôi biết chuyện đầu đuôi rồi, kinh sợ vô-cùng, ngẩn người ra như thằng si, thằng ngốc đến một giờ lâu,
    người trong nhà nghe thấy, kẻ biết tôi thì họ lo thay cho tôi, kẻ không biết tôi thì họ mừng thầm cho tôi,
    không phải bàn đến cái việc của những bọn người nhà họ làm râm-ran cả lên một hồi bấy giờ nữa.
    Nguyên quan Chánh-đường về hồi 4, 5 năm trước, ông phụng-mệnh ra trấn Hoan-châu có mời tôi xem
    mạch và chữa thuốc, ông đãi tôi là bậc thượng-tân, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu, lễ-ý rất là long-trọng.
    Sau ông có cái công bình được bọn hải-khấu, về triều làm đến Tam-công , tín-dụng không ai bằng. Tôi
    nghe tin mấy năm nay vẫn lấy làm lo canh-cánh ở trong lòng, thường nói chuyện với học-trò rằng: “Tôi
    chắc thể nào cũng phải một phen lao-lục vào huyễn-điện ở chốn kinh-kỳ mà phụ với cỏ hoa chốn cố-sơn
    này chớ chẳng không.” Đến ngày nay sự-thể quả như thế, tôi cũng ân-hận cho tôi đi ẩn chưa được kín. Tuynhiên, ông là người có tài-đức như ông Cơ-công ngày trước, đối với những người thiên-hạ chi-sĩ, ai ông
    cũng đãi một cách nghiêm-cung tử-tế, nữa là ông đối với tôi.
    Bấy giờ có một người giải-muộn cho tôi rằng: “Ông là một người uyên-súc và tinh-thâm về cái học tínhmệnh, không làm nên một nhà lương-tướng thì cũng nên làm một nhà lương-y, đã đành cái sự sản-thái maiquang, vẫn là cao-thượng, nhưng nay cửu-trùng tri-ngộ, tứ-hải nghe danh, thì lại không phải là cái việc của
    kẻ trượng-phu đáng nên làm hay sao?” Tôi ngần-ngừ mà trả lời rằng: “Vị hoa nên người ta hái, vị hư-danh
    nên phải lụy mình.” Vậy thời căng-danh sao bằng đào-danh có thú hơn không?”
    Bấy giờ tôi bất-rứt không biết là dường nào, suốt đêm không ngủ, tự nghĩ thầm trong bụng rằng: “Mình lúc
    thiếu-thời mài gươm, đọc sách, rồi phiêu đãng chốn giang-hồ, chốc ngoại mười-lăm năm, không sở-đắc
    được một cái gì, sau vất bỏ cả công-danh ra ngoài về ẩn-cư ở dưới núi Hương-sơn này, vừa nuôi mẹ, vừa
    https://thuviensach.vn
    xem sách cho được tiêu-dao trong cái vườn đạo-lý của ông Hiên ông Kỳ, mà tự lấy cái sự bảo-thân tế-thế

    làm đắc-sách, hay đâu nhất-đán bị cái hư-danh nó làm lụy cho mình thế này.” Nghĩ chán rồi tôi lại tự an-ủi
    lấy cho tôi rằng: “Mình khốn-tâm hành-lự về một khoa y-học đã ba-mươi năm nay, tập được một bộ Tâmlĩnh , muốn đem vấn-thế, nhưng việc cả, nhà nghèo, khôn lẽ làm cho xong việc, vậy xin quỉ-thần cảm-cách
    cái tấm thành-tâm này cho, thì chuyến đi chắc có chỗ tao-ngộ cũng chưa biết chừng”. Nghĩ quanh tính quẩn
    như thế rồi bất-giác mừng hớn-hở cả người lên, bèn ra tiếp-đãi hai người lai sứ và viết một phong-thơ để
    trả lời quan bản-trấn. Ông vốn là người tương-tri với tôi, ông muốn làm tờ khải để nói thay cho tôi, nên tôi
    phải kê cả cái sự tôi đã suy-lão rồi, xin ông chước-miễn đi cho. Hôm sau quan bản-trấn lại sai một tên
    thuộc-vệ đem một lá phiếu về, trong phiếu nói rằng: “Bản-chức đã vát-thủ những thuyền-chích để đi
    duyên-giang cho tới trạm, vậy ông phải khởi-thân ngay, nếu còn trì-duyên thì sẽ can-hệ.” Mà kẻ trong nhà
    tôi chúng nó cũng cố hết sức khuyên dỗ tôi, tôi biết thế-bất-đắc-dĩ, tức thì đạt giấy cho bọn đạo-đồ hợp lại;
    ngày mười-tư làm lễ tiên-thánh, tiên-hiền, rồi hát một chầu; ngày mười-sáu bọn đạo-đồ thấy tôi có việc
    viễn-hành lại bày một tiệc hát nữa; ngày mười-bảy tôi sắp-sửa nửa quảy đồ-thư, một bên cầm-kiếm, cho
    đem xuống thuyền để đi đường thủy ra Vĩnh-dinh. Bấy giờ tân-khách đến chơi đông một nhà, kẻ thì xin
    thuốc, người thì tiễn tiền, dùng-dằng chẳng nỡ chia tay, mãi đến lúc mặt trời đã xế non đoài mới nhổ sào
    xuôi, lúc đó tôi ngồi ở trong thuyền, đối-cảnh hàm-tình, lòng khách chứa-chan không biết là chừng nào,
    mới ứng-khẩu đọc ra một bài thơ rằng:

    .
    Nước chảy đâu mà vội,
    Hành-nhân vẫn lững-lờ.
    Trèo đèo lên đám khói,
    Núi chạy rẽ đôi bờ.
    Cá sông đưa tất-tả,
    Nhạn cồn tiễn ngẩn-ngơ.
    Mây ám cây Hương-lĩnh,
    Bóng hôm nửa rõ mờ.
    Đêm hôm ấy, thuyền đi dưới bóng trăng, trông ra làng-mạc hai bên bờ sông đều im-ả cả, thỉnh-thoảng tiếng
    chó sủa theo thuyền đi, một vầng minh-nguyệt, vằng-vặc lòng sông; đôi ngạn hải-trào, mênh-mông bến
    khách; chuông nện chùa xa văng-vẳng, sương sa bụi dặm mịt-mù; mấy ngọn ngư-đăng hiu-hắt, vài đôi âu-lộ
    sóng bày. Bọn đạo-đồ tùy-hành ai nấy mượn chén tiêu-sầu. Tôi bèn ngâm một thiên tiểu-luật để tự-tình
    rằng:

    .
    Một dải sông quang tạnh,
    Xui lòng khách chứa chan.

    https://thuviensach.vn

    Gió mạnh buồm xuôi chóng,
    Sương mù nhạn rẽ ngang.
    Véo-von chài viễn-phố,
    Lanh-lảnh khách hàn-san.
    Ấy cảnh đêm nay thế,
    Mai biết đâu mà bàn.
    Gà gáy đến Vĩnh-dinh, cắm sào trước bến đi nghỉ được một chốc. Sáng mười-tám đổ bộ, vào yết quan Thự
    trấn thì ông đợi tôi đã mấy hôm, nhân nhà ông có tiên-kỵ, nên ông phải về quê rồi, chỉ dặn lại người thuộcviên sắp-sẵn lính bản-dinh với năm quan tiền để cung bản-phí mà nói rằng: “Quan tôi có tiên-kỵ phải về
    quê không kịp tiếp cụ, có chút vi-thành này xin cụ tỏ tình cho.” Quan Thự-trấn lại phái một quan Văn-thư
    đem ba-mươi tên lính bản-đạo và sắp đủ khẩu-lương để đi hộ-tống. Ngày hai-mươi quan Văn-thư sửa-sang
    hành-lý đăng-trình, nhưng bọn lính tùy-hành ấy chưa đủ lương, còn phải đi vay giật, mãi đến quá trưa mới
    trẩy được. Tôi nghỉ ở trạm xã Kim-khê , quan Văn-thư làm lễ vào yết miếu ở làng ấy; ông có đặt một
    tiệc hát mà cho mời tôi, tôi đến thì thấy một “cô đồng” đang hầu giá nhà thánh ngồi trên sập, vừa đảo vừa
    đang lảm-nhảm nói, có người bảo tôi rằng: “Thánh-mẫu đây linh-ứng lắm, cụ thầy nhân vô Kinh, có muốn
    cầu việc gì thì sao không ra mà kêu ngài.” Tôi nói: “Phàm ai cũng cầu lấy cái sở-đắc, chứ có ai cầu lấy cái
    sở-thất, bụng tôi không có nguyện-đắc cái gì, thì còn cầu mà làm chi.” Cô đồng nghe nói tủm-tỉm cười,
    quan Văn-thư cũng trông tôi cả cười. Nửa đêm tan tiệc, ai nấy đều về nhà trọ nghỉ, sáng sớm tinh sương
    ngày hai-mươi mốt chúng tôi khởi-hành, bấy giờ gặp trận mưa dầm tầm-tã, một tụi hành-nhân rét-mướt quá
    thể, mà trông lên đàng trước mặt thì núi san-sát dãy dài hàng mấy trăm ngọn, đường sá gập ghềnh, tôi thấy
    đường đi bạt-thiệp gian-nan như thế, bất-giác buột miệng ngâm nga một câu rằng:
    .
    Trời nam sắc nước như chàm,
    Thương anh lẽo-đẽo dặm đàng còn xa.
    Đường đi qua Cấm-sơn , sang đò Cấm-giang , tới bến Thiết-cảng . Lúc đó hơi mặt bể, khói đầu non, bốc
    lên nghi-ngút, thực như câu:
    Núi này trăm sáu ngọn cao,
    Chẳng may sư cụ nẻo nào ra vô.
    Độ trong vài bước mà không ai trông thấy ai, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hót ở trên tầng mây, nhác xem
    cái thú sơn-lâm ấy, hình như có ý khiến cho tôi phải đối-cảnh sinh-tình mà có điều cảm-súc thầm ở trong
    bụng rằng: ba-mươi năm nay, cái đám lợi danh kia, mình đã buông theo với dòng lưu-thủy, để cho được
    ưu-du trong cái chỗ suối rừng, lấy một chữ nhàn làm đắc-sách; ai hay đã không có cái bụng lợi-danh mà
    lại hóa ra làm cái thân danh-lợi thế này, thật chỉ vì mình không chân-độn được nên mới phải thế, nhân cảmhoài nên một bài thơ để dãi lòng rằng:

    .
    Nương-náu nghề y để dưỡng-chân,
    Nghĩ chi là phú nghĩ chi bần.
    Suối rừng quanh-quẩn khuây vì đạo,
    Chiếu mệnh xa vời phải dấn thân.

    https://thuviensach.vn

    Nửa gánh yên-hà thêm nhọc trạm,
    Đầy ngàn viên hạc rộn đưa chân.
    Biết ai đâu nữa mà mang tiếng,
    Luống sợ sơ-cuồng trước thánh-quân.
    Tối hôm ấy đến chợ Đông-điệp , nghỉ lại …(lược)… Sáng mai tôi cho một tên tùng-nhân đến cáo với quan
    Văn-thư để cho bọn chúng tôi đi trước, mà hẹn đến trạm chợ Hoàng-mai thì cùng nghỉ, vì quan Văn-thư
    nhân có việc quan chưa xong, còn phải đóng ở đó, nên y vâng lời ngay. Ngày hai-mươi-hai tôi đưa bọn
    tùng-nhân đi trước ra mé tây núi, núi ấy một dải liền nhau, ngọn thì ẩn, ngọn thì hiện ở trên đám mây trắng,
    lại có mấy quả núi nhỏ li-quần mọc ra bên đường, bóng chiều phơn-phớt hoe-hoe ánh ra ngoài đồng bằng.
    Tới núi Long-sơn thì thấy một chỗ độ một cung đất, trong có những cây cổ-thụ um-tùm, dâm-dâm man-mát,
    thật là xinh thay; đá cuội thì thâm-thấp như cái đẳng bày hàng tề-chỉnh. Tôi mới cho đỗ cáng lại ở đó để đi
    du-ngoạn một lát, nhân đề một bài thơ lên vách đá rằng:

    .
    Chùa dựng bên sườn núi,
    Chuông cheo mỏm đá hòn.
    Mây quyến thông già rụng,
    Mưa vờn cỏ xuân non.
    Bóng xế người ngâm-ngợi,
    Rừng rậm chim véo-von.
    Nực cười cho ông Lãn,
    Phụng chiếu cũng lon-son.
    Đề rồi giục-giã lên đường, đến chợ Hoàng-mai thì chiều hôm nghỉ lại, mà cũng chưa thấy quan Văn-thư
    đến. Sáng hôm sau tôi sai lính bản-dinh cứ khởi-hành, đến chiều thì quan Văn-thư mới tới nơi, y nói với
    tôi rằng: “Tôi sợ lính đi đường không đủ dùng, mà số lính quan bản-trấn tôi phụng-mệnh truyền để kén ở
    các nơi huyện-thành chưa đủ, nên tôi muốn bắt thêm mấy người nữa để đài-tải hộ vào mà đi cho chữngchạc.” Tôi nói: “Đi đây có mấy hột tiền lương mà phải lo chi việc ấy.” Sáng ngày hai-mươi-ba đi ra cầu
    Kim-lan-mạn rồi đến suối Lãnh-thủy cái chỗ Thanh Nghệ giáp-giới nhau, thấy một bọn hành-nhân đứng ở
    bên đường, trông thấy tôi thì họ đều chào vái; hỏi ra thì là người ở một làng bên đường đó, họ mới ở Kinh
    về, tôi cũng dừng võng lại nói chuyện ít lâu mới đi. Lúc đó tôi niềm quê nỗi khách, ngổn-ngang trong lòng,
    nhân ứng-khẩu ngâm ra một bài thơ rằng:
    .
    .
    .
    .
    Chỗ này giáp Hoan Ái,
    Non nước đón đưa ta.

    https://thuviensach.vn

    Trong hang tiếng chim gáy,
    Trên mây giọng tiều ca.
    Đá vầng ngăn trước lối,
    Mây biếc chặn đàng xa.
    Tiến Kinh duy có lão,
    Còn họ chỉ chuyện nhà.
    Ngày hôm đó trời xuân êm-ả, đường bộ thảnh-thơi, hôm đến chợ Thổ-sơn trọ lại. Chợ ấy có một cái đồnbinh của trấn Thanh-hoa phân-phái ra đóng trú-phòng ở đó, binh-khí cũng nhiều, thấy bọn chúng tôi họ giữ
    lại xét hỏi, sau biết chúng tôi đi có phụng-mệnh, họ mới xúm lại xin lỗi rồi lui ra. Ngày hai-mươi bốn,
    sáng sớm tiến-trình; bấy giờ mây kéo đen dầm tứ phía, sương khói mù-mịt, gió rét lạnh-lùng, dẫu mặc áo
    bông dày cũng phải rét run lên cầm-cập. Đi mấy giờ nữa mới đến bờ bể Hào-môn ; trông ra một nước một
    trời, sóng vỗ mênh-mang muôn dặm. Nhân sực nhớ đến cái việc ông Tần-Hoàng và ông Hán Vũ khi xưa,
    phí biết bao nhiêu là tâm-tư, nào cái thuật đánh cho đá phải chạy lồng lên rồi bỏ vào túi vân-nang mà quảy,
    thế mà rút cục lại cũng chẳng trông thấy cái hút bóng chỗ Bồng-lai tiên-cảnh ở đâu cả, thì thực là suyễnmậu chi thậm!-Lại cổ-nhân thường cho cái đám quan-trường là nơi hoạn-hải là biết trong chỗ phù-trầm có
    cái nguy-cơ; lúc đó tôi vừa hết sức ngắm cảnh yên-ba vừa ứng-khẩu ngâm một bài thơ rằng:

    .
    Khách đi trên mé bể,
    Ghé trông tít-mù khơi.
    Sóng mênh-mang mặt đất,
    Cơn ngùn-ngụt chân trời.
    Nước lau vầng nhật xế,
    Gió giục chiếc thuyền bơi.
    Ý thâm chữ hoạn-hải,
    Là chìm nổi đòi nơi.
    Hôm ấy quan Văn-thư sai chọn ba cái mành để sang cửa Cự-nham mà đổ bộ, vào chợ Hàng-cơm trọ lại;
    ngày hai-mươi-nhăm đi lên con đường thượng-đạo mà con đường hạ-đạo thì là cửa bể Thần-phù , qua mấy
    chỗ tôn-lăng tôi đều xuống võng đi bộ, tối đến một cái chợ nghỉ lại; sáng hai-mươi-sáu ra đi, chiều hôm
    sang đò Đài-xước đến chợ Huyện nghỉ-ngơi, ăn cơm chiều, bỗng đâu thấy một người ăn bận mũ áo thầy tu,
    tay cầm gậy trúc đi đến, xem ra có vẻ phiêu-nhiên xuất-trần, tôi lấy làm lạ, mới hỏi chủ hàng, chủ hàng nói:
    “Người là trụ-trì-tăng ở chùa bản-tự trên núi đấy, người xem bói hay lắm.” Tôi liền cho tên dược-đồng ra
    mời vào hàng, phân chủ khách ngồi xong, tôi nói: “Tôi nghe tiếng sư cụ người đây, thâm-minh về Dịch-lý,
    tôi muốn nhờ người xem cho một quẻ về con đường tiền-trình thế nào, có nên chăng?” Nhà sư không hề từ
    trối, trả lời ngay rằng: “Nay quan muốn xem việc gì thì cứ thành-tâm mà xem là linh-ứng ngay.” Tôi bèn kể
    đầu đuôi cho nhà sư nghe; nhà sư nghĩ độ một phút rồi nói to lên một câu rằng: “Quẻ này tốt lành lắm, đích
    là một việc phi-thường.” Tôi nói: “Quân-tử hỏi điều dữ chứ không hỏi điều lành, có thế nào người cứ nói
    thực.” Nhà sư nói: “Tôi xem quẻ này là quẻ “Nguyên-thủ”, có cái tượng “quân minh thần lương”; trong
    quẻ hào Chu-tước thừa vượng, hào Thanh-long cư trung; hào Bạch-hổ cư mạt, Quí-nhân lâm vào bảnmệnh, Dịch-mã ứng vào hành-niên, quẻ này đích là cái điềm được trưng-triệu, ba lần truyền mà nhật can
    https://thuviensach.vn
    thời-chi cùng được lục-hợp, thật là cá nước duyên ưa, rồng mây gặp hội, tốt lành lắm! Nhưng chỉ hiềm hào

    Bạch-hổ nó nhập tù thì lo lúc vào đến Kinh lại bị bệnh.” Tôi nghe nói nghĩ thầm trong bụng rằng: “Người
    này hình-mạo thì nham-cổ mà học-thức thì tinh-vi, chắc có cái kiến-thức xuất-nhân, nhưng chỉ hận rằng gặp
    khí muộn quá, không dò được hết chỗ uẩn-để của người ta.” Tôi mới kể qua đầu đuôi cái chuyện thực của
    tôi một lần và nói rằng: “Chỗ tôi ở tuy là một nơi rừng hang hẻo-lánh, nhưng cái thú u-nhân, trăng mặt bể,
    mây đỉnh non kia lưu-luyến đã thành ra nghiện mà không thể rời ra được, không biết bao giờ tôi lại được
    phản-hồi chỗ đó cho được giong chơi với bầy mi-lộc, đối-thoại với bọn ngư-tiều ở dưới bóng tịch-dương
    ấy?” Nhà sư nghe tôi nói cũng ta-thán mãi mà rằng: “Miếng cao-lương làm mê cho tạng-phủ người ta, sao
    người ta thì mê mà chỉ có một ngài đây là tỉnh như vậy? Tuy-nhiên, quẻ này xem ra “chủ khách vinhvượng, thượng-hạ sinh-hợp”, nên chưa đoán được quan bao giờ được về.” Tôi nghe thôi thở dài mấy tiếng,
    rồi sai tên dược-đồng lấy tiền ra hậu-tặng nhà sư; nhà sư kiên-từ và cười rằng: “Quan đi đây, xin ngài chỉ
    cho nhà chùa tôi vài chén kính-tửu là đủ.” Tôi liền sai người tùng-giả ra hàng mua một hồ rượu ngon đem
    lại; nhà sư mừng lắm, hai tay nâng lấy mà rót ra đầy một cái bát lớn, cũng chẳng hỏi gì đến đồ nhắm, há
    ngay miệng ra mà nốc một hơi như long cuốn thủy cho rõ hết, rồi nhổ nước dãi uống gầm giường mà khen
    lên một tiếng rõ to rằng: “Ngon!...” Đoạn rồi chào tôi mà từ-biệt. Bấy giờ tôi mới ra lên một cái đò đồng
    để đi, đến chiều tới chỗ trọ, quan Văn-thư đi đến chỗ nhà trọ tôi bảo tôi rằng: “Cụ với chúng tôi đi chuyến
    này là việc công-sự rất khẩn-yếu, thế mà mỗi ngày đi không được năm-mươi dặm; trong lời chỉ-truyền bữa
    nọ nói rằng: Ngày mồng mười đến Vĩnh-dinh, ngày 11 tới nhà cụ, mà nay gần nửa tháng rồi, đường trường
    còn những sáu bảy ngày nữa, trì-duyên như thế, lúc vào trình tôi lấy làm ngại lắm; xin cụ liệu chọn lấy
    những người lính nào cường-tráng cho bội-đạo đi suốt ngày, đêm khuya sẽ nghỉ; còn những người lính nào
    yếu đuối thì cho ở lại.” Tôi cười mà rằng: “Bác cần gì việc ấy, tuy chỉ-truyền rằng mười một đến nhà tôi,
    nhưng tôi còn đi chữa thuốc vắng, quãng đó lại còn phải đi tìm tôi mất mấy bữa; sau đi thì lại bị dọc
    đường mưa gió ngăn trở, như thế tưởng có mọc cánh ra hôm nay cũng vị tất đã tới nơi được.” Ông quan ấy
    cười mà rằng: “Rồi cũng phải thế mới xong.” Nói thôi pha trà uống mà đàm-tiếu với nhau, đoạn đều về nhà
    trọ nghỉ; gà gáy ngày hai-mươi-bảy giục nhau ra đi, quãng đường ấy tinh những núi non bao-bọc, mù-mịt
    khói mây, bầy hươu cái thấy tiếng người đi mà chạy bổ lên; đàn chim đang ngủ trên cành nghe tiếng người
    nói chuyện mà bay vọt ra; đó là ngàn Ba-đội . Lên đến đỉnh ngàn mới thấy nhỏ bóng chiêu-đôn, sương tan
    chưa hết, một tụi hành-nhân áo quần ướt-thướt cả; tôi mới cho đóng lại vào một cái quán bỏ không trên
    đỉnh ngàn, để đánh lửa hơ áo và sưởi và sai tên tùng-nhân lay một hòn thạch-bàn, tôi bèn ngồi lên thạchbàn tựa vào cành lá dưới gốc cổ-thụ, rồi gọi dược-đồng đun nước pha trà, nhà bếp thì đi làm bữa tảo-phạn
    mà cho mời quan Văn-thư đến chén với tôi. Đang khi đăng-cao vọng-viễn, cái ý-thú nó làm cho tôi langláng không biết là chừng nào, tôi vừa toan đọc một đôi câu cổ-thi để khiển-hứng thời bất-giác buột miệng
    đọc ngay lên rằng:
    .
    Mây ám non Tần nhà khuất nẻo,
    Tuyết phong ải Bắc ngựa lùi chân.
    Ngâm thôi dường như có điều súc-động bên lòng, lẳng-lặng chẳng muốn nói-năng chi nữa, quan Văn-thư
    thấy tôi ra dáng buồn, y cười mà rằng: “Ở đây cỏ hoa đua nở, riêng một càn-khôn, chẳng khác gì phong-vị
    ở Hương-sơn, mà sao cụ súc-cảnh sinh-tình, dường như không đượ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN VIỆT - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !