Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học
tgg

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hà
Ngày gửi: 15h:40' 19-10-2024
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hà
Ngày gửi: 15h:40' 19-10-2024
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
THÔNG TIN EBOOK
Thế giới 5000 năm
Tác giả: Chu Hữu Chi
Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
Tạo ebook: Hanhdb
Ngày hoàn thành: 28 - 03 - 2013
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
THẾ GIỚI CỔ ĐẠI
NỀN VĂN MINH DƯỚI ĐÁY ĐẠI TÂY DƯƠNG
Nền văn minh sớm nhất của loài người bắt đầu từ Lúc nào và nảy sinh ở
đâu? 2400 năm trước, nhà triết học lỗi lạc Platôn người Hy Lạp trong những
buổi nói chuyện và trong trước tác của mình đã từng nói, trước ông 9000
năm, cư dân Đại Tây Châu (Atlantic) đã có một nền văn minh rất cao. Ông
còn miêu tả sinh động các kiểu dáng kiến trúc và phương thức sinh hoạt của
cư dân Đại Tây Châu, nói rằng ở đó có nhiều công trình kiến trúc hùng vĩ,
tráng lệ, chung quanh còn trồng nhiều cây cối cành lá xúm xuê. Nhưng
không biết vào một năm nào. Đại Tây Châu này bỗng nhiên trong một đêm
chìm xuống mất hút dưới Đại Tây Dương.
Nếu đúng như lời Platôn nói thì sớm từ 12000 năm trước, loài người đã sáng
tạo ra một nền văn minh. Nhưng rút cục Đại Tây Châu ở chỗ nào, hàng
nghìn năm nay vẫn là một điều bí ẩn chưa sao giải nổi.
Tới những năm 70 của Thế kỷ XX, một số nhà khoa học đã đến gần quần
đảo Transun để nghiên cứu. Từ độ sâu 800 mét dưới biển họ lấy lên được
những nham thạch, qua giám định khoa học thì nơi này 12000 năm trước quả
thật là một mảng lục địa. Dùng kỹ thuật khoa học hiện đại khảo sát thấy
đúng như lời miêu tả của Platôn năm gần đây, các nhà khoa học đi khảo sát
dưới đáy Đại Tây Dương đã từng nhiều lần phát hiện thấy quần thể kiến trúc
cổ to lớn, ở đấy có những con đường dài, có những cây cột đá chạm khắc
tinh xảo đẹp đẽ và nhiều văn vật khác. Năm 1979, ở khu vực biển tam giác
Becmut lại có một phát hiện thật đáng kinh ngạc. Qua việc khảo sát tỉ mỉ của
đội điều tra hai nước Mỹ - Pháp, đã chứng minh được rằng dưới đáy vùng
biển này có một tòa Kim tự tháp rất lớn. Thời gian xây dựng còn sớm hơn rất
nhiều so với các Kim tự tháp ở cổ Ai Cập. Qua đo đạc khoa học, Kim tự tháp
dưới đáy biển này mỗi chiều dài 300m, cao 200m, đỉnh tháp cách mặt biển
100m. Tháp có hai khoang lớn, nước biển chảy qua các khoang với lưu tốc
rất nhanh tạo thành những lớp sóng vọt cao hung dữ trên mặt biển.
Vậy thì cư dân của Đại Tây Châu cổ xưa sớm đã chìm xuống Đại Tây
Dương rút cục là những người như thế nào? Họ đã dựng nên nền văn minh ra
sao? Họ còn sáng tạo ra những kỳ tích gì cho nhân loại? Thật đáng tiếc là
hiện nay chưa người nào có thể đưa ra lời giải đáp xác đáng. Hơn nữa, thời
gian đã cách xa hơn 12000 năm, vì vậy vấn đề hết sức thú vị này, xem ra chỉ
có thể để cho các nhà khoa học tiếp tục khảo sát và khám phá.
Từ loài vượn cổ bước xuống mặt đất sinh sống lại biết chế tác đá làm công
cụ lao động cho tới hiện nay đã có lịch sử ba bốn triệu năm. Trong những
năm tháng dài dặc đó, trong môi trường khó khăn khốn khổ, tổ tiên loài
người đã giãi nắng dầm mưa, vạch lá chặt cành, cải tạo thế giới khách quan,
cũng là tự cải tạo chính mình. Con người có bộ óc phát triển và đôi tay linh
hoạt, cũng có tiếng nói phong phú và tư duy chặt chẽ. Chính đưa vào những
cái đó mà trải qua những năm tháng lịch sử lâu dài đã sáng tạo ra những nền
văn minh rực rỡ huy hoàng nhiều hình nhiều vẻ.
Mặc dù bí ẩn về nền văn minh dước đáy Đại Tây Dương hãy còn phải chờ
các nhà khoa học khám phá thêm, nhưng những di tích lịch sử phong phú,
hàng loạt hiện vật đào được từ lòng đất và những ghi chép bằng chữ viết còn
lại trên thế giới có thể nói rõ ràng với chúng ta về cổ Ai Cập ở đôi bờ sông
Nin, về Sume và Babilon trong lưu vực sông Tigrơ và Ơphrát(nay là giải
Irắc), về cổ Ấn Độ ở lưu vực sông Hằng và sông Inđus cùng Trung Quốc bên
bờ sông Hoàng Hà và Trường Giang. Đó là những cái nôi của nền văn minh
nhân loại. Năm sáu ngàn năm nay, những nơi đó đã nuôi dưỡng, bồi đắp trí
tuệ và sức sáng tạo cho hàng triệu con người, mở ra ngọn nguồn sâu xa dài
lâu cho khoa học và nghệ thuật, cống hiến xuất sắc cho nền văn minh nhân
loại. Rất nhiều sự việc nảy sinh trong quảng thời gian này đều là những câu
chuyện thú vị hấp dẫn cho mọi người. Bây giờ mời các bạn, chúng ta hãy kể
lại những câu chuyện lịch sử của các nước trên thế giới 5000 năm nay, bắt
đầu từ cổ Ai Cập ở đôi bờ sông Nin!
VƯƠNG QUỐC CỔ AI CẬP RA ĐỜI
Ôi sông Nin, tôi ca ngợi Người,
Người từ vùng đất lớn tuôn trào, nuôi sống Ai Cập…
Một ngày nào đó dòng nước của Người khô cạn.
Thì chúng dân cũng ngừng thở.
Đây là bài thơ nổi tiếng của nhân dân Ai Cập cổ đại ca ngợi sông Nin. Sông
Nin dài hơn 6000 km bắt nguồn từ vùng cao nguyên trung bộ châu Phi. Hàng
năm vào đầu tháng Bảy, mưa lớn ở đầu nguồn và thác lũ ào ào đổ xuống
dòng sông băng qua những khe hẹp rồi xuôi chảy từ nam xuống bắc, lòng
sông mở rộng dần. Tháng Chín nước lên to nhất tràn ngập cả hai bờ, trở
thành một hồ lớn mênh mông. Tới cuối tháng Mười, mùa mưa qua đi, nước
sông mới xuống thấp chảy theo lòng sông, nhưng để lại một lớp phù sa lắng
đọng lại vô cùng mầu mỡ cho các loại cây trồng.
Ở trung hạ lưu sông Nin có một giải đất hẹp mà dài, rộng từ 3 đến 16 km bắt
đầu từ biên giới phía nam Ai Cập hiện nay chạy thẳng tới vùng phụ cận Thủ
đô Ai Cập Cairô thì dần dần mở rộng ra. Đó chính là Tam giác châu sông
Nin nổi tiếng.
Dòng sông lớn nổi tiếng thế giới này đã mang lại nguồn nước phong phú và
đất đai mầu mỡ cũng mang lại cuộc sống và sự phồn vinh cho Ai Cập.
Khoảng năm sáu nghìn năm trước Công nguyên, người cổ Ai Cập đã dần dần
định cư ở đây Lúc đầu họ sống cuộc sống nguyên thủy, dùng công cụ thô sơ
để trừ bỏ cỏ rậm và gai góc ở hai bờ sông, đào mương đắp bờ, trồng trọt các
loại cây nông nghiệp trên những mảnh đất được tưới nước. Cuối cùng đã
biến vùng đất khí hậu khô khan này thành kho lương thực nổi tiếng thời cổ
đại.
Cùng với sự phát triển kinh tế, cổ Ai Cập bắt đầu từ xã hội nguyên thủy dần
dần bước sang xã hội nô lệ. Tuy vậy khoảng năm 4000 trước Công nguyên,
Ai Cập chưa hình thành một quốc gia thống nhất. Khi đó Ai Cập có khoảng
hơn 40 châu (gọi là ''nôm''), mỗi châu đều có vị thần tôn thờ của mình, sau
này lại có quân đội và lá cờ dùng để tượng trưng cho bộ lạc, trên thực tế đó
đều là những tiểu vương quốc độc lập. Giữa các châu đã trải qua chiến tranh,
thôn tính dài lâu, cuối cùng đã phải chia vùng đồng bằng sông Nin dài và
hẹp thành hai vương quốc độc lập lớn ở Bắc bộ và Nam bộ. Bắc bộ gọi là
Vương quốc Hạ Ai Cập, Quốc vương đội mũ đỏ, lấy Rắn thần làm thần hộ
mệnh, lấy con ong làm quốc huy. Nam bộ gọi là Vương quốc Thượng Ai
Cập, Quốc vương đội mũ trắng lấy chim ưng làm thần hộ mệnh, lấy hoa
bách hợp trắng làm quốc huy.
Thượng, Hạ Ai Cập luôn luôn nổ ra chiến tranh. Vào khoảng trước sau năm
3000 trước Công nguyên, Thượng Ai Cập dần dần cường thịnh, Quốc vương
Mênét đã thân dẫn đại quân đi đánh Hạ Ai Cập.
Quân hai bên đã có trận quyết chiến ở vùng Tam giác châu sông Nin: Mênét
đầu đội mũ trắng, trên mũ trang trí mặt chim ưng thần, tự mình ra trước trận
tiền đốc chiến. Trong tiếng gào thét âm vang, gươm giáo sáng lòa, những lá
cờ vẽ hoa bách hợp trắng và những lá cờ có hình con ong vung lên, quấn vào
nhau, quân hai bên xông vào đánh giáp lá cà không sao phân giải được. Qua
ba ngày ba đêm kịch chiến, cuối cùng quân Hạ Ai Cập bị đánh tan. Quốc
vương Hạ Ai Cập đứng trước đám tù binh, tháo chiếc mũ đỏ rồi quỳ xuống
đất, hai tay nâng mũ dâng cho Mênét.
Để kỷ niệm chiến thắng này, Mênét đã gọi tên vùng đất quyết chiến này là
“Bạch Thành” (Thành trắng). Sau này nơi đây trở thành Thủ đô của Vương
quốc Cổ Ai Cập - Memphit (Memphis).
Ngày thứ hai sau lễ nhận đầu hàng, Mênét bày tiệc lớn ở Bạch Thành khoản
đãi công thần, thăng quan phong tước cho người có công. Từ đó Mênét tự
xưng là ''Vua của Thượng Hạ Ai Cập'', có lúc đội mũ trắng, có lúc đội mũ
đỏ, có lúc đội hai thứ mũ gộp lại tượng trưng cho sự thống nhất Thượng Hạ
Ai Cập.
Sau khi Ai Cập thống nhất, đã dần dần lập nên bộ máy cai trị chuyên chế.
Người cai trị tối cao cả nước là Quốc vương, được Quốc vương đặt ra các
thứ quan lại. Hàng năm đều cho người đi kiểm tra nhân khẩu, ruộng đất, súc
vật và mọi thứ tài sản trong cả nước để định ra mức tô thuế.
Quốc vương được coi như thần thánh bất khả xâm phạm. Trên các bức chạm
đá hoặc bích họa, Quốc vương đều được vẽ thành một vị thần khổng lồ hoặc
vẽ thành hình dáng rắn thần, chim ưng thần. Sau này, mọi người không còn
được gọi tên Quốc vương mà tôn xưng là Pharaôn (vốn có nghĩa là ''cung
điện'' sau chuyển sang ý ''chủ cung điện'' tương tự như Trung Quốc, Việt
Nam xưa tôn xưng vua là ''Bệ hạ'').
''Pharaôn tôn kính, Người được Trời cho thông tuệ sáng suốt thấu hiểu muôn
vật, liệu định công việc như thần. . .''. Các quan to khi triều kiến Quốc vương
đều nói những lời ca tụng đại loại như vậy, lại phải phủ phục trước ngai vua,
cúi rạp mình xuống đất hôn lên mặt đất trước chân Quốc vương, không được
tùy ý ngẩn đầu. Bắt đầu từ khi Mênét thống nhất Ai Cập vào thế kỷ XXX
trước Công nguyên, Ai Cập bước vào thời kỳ tiền Vương quốc, cho đến thế
kỷ XI trước Công nguyên lần lượt trải qua các thời kỳ Cổ Vương quốc,
Trung Vương quốc, Tân Vương quốc. Từ đó về sau Ai Cập dần dần suy yếu,
lần lượt bị Libi, Atxua xâm nhập. Giữa thế kỷ VII trước Công nguyên, giành
lại độc lập. Sau đó lại bị đế quốc Ba Tư, Hy Lạp Maxêđônia chinh phục.
Năm 30 trước Công nguyên lại bị sáp nhập vào bản đồ đế quốc Rôma.
Cổ Ai Cập là một trong những ngọn nguồn của văn minh thế giới. Nhân dân
cổ Ai Cập đã đạt được những thành tựu to lớn về các mặt chữ viết, lịch pháp,
nghệ thuật, tri thức khoa học v.v. . . đã từng có ảnh hưởng lớn tới Tây bộ
châu Á và châu Âu, đã có cống hiến lớn lao không thể phai mờ đối với lịch
sử loài người.
LAI LỊCH KIM TỰ THÁP
Ai Cập thời cổ đại từng lưu truyền một câu chuyện thần thoại xúc động lòng
người.
Trước đây rất lâu rồi, có một vị Pharaôn tài giỏi hơn người tên là Ôsirit. Ông
dạy dân trồng trọt làm bánh, nấu rượu, khai mỏ, nên mọi người đều rất kính
trọng ông. Nhưng em trai ông là Setơ lòng đã bất lương âm mưu giết anh trai
để cướp ngôi vua. Một hôm Setơ mời anh đến ăn cơm tối, lại còn mời nhiều
người cùng dự. Ăn xong, Setơ cho mang ra một chiếc rương lớn rất đẹp rồi
nói với mọi người:
-Ai có thể nằm gọn trong chiếc rương này thì tặng rương cho người đó!
Ôsirit được mọi người cổ vũ thúc giục làm thử xem sao. Ông liền nằm vào
trong rương, Setơ lập tức đậy nắp rương khóa lại rồi đem ném ông xuống
dòng sông Nin.
Sau khi Ôsirit bị hại, vợ ông đi khắp nơi tìm kiếm, cuối cùng đã tìm được thi
thể. Việc này bị Setơ biết được, y liền lúc nửa đêm đến lấy cắp thi thể, chặt
ra thành mười bốn khúc đem vất đi các nơi. Vợ Ôsirit lại đi các nơi tìm được
các mảnh thi thể chồng, đem chôn dưới đất.
Con trai của Ôsirit từ nhỏ đã rất dũng cảm. Lớn lên, chàng đánh bại Setơ trả
thù cho cha. Chàng cho đào các mảnh thi thể của cha chôn ở khắp nơi đem
về chắp lại thành xác khô ''mômi'' (còn gọi là xác ướp). Sau này được thần
linh giúp đỡ, cha chàng sống lại. Nhưng không phải sống lại chốn nhân gian
mà sống lại nơi âm phủ, làm Pharaôn ở cõi âm, chuyên xét xử người chết,
bảo vệ Pharaôn ở dương gian.
Thần thoại này đã sớm lưu truyền trong dân gian. Sau này các Pharaôn Ai
Cập nghe kể liền lợi dụng câu chuyện để lừa dối nhân dân, nói rằng pharaôn
có thần giúp đỡ, vì thế sống là người thống trị, chết vẫn là người thống trị. Ai
chống lại Pharaôn, người đó chẳng những lúc sống bị trừng phạt mà khi chết
rồi cũng phải chịu khổ ải.
Từ đó mỗi một Pharaôn Ai Cập sau khi chết đều muốn diễn lại lần nữa câu
chuyện thần thoại về Ôsirit. Đầu tiên là cử hành lễ tìm thi thể. Bước thứ hai
là làm lễ rửa thân tức giải phẫu thi thể, lấy phần nội tạng và óc bỏ ra ngoài,
biến thi thể thành xác ướp ''mômi''. Cách làm là ướp thi thể trong một dung
dịch chống thối rửa, rút hết mỡ, bóc hết da. 70 ngày sau đem thi thể phơi
khô, nhét hương liệu vào khoang bụng, quét một lớp dầu ở ngoài để tránh
cho thi thể tiếp xúc với không khí, rồi dùng vải bó chặt lấy thi thể. Như vậy
là xác ướp ''mômi'' bất hủ đã làm xong. Bước thứ ba là tụng niệm cầu đảo,
mở mắt, thông tai, thông mũi, mở mồm cho ''mômi'', đưa thức ăn vào trong
mồm ''mômi''. Truyền rằng làm như vậy thì sẽ hít thở, nói chuyện, ăn uống
như người đang sống. Cuối cùng là nghi lễ an táng, đặt ''mômi'' vào trong
quan tài đá, đưa đến phần mộ - ''nơi ở vĩnh cửu'' của Pharaôn.
Ở Ai Cập, hình thức mộ táng sớm nhất là đào huyệt ở dưới đất, bên trên đắp
thành gò đất bằng cát. Về sau huyệt mộ đào càng ngày càng sâu thành một
gian phòng dưới lòng đất, chung quanh gò đống cát bên trên xây thành một
bức tường đá Kiểu phần mộ như vậy gọi là ''mastaba'' (có nghĩa là chiếc ghế
đá).
Tới thế kỷ XXVII trước Công nguyên, Pharaôn Vương triều thứ III Ai Cập
là Jexe cho rằng loại ''mastaba'' này không thể làm nơi ở vĩnh cửu cho
Pharaôn. Thế là ông tìm kiến trúc sư xây dựng một tòa ''mastaba'' cực lớn
bằng đá xẻ. Nhưng Pharaôn vẫn thấy nó chưa thật hùng vĩ, liền cho xây
chồng lên năm tầng ''mastaba'' mỗi tầng nhỏ dân đi, làm cho độ cao của
''mastaba'' đạt tới 61m. Bên dưới có một đường hầm kiên cố rất sâu có thể đi
thông tới các hành lang và các gian phòng dưới lòng đất. Chung quanh còn
xây một lớp tường bao mô phỏng theo hoàng thành, trong tường xây dựng
đền đài dùng cho việc cúng tế. Đây chính là lăng mộ hình tháp đầu tiên của
Ai Cập, sau được gọi là ''pyramiđơ'', theo tiếng cổ Ai Cập có nghĩa là cao
vút; người Trung Quốc thấy hình dáng của tháp giống như chữ ''kim'' trong
chữ Hán nên gọi là Kim tự tháp. Do tòa Kim tự tháp này có từng bậc từng
bậc từ dưới lên cho nên mọi người gọi là ''Kim tự tháp hình bậc thang''.
Sau này, các Pharaôn như bị quỷ ám, đều muốn xây Kim tự tháp cho riêng
mình, càng ngày càng xây dựng hùng vĩ hơn. Pharaôn Vương triều thứ IV là
Khêôp sau khi lên ngôi, quyết tâm xây dựng một Kim tự tháp lớn nhất cho
mình. Ông cưỡng bức mọi người dân Ai Cập phải làm lao dịch phục vụ cho
công trình này, cứ 10 vạn người lập thành một kíp, mỗi kíp làm việc trong ba
tháng luân phiên nhau thay đổi.
Bắt đầu xây dựng công trình, hàng ngàn hàng vạn người được đưa đến vùng
núi để vận chuyển đá. Theo tính toán, mỗi tảng đá nặng khoảng 2 tấn rưỡi,
tổng cộng cần tới 230 vạn tảng đá. Đá nhiều như vậy nếu ngày nay dùng xe
lửa để chuyên chở thì phải cần tới 60 vạn toa xe. Nhưng ở thời đó không có
phương tiện vận chuyển cơ giới, vậy phải làm thế nào? Truyền rằng, người
dân Ai Cập cần cù thông minh đã nghĩ ra phương pháp rất khoa học: họ
dùng các con lăn bằng gỗ để chuyển đá, dùng sức người hay súc vật kèo đi.
Nhưng xe con lăn gỗ chở đá nặng không kéo qua được nơi mặt đất gồ ghề.
Thế là lại phải làm một con đường trải đá để chuyên chở đá. Chỉ riêng việc
làm con đường này đã tốn mất 10 năm trời. Cùng thời gian đó, một đoàn
người khác hối hả trên công trường đào những đường hầm dưới mặt đất và
huyệt mộ. Trong những đường hầm nóng nực và ngột ngạt, các dân công
dùng những cuốc xẻng bằng đồng đào bới đất đá mở đường. Công việc này
lại tốn mất đúng 10 năm trời.
Bắt đầu việc lắp đặt Kim tự tháp. Lúc đó không có cần trục, thậm chí một
thanh sắt cũng không có, làm sao đưa được những tảng đá nặng như vậy xếp
chồng lên nhau? Những người dân công đã xếp gọn tầng thứ nhất trên mặt
đất, sau đó họ đắp đất cao ngang tầng thứ nhất, có dốc nghiêng, theo chiều
dốc đó mà kéo đá lên tầng hai. Cứ như vậy mà lắp đặt các tầng cao hơn. Kim
tự tháp cao đến đâu thì đất đắp cao đến đó. Tháp làm xong đống đất đó biến
thành một trái núi lớn, mọi người lại chuyển đất đem đi nơi khác để Kim tự
tháp lộ ra. Công trình này xây lắp vô cùng gian khổ, luôn luôn có tới 10 vạn
người lao động dưới roi vọt của bọn đốc công và trong ánh nắng mặt trời
thiêu đốt. Lại mất 10 năm trời nữa. Toàn bộ công trình đã tốn thời gian tới
30 năm!
Kim tự tháp Khêôp là tòa tháp to lớn nhất trong các Kim tự tháp ở Ai Cập,
Kim tự tháp này nguyên cao đến 146,59 mét, trải qua mấy nghìn năm mưa
gió bào mòn, đỉnh tháp đã bị bóc thấp xuống gần 10 mét, đây là công trình
xây dựng cao nhất thế giới cho tới trước năm 1888, khi Pari xây dựng tháp
sắt Epfen. Mặt đáy của Kim tự tháp này hình vuông, mỗi chiều dài 230 mét,
đi vòng quanh Kim tự tháp mất một quãng đường dài gần 1 km. Giữa các lớp
đá ở thân tháp không dùng bất cứ chất liệu kết dính nào kiểu như xi măng
hiện nay mà chỉ là tảng đá này xếp chồng khít lên tảng đá kia. Các tảng đá
được mài nhẵn bóng, cho tới nay đã trải qua mấy nghìn năm, người ta vẫn
không thể nhét được một lưỡi dao mỏng vào giữa khe hai tảng đá.
Trong Kim tự tháp có ba nhà mồ. Tiến vào cửa tại mặt Bắc ở độ cao 13 mét
là một đường hầm cao chưa tới đầu người. Men đường hầm đi xuống phía
dưới, đi qua khoảng 100 mét thì tới một gian nhà đá hình chữ nhật- Do
Khêốp không vừa lòng với gian nhà mồ này nên từ chỗ giữa đốc đi xuống lại
mở một đường hầm khác đi lên phía trên thông tới gian nhà mồ của Hoàng
hậu. Ở đoạn đầu đường dốc đi lên lại mở ra một hành lang lớn. Đi theo hành
lang lớn tới một gian nhà mồ nữa, đây chính là nơi đặt quan tài đá của
Khêốp, mọi người gọi là ''mộ thất của Pharaôn''.
Sau khi Khêốp qua đời không lâu, tại một địa điểm không xa với Kim tự
tháp lớn Khêốp, người ta lại dựng lên một tòa Kim tự tháp khác. Đó là Kim
tự tháp của vua Kêphơren, con của Khêốp, cạnh đáy dài 215m, chiều cao
143 mét chỉ thấp hơn Kim tự tháp Khêốp 3 mét, nhưng có công trình kiến
trúc phù trợ hoàn chỉnh, tráng lệ. Bên cạnh tháp, xây dựng hai đền thần. Phía
tây bắc đền thần có một bức tượng khổng lồ, đầu người mình sư tử, gọi là
tượng Xphinxơ hay Nhân Sư Tượng cao 20 mét dài 57 mét, mỗi cái tai ở đầu
tượng dài tới 2 mét. Tượng này muốn tạo hình Pharaôn Khêphơren và muốn
nói lên rằng nhà vua có sức mạnh của sư tử và trí tuệ của loài người. Ngoài
móng vuốt sư tử xếp bằng đá xẻ ra còn toàn bộ tượng Nhân Sư là một khối
đá khổng lồ nguyên vẹn do các nhà điêu khắc tạc thành. Tới nay pho tượng
đã có hơn 4500 năm lịch sử.
Xây dựng xong hai Kim tự tháp lớn này, Ai Cập đã làm kiệt quệ của cải và
sức dân. Về sau này, các Pharaôn của Vương triều V và VI đều có xây dựng
Kim tự tháp nhưng quy mô và chất lượng đều nhỏ bé hơn nhiều không thể
sánh được với các Kim tự tháp nói trên. Sau Vương triều VI, thế kỷ XXIII
trước Công nguyên, Cổ Vương quốc bắt đầu suy yếu, quyền lực của các
Pharaôn xuống thấp, đất nước Ai Cập bị chia cắt thành nhiều vùng độc lập,
việc xây dựng Kim tự tháp cũng suy tàn. Từ phát triển đến suy tàn, thời gian
kéo dài trên 1000 năm, tổng cộng xây dựng được hơn 70 Kim tự tháp phân
bố tại vùng Gidet ở hai bờ hạ lưu sông Nin và ở vùng đất rộng lớn phía Nam.
Sau này do nhân dân Ai Cập chống đối, thêm vào đó có những kẻ đào mộ
trộm, thường đem các xác ướp của Pharaôn trong Kim tự tháp đưa ra ngoài,
vì vậy các Pharaôn không còn xây dựng Kim tự tháp nữa mà đào đục trong
núi sâu làm thành các lăng mộ bí mật.
Những toà Kim tự tháp hùng vĩ đến nay vẫn đứng sừng sững giữa những lớp
cồn cát nhấp nhô gần ngoại ô Cairô. Nó đã chứng kiến lịch sử lâu dài của cổ
Ai Cập, cũng là kết tinh sức lao động và trí tuệ của ngàn vạn nô lệ Ai Cập
thời cổ đại.
NÉT VẼ KỲ DIỆU
2000 năm trước, một tốp người Rôma đến Ai Cập. Khi họ đến tham quan
đền đài và cung điện cổ xưa bỗng nhiên phát hiện thấy trên nhiều bức tường
và trên rất nhiều trang giấy papyrút (chế tạo từ một loại cây sậy) có không ít
những nét vẽ kỳ lạ. Những nét vẽ này hình như đều có liên quan đến lịch sử
Ai Cập, nhưng người Rôma chẳng có hứng thú gì với những thứ đó nên cũng
chẳng tìm hiểu nguồn gốc làm gì.
Từ năm 525 trước Công nguyên, Ai Cập bị người Ba Tư chinh phục, hoàn
toàn mất quyền tự chủ, trở thành một tỉnh của đế quốc Ba Tư. Bắt đầu từ lúc
đó phải dùng chữ Ba Tư để ghi chép lịch sử: Còn những nét vẽ ghi lại lịch sử
Cổ Ai Cập kể từ sau khi vị thầy tu cuối cùng biết được cách tạo ra những
hình vẽ này qua đời thì không còn ai có thể giải thích được bí ẩn này.
Năm 1799, Napôlêông từ nước Pháp thống lĩnh quân đội viễn chinh đến
Đông bộ Châu Phi, tiến đánh Ai Cập. Trong lần viễn chinh này của
Napôlêông, tình cờ đã khám phá ra bí ẩn về những nét vẽ kỳ lạ này.
Một hôm, có một sĩ quan Pháp trẻ tuổi đi tuần tra ở thị trấn Rôdét gần cửa
biển sông Nin. Thời gian dài dặc, ông thấy buồn chán bèn đi thăm những di
chỉ ở đây. Tình cờ ông tìm thấy một tấm bia đá kỳ lạ. Nhìn kỹ, tấm bia đá
này làm bằng đá huyền vũ đen giống như ở nhiều di chỉ khác tại Ai Cập
nhưng trên mặt lại khắc đầy nhiều loại hình vẽ. Điều đáng chú ý là còn khắc
ba loại chữ viết, trong đó có một loại là chữ Hy Lạp. Khi đó chữ Hy Lạp có
nhiều người biết. Ông nghĩ: chỉ cần đối chiếu kiểu chữ hình vẽ Ai Cập với
chữ Hy Lạp, nhất định sẽ dễ dàng hiểu được ý nghĩa của nó. Thế là ông vui
sướng mang tấm bia trở về.
Nhưng viên sĩ quan trẻ tuổi này đã hỏi nhiều người, vẫn không ai hiểu được
ý nghĩa của những hình vẽ nhỏ trên bia. Lại qua mấy chục năm, tới năm
1822 mới có một học giả người Pháp là Sămpôliông vén được tấm màn bí
mật này. Vị học giả này đã bỏ ra 20 năm trời để hiểu rõ được ý nghĩa của 14
hình vẽ nhỏ trên đó. Ít lâu sau, ông qua đời vì làm việc quá sức, nhưng
những nguyên tắc chủ yếu của chữ tượng hình Ai Cập đã được làm sáng tỏ.
Sau này lại được người khác nghiên cứu thêm, cuối cùng đã hiểu rõ những
hình vẽ kỳ diệu trên tấm bia đá đó là lời ca tụng chiến công của Quốc vương
do viên tư tế Ai Cập viết và khắc vào năm 195 trước Công nguyên. Ba loại
chữ trên đó, ngoài chữ Hy Lạp ra còn hai loại chữ kia đều là chữ Ai Cập,
một loại là kiểu chữ thảo một loại là kiểu chữ tượng hình. Từ khi khám phá
được bí mật của những hình vẽ này cũng có nghĩa là mở toang được cánh
cửa lớn vào kho tàng quý giá của lịch sử Cổ Ai Cập, giúp chúng ta biết nhiều
thêm về nền văn minh Cổ Ai Cập năm sáu ngàn năm trước đây.
Loại chữ tượng hình này xuất hiện vào khoảng năm 4000 trước Công
nguyên. Nó cũng giống như chữ Sume, chữ Cổ Ấn Độ và chữ Giáp cốt của
Trung Quốc, đều nẩy sinh từ những hình vẽ và hoa văn đơn giản nhất trong
xã hội nguyên thủy vì vậy gọi là chữ tượng hình. Thầy tư tế hay người chép
sử muốn viết một từ nào đó thì dùng hình vẽ nguyên dạng để thể hiện. Muốn
viết thành một câu, biểu đạt một ý hoàn chỉnh thì kết hợp những phù hiệu
hình vẽ cá biệt lại thành chuỗi hình vẽ phức tạp để thể hiện. Ví như, hơn
3000 năm trước Công nguyên, toàn Ai Cập thống nhất, thành lập Vương
triều I Cổ Ai Cập với ông vua đầu tiên là Mênét. Trên một phiến đá kỷ niệm
chiến thắng của Mênét có khắc hình ông dùng quyền trượng đánh một tù
binh đang quỳ. Phía trên người tù binh là một con chim ưng, một chân nó
quắp sợi dây thừng xuyên qua mũi người tù, một chân đạp trên lùm cây sáu
gốc. Lùm cây sáu gốc như mọc lên từ một hình chữ nhật do thân hình các tù
binh tạo thành. Bức họa đồ này nói lên rằng Quốc vương đã bắt được 6000
tù binh.
Dùng hệ thống chữ viết theo hình vẽ phức tạp như thế này đương nhiên là
không thuận tiện. Cùng với sự phát triển của xã hội và ngôn ngữ phức tạp
hóa, đã nảy sinh nhiều khái niệm trừu tượng, nhiều danh từ chuyên môn và
hình thức ngữ pháp. Nếu như vẫn dùng những hình vẽ đơn giản để biểu đạt
thì gặp khó khăn rất lớn. Thế là dần dần xuất hiện những phù hiệu biểu thị
âm tiết, lại phát minh ra 24 chữ cái phụ âm, những từ tổ do các loại phù hiệu
tạo thành cũng đã có hơn 600. Đây chưa phải là chữ ghép vần nhưng là một
bước tiến rất lớn so với những hình vẽ đơn thuần.
Những thứ chữ này viết trên vật liệu gì? Chúng ta biết rằng ở hai bờ sông
Nin cỏ cây rậm rạp, có một loại cây gần giống cây sậy gọi là papyrut, thân
dài mà rộng, người Ai Cập cắt về bóc ra thành lớp, dát mỏng phơi khô làm
thành tờ giấy gọi là giấy papyrut (giấy cỏ. Nhiều tờ giấy papyrut dán lại với
nhau thành một tờ dài, cuộn lại thành cuộn giấy. Người Ai Cập viết chữ trên
loại giấy này rồi cuộn thành nhiều cuộn. Mực làm bằng lá cây trộn với muội
tro than, còn bút chế ra từ những ống sậy mảnh và nhỏ. Người Cổ Ai Cập đã
dùng những công cụ như vậy để ghi chép, lưu lại cho đời sau một di sản văn
hóa vô cùng phong phú và độc đáo.
CUỘC KHỞI NGHĨA SỚM NHẤT
Trong hai viện bảo tàng nổi tiếng ở Châu Âu có lưu giữ hai tập tư
liệu thành văn viết trên cuộn giấy papyrut từ hơn 3000 năm trước Công
nguyên. Hai tập tư liệu này đã bị rách không còn toàn vẹn, nhưng ghi chép
được một cuộc khởi nghĩa nô lệ quy mô lớn sớm nhất trên thế giới.
Sự kiện này xảy ra ở Ai Cập vào khoảng năm 1750 trước Công nguyên.
Ta hãy xem một đoạn ghi chép dưới đây:
“… Sự việc không bao giờ xảy ra cuối cùng đã xảy ra. Quốc vương đã bị
đám người nghèo khổ đuổi đi rồi.
Những kẻ bạo động chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm được Kinh thành.
Lúc này đã xảy ra chuyện như thế này. . . Cổng lớn, hàng cột trụ, nóc nhà
trong cung điện của Quốc vương đều bị thiêu cháy thành than, chỉ còn sót lại
vài bức tường nham nhở ở hoàng cung.
Vùng tam giác châu khóc than vì kho lương thực của Quốc vương đã thành
tài sản của mọi người.
Các quan ở trong nước đều đã bỏ chạy. . . Các quan lại ở cung đình cũng bị
đuổi đi theo nhà vua.
Ngôi nhà tòa án cao to đã thành nơi mọi người tùy ý ra vào, những kẻ nghèo
khổ cũng đi vào đi ra nơi cung điện uy nghi.
Ôi, nơi tòa nhà xử án đẹp đẽ kia, những bản pháp lệnh đã bị vứt bỏ ra ngoài,
mọi người bước đi trên những cuộn giây papyrút ở ngã tư đường. Các quan
tòa bị đuổi đi khắp nơi trong nước.
Họ cướp đi những tài sản của những người tôn quý đem giao cho người
nghèo. Người có của chịu tổn thất còn người nghèo thì rất bằng lòng.
Họ chế ra những tên đồng, dùng máu để đổi lấy bánh mì.
Mọi người quay cuồng như đi trên chiếc bàn xoay làm đồ gốm. . .''
Chẳng cần giải thích ta cũng rõ đây chính là ghi chép về một cuộc khởi
nghĩa lớn trời long đất lở.
Từ khoảng năm 2400 trước Công nguyên, Cổ Vương quốc Ai Cập tan rã, trải
qua hơn 300 năm đến trước năm 2000 trước Công nguyên, thành lập ra
Trung Vương quốc Ai Cập. Trung Vương quốc lấy thành Tebơ làm kinh đô,
lập ra một nhà nước trung ương tập quyền lớn mạnh. Của cải của Pharaôn,
quý tộc và các chủ nô tăng nhanh, còn những nô lệ bị áp bức và những nông
dân tự canh tác trên mảnh ruộng đất của mình thì ngày một khốn khổ bần
cùng hơn. Họ không còn chịu đựng được nữa, thế là một cuộc khởi nghĩa
trên quy mô cả nước cuối cùng đã bùng nổ.
Cuộc khởi nghĩa nô lệ có nông dân tham gia đã giáng một đòn mạnh mẽ vào
giới quý tộc chủ nô. Do còn thiếu những tư liệu lịch sử nên tới nay vẫn còn
chưa rõ toàn bộ quá trình cuộc khởi nghĩa lớn này, thậm chí ngay tên tuổi
người tổ chức khởi nghĩa cũng không biết. Nhưng qua những ghi chép trên
hai cuộn giấy papyrút này cũng đủ để thấy được uy lực của cuộc khởi nghĩa
này.
Cuộc khởi nghĩa này kéo dài 40 năm. Lúc đầu chỉ là những cuộc bạo động lẻ
tẻ, phân tán, sau dần hợp lại thành cuộc khởi nghĩa lớn mang tính toàn quốc.
Qua ghi chép trên cuộn giấy papyrút còn có thể thấy quân khởi nghĩa chỉ
đánh vào bọn áp bức về mặt chính trị mà chưa tổ chức ra chính quyền mang
tính toàn quốc; về mặt kinh tế đã tước đoạt của cải của bọn bóc lột nhưng
chưa coi trọng kịp thời việc phát triển kinh tế của mình thậm chí còn làm cho
sản xuất bị ảnh hưởng khá lớn. Tư liệu chữ viết trên cuộn giấy papyrút ghi:
''Sông ngòi khô cạn, mọi người có thể lội qua sông. Những bãi đất nổi trên
sông còn nhiều hơn nước dưới lòng sông.
Hai bên đường, các loại cây trồng đều khô héo. Mọi người không có quần
áo, không có dầu mỡ càng chẳng thể có sữa uống. . .''
Đã lật đổ được tầng lớp thống trị phản động mà không chú ý xây dựng cuộc
sống mới cho mình, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tất không thể duy trì được
lâu dài Pharaôn thời Trung Vương quốc cuối cùng đã lại tổ chức được chính
quyền của họ, nông dân và nô lệ lại chịu áp bức bóc lột như cũ.
Sau cuộc khởi nghĩa này không lâu, người Hichxốt ở châu Á đã xâm nhập Ai
Cập Họ dùng chiến thuật xe ngựa bao vây, những cỗ xe gió lao lên như tia
chớp đột nhập vào đội ngũ quân Ai Cập, quân Đội Ai Cập chỉ còn biết nhìn
hướng gió mà chạy. Khi đó người Ai Cập còn chưa biết sử dụng ngựa chiến,
chỉ biết dùng bộ binh để đánh trận mà bộ binh thì không có cách nào ngăn
chặn được kỵ binh và chiến xa.
Người Hichxốt đã thống trị Ai Cập khoảng 150 năm. Năm 1580 trước Công
nguyên, người cầm quyền mới ở thành Tebơ là Amôxit đã dấy quân đánh lại
người Hichxôt, đuổi họ ra khỏi Ai Cập, lập ra Tân Vương quốc Ai Cập. Từ
đó trở đi, người Ai Cập đã học được cách nuôi ngựa và sử dụng kỵ binh
cùng chiến xa.
BẢN HÒA ƯỚC TRÊN TẤM BẢNG BẰNG BẠC
Năm 1296 trước Công nguyên, trong vương cung của Pharaôn Ai Cập có
một đoàn sứ thần cửa nước Hátti đến thăm. Họ mang đến một bảng chữ làm
bằng bạc, bên trên khắc 18 điều khoản về chấm dứt chiến tranh và ký kết hòa
ước giữa hai bên: ''Thủ lĩnh người Hátti vĩ đại mà dũng cảm Hathôsin'' và
''Người thống trị Ai Cập vĩ đại mà dũng cảm Ramset'' tuyên thệ cùng tin cậy
lẫn nhau, hai bên không bao giờ giao chiến với nhau. Khi một nước phải
chiến đấu với nước khác thì phải chi viện cho nhau…
Hátti ở Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ), Ai Cập ở Bắc Phi, hai nước cách nhau
hàng ngàn dặm, làm sao lại xảy ra chiến tranh? Số là, người Hátti sau khi
hình thành quốc gia vào năm 2000 trước Công nguyên đã không ngừng bành
trướng ra ngoài. Năm 1600 trước Công nguyên, người Hátti đã đánh chiếm
Syria và Palestin. Sau đó 5 năm lại đánh chiếm thành Babilon, thủ đô của đế
quốc Babilon (nay ở vùng phụ cận Bátđa, Irắc) đã cướp phá sạch thành phố
phồn vinh nhất thế giới lúc đó. Để tranh giành quyền bá chủ ở Trung Đông,
người Hátti đã tiến đánh Ai Cập. Sau này Tân Vương quốc Ai Cập dần dần
cường thịnh, cuối cùng đã phát động cuộc phản công chống người Hátti.
Hãy trở lại với những sự kiện trước khi ký hòa ước.
Một ngày vào năm 1312 trước ...
Thế giới 5000 năm
Tác giả: Chu Hữu Chi
Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin
Tạo ebook: Hanhdb
Ngày hoàn thành: 28 - 03 - 2013
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
THẾ GIỚI CỔ ĐẠI
NỀN VĂN MINH DƯỚI ĐÁY ĐẠI TÂY DƯƠNG
Nền văn minh sớm nhất của loài người bắt đầu từ Lúc nào và nảy sinh ở
đâu? 2400 năm trước, nhà triết học lỗi lạc Platôn người Hy Lạp trong những
buổi nói chuyện và trong trước tác của mình đã từng nói, trước ông 9000
năm, cư dân Đại Tây Châu (Atlantic) đã có một nền văn minh rất cao. Ông
còn miêu tả sinh động các kiểu dáng kiến trúc và phương thức sinh hoạt của
cư dân Đại Tây Châu, nói rằng ở đó có nhiều công trình kiến trúc hùng vĩ,
tráng lệ, chung quanh còn trồng nhiều cây cối cành lá xúm xuê. Nhưng
không biết vào một năm nào. Đại Tây Châu này bỗng nhiên trong một đêm
chìm xuống mất hút dưới Đại Tây Dương.
Nếu đúng như lời Platôn nói thì sớm từ 12000 năm trước, loài người đã sáng
tạo ra một nền văn minh. Nhưng rút cục Đại Tây Châu ở chỗ nào, hàng
nghìn năm nay vẫn là một điều bí ẩn chưa sao giải nổi.
Tới những năm 70 của Thế kỷ XX, một số nhà khoa học đã đến gần quần
đảo Transun để nghiên cứu. Từ độ sâu 800 mét dưới biển họ lấy lên được
những nham thạch, qua giám định khoa học thì nơi này 12000 năm trước quả
thật là một mảng lục địa. Dùng kỹ thuật khoa học hiện đại khảo sát thấy
đúng như lời miêu tả của Platôn năm gần đây, các nhà khoa học đi khảo sát
dưới đáy Đại Tây Dương đã từng nhiều lần phát hiện thấy quần thể kiến trúc
cổ to lớn, ở đấy có những con đường dài, có những cây cột đá chạm khắc
tinh xảo đẹp đẽ và nhiều văn vật khác. Năm 1979, ở khu vực biển tam giác
Becmut lại có một phát hiện thật đáng kinh ngạc. Qua việc khảo sát tỉ mỉ của
đội điều tra hai nước Mỹ - Pháp, đã chứng minh được rằng dưới đáy vùng
biển này có một tòa Kim tự tháp rất lớn. Thời gian xây dựng còn sớm hơn rất
nhiều so với các Kim tự tháp ở cổ Ai Cập. Qua đo đạc khoa học, Kim tự tháp
dưới đáy biển này mỗi chiều dài 300m, cao 200m, đỉnh tháp cách mặt biển
100m. Tháp có hai khoang lớn, nước biển chảy qua các khoang với lưu tốc
rất nhanh tạo thành những lớp sóng vọt cao hung dữ trên mặt biển.
Vậy thì cư dân của Đại Tây Châu cổ xưa sớm đã chìm xuống Đại Tây
Dương rút cục là những người như thế nào? Họ đã dựng nên nền văn minh ra
sao? Họ còn sáng tạo ra những kỳ tích gì cho nhân loại? Thật đáng tiếc là
hiện nay chưa người nào có thể đưa ra lời giải đáp xác đáng. Hơn nữa, thời
gian đã cách xa hơn 12000 năm, vì vậy vấn đề hết sức thú vị này, xem ra chỉ
có thể để cho các nhà khoa học tiếp tục khảo sát và khám phá.
Từ loài vượn cổ bước xuống mặt đất sinh sống lại biết chế tác đá làm công
cụ lao động cho tới hiện nay đã có lịch sử ba bốn triệu năm. Trong những
năm tháng dài dặc đó, trong môi trường khó khăn khốn khổ, tổ tiên loài
người đã giãi nắng dầm mưa, vạch lá chặt cành, cải tạo thế giới khách quan,
cũng là tự cải tạo chính mình. Con người có bộ óc phát triển và đôi tay linh
hoạt, cũng có tiếng nói phong phú và tư duy chặt chẽ. Chính đưa vào những
cái đó mà trải qua những năm tháng lịch sử lâu dài đã sáng tạo ra những nền
văn minh rực rỡ huy hoàng nhiều hình nhiều vẻ.
Mặc dù bí ẩn về nền văn minh dước đáy Đại Tây Dương hãy còn phải chờ
các nhà khoa học khám phá thêm, nhưng những di tích lịch sử phong phú,
hàng loạt hiện vật đào được từ lòng đất và những ghi chép bằng chữ viết còn
lại trên thế giới có thể nói rõ ràng với chúng ta về cổ Ai Cập ở đôi bờ sông
Nin, về Sume và Babilon trong lưu vực sông Tigrơ và Ơphrát(nay là giải
Irắc), về cổ Ấn Độ ở lưu vực sông Hằng và sông Inđus cùng Trung Quốc bên
bờ sông Hoàng Hà và Trường Giang. Đó là những cái nôi của nền văn minh
nhân loại. Năm sáu ngàn năm nay, những nơi đó đã nuôi dưỡng, bồi đắp trí
tuệ và sức sáng tạo cho hàng triệu con người, mở ra ngọn nguồn sâu xa dài
lâu cho khoa học và nghệ thuật, cống hiến xuất sắc cho nền văn minh nhân
loại. Rất nhiều sự việc nảy sinh trong quảng thời gian này đều là những câu
chuyện thú vị hấp dẫn cho mọi người. Bây giờ mời các bạn, chúng ta hãy kể
lại những câu chuyện lịch sử của các nước trên thế giới 5000 năm nay, bắt
đầu từ cổ Ai Cập ở đôi bờ sông Nin!
VƯƠNG QUỐC CỔ AI CẬP RA ĐỜI
Ôi sông Nin, tôi ca ngợi Người,
Người từ vùng đất lớn tuôn trào, nuôi sống Ai Cập…
Một ngày nào đó dòng nước của Người khô cạn.
Thì chúng dân cũng ngừng thở.
Đây là bài thơ nổi tiếng của nhân dân Ai Cập cổ đại ca ngợi sông Nin. Sông
Nin dài hơn 6000 km bắt nguồn từ vùng cao nguyên trung bộ châu Phi. Hàng
năm vào đầu tháng Bảy, mưa lớn ở đầu nguồn và thác lũ ào ào đổ xuống
dòng sông băng qua những khe hẹp rồi xuôi chảy từ nam xuống bắc, lòng
sông mở rộng dần. Tháng Chín nước lên to nhất tràn ngập cả hai bờ, trở
thành một hồ lớn mênh mông. Tới cuối tháng Mười, mùa mưa qua đi, nước
sông mới xuống thấp chảy theo lòng sông, nhưng để lại một lớp phù sa lắng
đọng lại vô cùng mầu mỡ cho các loại cây trồng.
Ở trung hạ lưu sông Nin có một giải đất hẹp mà dài, rộng từ 3 đến 16 km bắt
đầu từ biên giới phía nam Ai Cập hiện nay chạy thẳng tới vùng phụ cận Thủ
đô Ai Cập Cairô thì dần dần mở rộng ra. Đó chính là Tam giác châu sông
Nin nổi tiếng.
Dòng sông lớn nổi tiếng thế giới này đã mang lại nguồn nước phong phú và
đất đai mầu mỡ cũng mang lại cuộc sống và sự phồn vinh cho Ai Cập.
Khoảng năm sáu nghìn năm trước Công nguyên, người cổ Ai Cập đã dần dần
định cư ở đây Lúc đầu họ sống cuộc sống nguyên thủy, dùng công cụ thô sơ
để trừ bỏ cỏ rậm và gai góc ở hai bờ sông, đào mương đắp bờ, trồng trọt các
loại cây nông nghiệp trên những mảnh đất được tưới nước. Cuối cùng đã
biến vùng đất khí hậu khô khan này thành kho lương thực nổi tiếng thời cổ
đại.
Cùng với sự phát triển kinh tế, cổ Ai Cập bắt đầu từ xã hội nguyên thủy dần
dần bước sang xã hội nô lệ. Tuy vậy khoảng năm 4000 trước Công nguyên,
Ai Cập chưa hình thành một quốc gia thống nhất. Khi đó Ai Cập có khoảng
hơn 40 châu (gọi là ''nôm''), mỗi châu đều có vị thần tôn thờ của mình, sau
này lại có quân đội và lá cờ dùng để tượng trưng cho bộ lạc, trên thực tế đó
đều là những tiểu vương quốc độc lập. Giữa các châu đã trải qua chiến tranh,
thôn tính dài lâu, cuối cùng đã phải chia vùng đồng bằng sông Nin dài và
hẹp thành hai vương quốc độc lập lớn ở Bắc bộ và Nam bộ. Bắc bộ gọi là
Vương quốc Hạ Ai Cập, Quốc vương đội mũ đỏ, lấy Rắn thần làm thần hộ
mệnh, lấy con ong làm quốc huy. Nam bộ gọi là Vương quốc Thượng Ai
Cập, Quốc vương đội mũ trắng lấy chim ưng làm thần hộ mệnh, lấy hoa
bách hợp trắng làm quốc huy.
Thượng, Hạ Ai Cập luôn luôn nổ ra chiến tranh. Vào khoảng trước sau năm
3000 trước Công nguyên, Thượng Ai Cập dần dần cường thịnh, Quốc vương
Mênét đã thân dẫn đại quân đi đánh Hạ Ai Cập.
Quân hai bên đã có trận quyết chiến ở vùng Tam giác châu sông Nin: Mênét
đầu đội mũ trắng, trên mũ trang trí mặt chim ưng thần, tự mình ra trước trận
tiền đốc chiến. Trong tiếng gào thét âm vang, gươm giáo sáng lòa, những lá
cờ vẽ hoa bách hợp trắng và những lá cờ có hình con ong vung lên, quấn vào
nhau, quân hai bên xông vào đánh giáp lá cà không sao phân giải được. Qua
ba ngày ba đêm kịch chiến, cuối cùng quân Hạ Ai Cập bị đánh tan. Quốc
vương Hạ Ai Cập đứng trước đám tù binh, tháo chiếc mũ đỏ rồi quỳ xuống
đất, hai tay nâng mũ dâng cho Mênét.
Để kỷ niệm chiến thắng này, Mênét đã gọi tên vùng đất quyết chiến này là
“Bạch Thành” (Thành trắng). Sau này nơi đây trở thành Thủ đô của Vương
quốc Cổ Ai Cập - Memphit (Memphis).
Ngày thứ hai sau lễ nhận đầu hàng, Mênét bày tiệc lớn ở Bạch Thành khoản
đãi công thần, thăng quan phong tước cho người có công. Từ đó Mênét tự
xưng là ''Vua của Thượng Hạ Ai Cập'', có lúc đội mũ trắng, có lúc đội mũ
đỏ, có lúc đội hai thứ mũ gộp lại tượng trưng cho sự thống nhất Thượng Hạ
Ai Cập.
Sau khi Ai Cập thống nhất, đã dần dần lập nên bộ máy cai trị chuyên chế.
Người cai trị tối cao cả nước là Quốc vương, được Quốc vương đặt ra các
thứ quan lại. Hàng năm đều cho người đi kiểm tra nhân khẩu, ruộng đất, súc
vật và mọi thứ tài sản trong cả nước để định ra mức tô thuế.
Quốc vương được coi như thần thánh bất khả xâm phạm. Trên các bức chạm
đá hoặc bích họa, Quốc vương đều được vẽ thành một vị thần khổng lồ hoặc
vẽ thành hình dáng rắn thần, chim ưng thần. Sau này, mọi người không còn
được gọi tên Quốc vương mà tôn xưng là Pharaôn (vốn có nghĩa là ''cung
điện'' sau chuyển sang ý ''chủ cung điện'' tương tự như Trung Quốc, Việt
Nam xưa tôn xưng vua là ''Bệ hạ'').
''Pharaôn tôn kính, Người được Trời cho thông tuệ sáng suốt thấu hiểu muôn
vật, liệu định công việc như thần. . .''. Các quan to khi triều kiến Quốc vương
đều nói những lời ca tụng đại loại như vậy, lại phải phủ phục trước ngai vua,
cúi rạp mình xuống đất hôn lên mặt đất trước chân Quốc vương, không được
tùy ý ngẩn đầu. Bắt đầu từ khi Mênét thống nhất Ai Cập vào thế kỷ XXX
trước Công nguyên, Ai Cập bước vào thời kỳ tiền Vương quốc, cho đến thế
kỷ XI trước Công nguyên lần lượt trải qua các thời kỳ Cổ Vương quốc,
Trung Vương quốc, Tân Vương quốc. Từ đó về sau Ai Cập dần dần suy yếu,
lần lượt bị Libi, Atxua xâm nhập. Giữa thế kỷ VII trước Công nguyên, giành
lại độc lập. Sau đó lại bị đế quốc Ba Tư, Hy Lạp Maxêđônia chinh phục.
Năm 30 trước Công nguyên lại bị sáp nhập vào bản đồ đế quốc Rôma.
Cổ Ai Cập là một trong những ngọn nguồn của văn minh thế giới. Nhân dân
cổ Ai Cập đã đạt được những thành tựu to lớn về các mặt chữ viết, lịch pháp,
nghệ thuật, tri thức khoa học v.v. . . đã từng có ảnh hưởng lớn tới Tây bộ
châu Á và châu Âu, đã có cống hiến lớn lao không thể phai mờ đối với lịch
sử loài người.
LAI LỊCH KIM TỰ THÁP
Ai Cập thời cổ đại từng lưu truyền một câu chuyện thần thoại xúc động lòng
người.
Trước đây rất lâu rồi, có một vị Pharaôn tài giỏi hơn người tên là Ôsirit. Ông
dạy dân trồng trọt làm bánh, nấu rượu, khai mỏ, nên mọi người đều rất kính
trọng ông. Nhưng em trai ông là Setơ lòng đã bất lương âm mưu giết anh trai
để cướp ngôi vua. Một hôm Setơ mời anh đến ăn cơm tối, lại còn mời nhiều
người cùng dự. Ăn xong, Setơ cho mang ra một chiếc rương lớn rất đẹp rồi
nói với mọi người:
-Ai có thể nằm gọn trong chiếc rương này thì tặng rương cho người đó!
Ôsirit được mọi người cổ vũ thúc giục làm thử xem sao. Ông liền nằm vào
trong rương, Setơ lập tức đậy nắp rương khóa lại rồi đem ném ông xuống
dòng sông Nin.
Sau khi Ôsirit bị hại, vợ ông đi khắp nơi tìm kiếm, cuối cùng đã tìm được thi
thể. Việc này bị Setơ biết được, y liền lúc nửa đêm đến lấy cắp thi thể, chặt
ra thành mười bốn khúc đem vất đi các nơi. Vợ Ôsirit lại đi các nơi tìm được
các mảnh thi thể chồng, đem chôn dưới đất.
Con trai của Ôsirit từ nhỏ đã rất dũng cảm. Lớn lên, chàng đánh bại Setơ trả
thù cho cha. Chàng cho đào các mảnh thi thể của cha chôn ở khắp nơi đem
về chắp lại thành xác khô ''mômi'' (còn gọi là xác ướp). Sau này được thần
linh giúp đỡ, cha chàng sống lại. Nhưng không phải sống lại chốn nhân gian
mà sống lại nơi âm phủ, làm Pharaôn ở cõi âm, chuyên xét xử người chết,
bảo vệ Pharaôn ở dương gian.
Thần thoại này đã sớm lưu truyền trong dân gian. Sau này các Pharaôn Ai
Cập nghe kể liền lợi dụng câu chuyện để lừa dối nhân dân, nói rằng pharaôn
có thần giúp đỡ, vì thế sống là người thống trị, chết vẫn là người thống trị. Ai
chống lại Pharaôn, người đó chẳng những lúc sống bị trừng phạt mà khi chết
rồi cũng phải chịu khổ ải.
Từ đó mỗi một Pharaôn Ai Cập sau khi chết đều muốn diễn lại lần nữa câu
chuyện thần thoại về Ôsirit. Đầu tiên là cử hành lễ tìm thi thể. Bước thứ hai
là làm lễ rửa thân tức giải phẫu thi thể, lấy phần nội tạng và óc bỏ ra ngoài,
biến thi thể thành xác ướp ''mômi''. Cách làm là ướp thi thể trong một dung
dịch chống thối rửa, rút hết mỡ, bóc hết da. 70 ngày sau đem thi thể phơi
khô, nhét hương liệu vào khoang bụng, quét một lớp dầu ở ngoài để tránh
cho thi thể tiếp xúc với không khí, rồi dùng vải bó chặt lấy thi thể. Như vậy
là xác ướp ''mômi'' bất hủ đã làm xong. Bước thứ ba là tụng niệm cầu đảo,
mở mắt, thông tai, thông mũi, mở mồm cho ''mômi'', đưa thức ăn vào trong
mồm ''mômi''. Truyền rằng làm như vậy thì sẽ hít thở, nói chuyện, ăn uống
như người đang sống. Cuối cùng là nghi lễ an táng, đặt ''mômi'' vào trong
quan tài đá, đưa đến phần mộ - ''nơi ở vĩnh cửu'' của Pharaôn.
Ở Ai Cập, hình thức mộ táng sớm nhất là đào huyệt ở dưới đất, bên trên đắp
thành gò đất bằng cát. Về sau huyệt mộ đào càng ngày càng sâu thành một
gian phòng dưới lòng đất, chung quanh gò đống cát bên trên xây thành một
bức tường đá Kiểu phần mộ như vậy gọi là ''mastaba'' (có nghĩa là chiếc ghế
đá).
Tới thế kỷ XXVII trước Công nguyên, Pharaôn Vương triều thứ III Ai Cập
là Jexe cho rằng loại ''mastaba'' này không thể làm nơi ở vĩnh cửu cho
Pharaôn. Thế là ông tìm kiến trúc sư xây dựng một tòa ''mastaba'' cực lớn
bằng đá xẻ. Nhưng Pharaôn vẫn thấy nó chưa thật hùng vĩ, liền cho xây
chồng lên năm tầng ''mastaba'' mỗi tầng nhỏ dân đi, làm cho độ cao của
''mastaba'' đạt tới 61m. Bên dưới có một đường hầm kiên cố rất sâu có thể đi
thông tới các hành lang và các gian phòng dưới lòng đất. Chung quanh còn
xây một lớp tường bao mô phỏng theo hoàng thành, trong tường xây dựng
đền đài dùng cho việc cúng tế. Đây chính là lăng mộ hình tháp đầu tiên của
Ai Cập, sau được gọi là ''pyramiđơ'', theo tiếng cổ Ai Cập có nghĩa là cao
vút; người Trung Quốc thấy hình dáng của tháp giống như chữ ''kim'' trong
chữ Hán nên gọi là Kim tự tháp. Do tòa Kim tự tháp này có từng bậc từng
bậc từ dưới lên cho nên mọi người gọi là ''Kim tự tháp hình bậc thang''.
Sau này, các Pharaôn như bị quỷ ám, đều muốn xây Kim tự tháp cho riêng
mình, càng ngày càng xây dựng hùng vĩ hơn. Pharaôn Vương triều thứ IV là
Khêôp sau khi lên ngôi, quyết tâm xây dựng một Kim tự tháp lớn nhất cho
mình. Ông cưỡng bức mọi người dân Ai Cập phải làm lao dịch phục vụ cho
công trình này, cứ 10 vạn người lập thành một kíp, mỗi kíp làm việc trong ba
tháng luân phiên nhau thay đổi.
Bắt đầu xây dựng công trình, hàng ngàn hàng vạn người được đưa đến vùng
núi để vận chuyển đá. Theo tính toán, mỗi tảng đá nặng khoảng 2 tấn rưỡi,
tổng cộng cần tới 230 vạn tảng đá. Đá nhiều như vậy nếu ngày nay dùng xe
lửa để chuyên chở thì phải cần tới 60 vạn toa xe. Nhưng ở thời đó không có
phương tiện vận chuyển cơ giới, vậy phải làm thế nào? Truyền rằng, người
dân Ai Cập cần cù thông minh đã nghĩ ra phương pháp rất khoa học: họ
dùng các con lăn bằng gỗ để chuyển đá, dùng sức người hay súc vật kèo đi.
Nhưng xe con lăn gỗ chở đá nặng không kéo qua được nơi mặt đất gồ ghề.
Thế là lại phải làm một con đường trải đá để chuyên chở đá. Chỉ riêng việc
làm con đường này đã tốn mất 10 năm trời. Cùng thời gian đó, một đoàn
người khác hối hả trên công trường đào những đường hầm dưới mặt đất và
huyệt mộ. Trong những đường hầm nóng nực và ngột ngạt, các dân công
dùng những cuốc xẻng bằng đồng đào bới đất đá mở đường. Công việc này
lại tốn mất đúng 10 năm trời.
Bắt đầu việc lắp đặt Kim tự tháp. Lúc đó không có cần trục, thậm chí một
thanh sắt cũng không có, làm sao đưa được những tảng đá nặng như vậy xếp
chồng lên nhau? Những người dân công đã xếp gọn tầng thứ nhất trên mặt
đất, sau đó họ đắp đất cao ngang tầng thứ nhất, có dốc nghiêng, theo chiều
dốc đó mà kéo đá lên tầng hai. Cứ như vậy mà lắp đặt các tầng cao hơn. Kim
tự tháp cao đến đâu thì đất đắp cao đến đó. Tháp làm xong đống đất đó biến
thành một trái núi lớn, mọi người lại chuyển đất đem đi nơi khác để Kim tự
tháp lộ ra. Công trình này xây lắp vô cùng gian khổ, luôn luôn có tới 10 vạn
người lao động dưới roi vọt của bọn đốc công và trong ánh nắng mặt trời
thiêu đốt. Lại mất 10 năm trời nữa. Toàn bộ công trình đã tốn thời gian tới
30 năm!
Kim tự tháp Khêôp là tòa tháp to lớn nhất trong các Kim tự tháp ở Ai Cập,
Kim tự tháp này nguyên cao đến 146,59 mét, trải qua mấy nghìn năm mưa
gió bào mòn, đỉnh tháp đã bị bóc thấp xuống gần 10 mét, đây là công trình
xây dựng cao nhất thế giới cho tới trước năm 1888, khi Pari xây dựng tháp
sắt Epfen. Mặt đáy của Kim tự tháp này hình vuông, mỗi chiều dài 230 mét,
đi vòng quanh Kim tự tháp mất một quãng đường dài gần 1 km. Giữa các lớp
đá ở thân tháp không dùng bất cứ chất liệu kết dính nào kiểu như xi măng
hiện nay mà chỉ là tảng đá này xếp chồng khít lên tảng đá kia. Các tảng đá
được mài nhẵn bóng, cho tới nay đã trải qua mấy nghìn năm, người ta vẫn
không thể nhét được một lưỡi dao mỏng vào giữa khe hai tảng đá.
Trong Kim tự tháp có ba nhà mồ. Tiến vào cửa tại mặt Bắc ở độ cao 13 mét
là một đường hầm cao chưa tới đầu người. Men đường hầm đi xuống phía
dưới, đi qua khoảng 100 mét thì tới một gian nhà đá hình chữ nhật- Do
Khêốp không vừa lòng với gian nhà mồ này nên từ chỗ giữa đốc đi xuống lại
mở một đường hầm khác đi lên phía trên thông tới gian nhà mồ của Hoàng
hậu. Ở đoạn đầu đường dốc đi lên lại mở ra một hành lang lớn. Đi theo hành
lang lớn tới một gian nhà mồ nữa, đây chính là nơi đặt quan tài đá của
Khêốp, mọi người gọi là ''mộ thất của Pharaôn''.
Sau khi Khêốp qua đời không lâu, tại một địa điểm không xa với Kim tự
tháp lớn Khêốp, người ta lại dựng lên một tòa Kim tự tháp khác. Đó là Kim
tự tháp của vua Kêphơren, con của Khêốp, cạnh đáy dài 215m, chiều cao
143 mét chỉ thấp hơn Kim tự tháp Khêốp 3 mét, nhưng có công trình kiến
trúc phù trợ hoàn chỉnh, tráng lệ. Bên cạnh tháp, xây dựng hai đền thần. Phía
tây bắc đền thần có một bức tượng khổng lồ, đầu người mình sư tử, gọi là
tượng Xphinxơ hay Nhân Sư Tượng cao 20 mét dài 57 mét, mỗi cái tai ở đầu
tượng dài tới 2 mét. Tượng này muốn tạo hình Pharaôn Khêphơren và muốn
nói lên rằng nhà vua có sức mạnh của sư tử và trí tuệ của loài người. Ngoài
móng vuốt sư tử xếp bằng đá xẻ ra còn toàn bộ tượng Nhân Sư là một khối
đá khổng lồ nguyên vẹn do các nhà điêu khắc tạc thành. Tới nay pho tượng
đã có hơn 4500 năm lịch sử.
Xây dựng xong hai Kim tự tháp lớn này, Ai Cập đã làm kiệt quệ của cải và
sức dân. Về sau này, các Pharaôn của Vương triều V và VI đều có xây dựng
Kim tự tháp nhưng quy mô và chất lượng đều nhỏ bé hơn nhiều không thể
sánh được với các Kim tự tháp nói trên. Sau Vương triều VI, thế kỷ XXIII
trước Công nguyên, Cổ Vương quốc bắt đầu suy yếu, quyền lực của các
Pharaôn xuống thấp, đất nước Ai Cập bị chia cắt thành nhiều vùng độc lập,
việc xây dựng Kim tự tháp cũng suy tàn. Từ phát triển đến suy tàn, thời gian
kéo dài trên 1000 năm, tổng cộng xây dựng được hơn 70 Kim tự tháp phân
bố tại vùng Gidet ở hai bờ hạ lưu sông Nin và ở vùng đất rộng lớn phía Nam.
Sau này do nhân dân Ai Cập chống đối, thêm vào đó có những kẻ đào mộ
trộm, thường đem các xác ướp của Pharaôn trong Kim tự tháp đưa ra ngoài,
vì vậy các Pharaôn không còn xây dựng Kim tự tháp nữa mà đào đục trong
núi sâu làm thành các lăng mộ bí mật.
Những toà Kim tự tháp hùng vĩ đến nay vẫn đứng sừng sững giữa những lớp
cồn cát nhấp nhô gần ngoại ô Cairô. Nó đã chứng kiến lịch sử lâu dài của cổ
Ai Cập, cũng là kết tinh sức lao động và trí tuệ của ngàn vạn nô lệ Ai Cập
thời cổ đại.
NÉT VẼ KỲ DIỆU
2000 năm trước, một tốp người Rôma đến Ai Cập. Khi họ đến tham quan
đền đài và cung điện cổ xưa bỗng nhiên phát hiện thấy trên nhiều bức tường
và trên rất nhiều trang giấy papyrút (chế tạo từ một loại cây sậy) có không ít
những nét vẽ kỳ lạ. Những nét vẽ này hình như đều có liên quan đến lịch sử
Ai Cập, nhưng người Rôma chẳng có hứng thú gì với những thứ đó nên cũng
chẳng tìm hiểu nguồn gốc làm gì.
Từ năm 525 trước Công nguyên, Ai Cập bị người Ba Tư chinh phục, hoàn
toàn mất quyền tự chủ, trở thành một tỉnh của đế quốc Ba Tư. Bắt đầu từ lúc
đó phải dùng chữ Ba Tư để ghi chép lịch sử: Còn những nét vẽ ghi lại lịch sử
Cổ Ai Cập kể từ sau khi vị thầy tu cuối cùng biết được cách tạo ra những
hình vẽ này qua đời thì không còn ai có thể giải thích được bí ẩn này.
Năm 1799, Napôlêông từ nước Pháp thống lĩnh quân đội viễn chinh đến
Đông bộ Châu Phi, tiến đánh Ai Cập. Trong lần viễn chinh này của
Napôlêông, tình cờ đã khám phá ra bí ẩn về những nét vẽ kỳ lạ này.
Một hôm, có một sĩ quan Pháp trẻ tuổi đi tuần tra ở thị trấn Rôdét gần cửa
biển sông Nin. Thời gian dài dặc, ông thấy buồn chán bèn đi thăm những di
chỉ ở đây. Tình cờ ông tìm thấy một tấm bia đá kỳ lạ. Nhìn kỹ, tấm bia đá
này làm bằng đá huyền vũ đen giống như ở nhiều di chỉ khác tại Ai Cập
nhưng trên mặt lại khắc đầy nhiều loại hình vẽ. Điều đáng chú ý là còn khắc
ba loại chữ viết, trong đó có một loại là chữ Hy Lạp. Khi đó chữ Hy Lạp có
nhiều người biết. Ông nghĩ: chỉ cần đối chiếu kiểu chữ hình vẽ Ai Cập với
chữ Hy Lạp, nhất định sẽ dễ dàng hiểu được ý nghĩa của nó. Thế là ông vui
sướng mang tấm bia trở về.
Nhưng viên sĩ quan trẻ tuổi này đã hỏi nhiều người, vẫn không ai hiểu được
ý nghĩa của những hình vẽ nhỏ trên bia. Lại qua mấy chục năm, tới năm
1822 mới có một học giả người Pháp là Sămpôliông vén được tấm màn bí
mật này. Vị học giả này đã bỏ ra 20 năm trời để hiểu rõ được ý nghĩa của 14
hình vẽ nhỏ trên đó. Ít lâu sau, ông qua đời vì làm việc quá sức, nhưng
những nguyên tắc chủ yếu của chữ tượng hình Ai Cập đã được làm sáng tỏ.
Sau này lại được người khác nghiên cứu thêm, cuối cùng đã hiểu rõ những
hình vẽ kỳ diệu trên tấm bia đá đó là lời ca tụng chiến công của Quốc vương
do viên tư tế Ai Cập viết và khắc vào năm 195 trước Công nguyên. Ba loại
chữ trên đó, ngoài chữ Hy Lạp ra còn hai loại chữ kia đều là chữ Ai Cập,
một loại là kiểu chữ thảo một loại là kiểu chữ tượng hình. Từ khi khám phá
được bí mật của những hình vẽ này cũng có nghĩa là mở toang được cánh
cửa lớn vào kho tàng quý giá của lịch sử Cổ Ai Cập, giúp chúng ta biết nhiều
thêm về nền văn minh Cổ Ai Cập năm sáu ngàn năm trước đây.
Loại chữ tượng hình này xuất hiện vào khoảng năm 4000 trước Công
nguyên. Nó cũng giống như chữ Sume, chữ Cổ Ấn Độ và chữ Giáp cốt của
Trung Quốc, đều nẩy sinh từ những hình vẽ và hoa văn đơn giản nhất trong
xã hội nguyên thủy vì vậy gọi là chữ tượng hình. Thầy tư tế hay người chép
sử muốn viết một từ nào đó thì dùng hình vẽ nguyên dạng để thể hiện. Muốn
viết thành một câu, biểu đạt một ý hoàn chỉnh thì kết hợp những phù hiệu
hình vẽ cá biệt lại thành chuỗi hình vẽ phức tạp để thể hiện. Ví như, hơn
3000 năm trước Công nguyên, toàn Ai Cập thống nhất, thành lập Vương
triều I Cổ Ai Cập với ông vua đầu tiên là Mênét. Trên một phiến đá kỷ niệm
chiến thắng của Mênét có khắc hình ông dùng quyền trượng đánh một tù
binh đang quỳ. Phía trên người tù binh là một con chim ưng, một chân nó
quắp sợi dây thừng xuyên qua mũi người tù, một chân đạp trên lùm cây sáu
gốc. Lùm cây sáu gốc như mọc lên từ một hình chữ nhật do thân hình các tù
binh tạo thành. Bức họa đồ này nói lên rằng Quốc vương đã bắt được 6000
tù binh.
Dùng hệ thống chữ viết theo hình vẽ phức tạp như thế này đương nhiên là
không thuận tiện. Cùng với sự phát triển của xã hội và ngôn ngữ phức tạp
hóa, đã nảy sinh nhiều khái niệm trừu tượng, nhiều danh từ chuyên môn và
hình thức ngữ pháp. Nếu như vẫn dùng những hình vẽ đơn giản để biểu đạt
thì gặp khó khăn rất lớn. Thế là dần dần xuất hiện những phù hiệu biểu thị
âm tiết, lại phát minh ra 24 chữ cái phụ âm, những từ tổ do các loại phù hiệu
tạo thành cũng đã có hơn 600. Đây chưa phải là chữ ghép vần nhưng là một
bước tiến rất lớn so với những hình vẽ đơn thuần.
Những thứ chữ này viết trên vật liệu gì? Chúng ta biết rằng ở hai bờ sông
Nin cỏ cây rậm rạp, có một loại cây gần giống cây sậy gọi là papyrut, thân
dài mà rộng, người Ai Cập cắt về bóc ra thành lớp, dát mỏng phơi khô làm
thành tờ giấy gọi là giấy papyrut (giấy cỏ. Nhiều tờ giấy papyrut dán lại với
nhau thành một tờ dài, cuộn lại thành cuộn giấy. Người Ai Cập viết chữ trên
loại giấy này rồi cuộn thành nhiều cuộn. Mực làm bằng lá cây trộn với muội
tro than, còn bút chế ra từ những ống sậy mảnh và nhỏ. Người Cổ Ai Cập đã
dùng những công cụ như vậy để ghi chép, lưu lại cho đời sau một di sản văn
hóa vô cùng phong phú và độc đáo.
CUỘC KHỞI NGHĨA SỚM NHẤT
Trong hai viện bảo tàng nổi tiếng ở Châu Âu có lưu giữ hai tập tư
liệu thành văn viết trên cuộn giấy papyrut từ hơn 3000 năm trước Công
nguyên. Hai tập tư liệu này đã bị rách không còn toàn vẹn, nhưng ghi chép
được một cuộc khởi nghĩa nô lệ quy mô lớn sớm nhất trên thế giới.
Sự kiện này xảy ra ở Ai Cập vào khoảng năm 1750 trước Công nguyên.
Ta hãy xem một đoạn ghi chép dưới đây:
“… Sự việc không bao giờ xảy ra cuối cùng đã xảy ra. Quốc vương đã bị
đám người nghèo khổ đuổi đi rồi.
Những kẻ bạo động chỉ trong một thời gian ngắn đã chiếm được Kinh thành.
Lúc này đã xảy ra chuyện như thế này. . . Cổng lớn, hàng cột trụ, nóc nhà
trong cung điện của Quốc vương đều bị thiêu cháy thành than, chỉ còn sót lại
vài bức tường nham nhở ở hoàng cung.
Vùng tam giác châu khóc than vì kho lương thực của Quốc vương đã thành
tài sản của mọi người.
Các quan ở trong nước đều đã bỏ chạy. . . Các quan lại ở cung đình cũng bị
đuổi đi theo nhà vua.
Ngôi nhà tòa án cao to đã thành nơi mọi người tùy ý ra vào, những kẻ nghèo
khổ cũng đi vào đi ra nơi cung điện uy nghi.
Ôi, nơi tòa nhà xử án đẹp đẽ kia, những bản pháp lệnh đã bị vứt bỏ ra ngoài,
mọi người bước đi trên những cuộn giây papyrút ở ngã tư đường. Các quan
tòa bị đuổi đi khắp nơi trong nước.
Họ cướp đi những tài sản của những người tôn quý đem giao cho người
nghèo. Người có của chịu tổn thất còn người nghèo thì rất bằng lòng.
Họ chế ra những tên đồng, dùng máu để đổi lấy bánh mì.
Mọi người quay cuồng như đi trên chiếc bàn xoay làm đồ gốm. . .''
Chẳng cần giải thích ta cũng rõ đây chính là ghi chép về một cuộc khởi
nghĩa lớn trời long đất lở.
Từ khoảng năm 2400 trước Công nguyên, Cổ Vương quốc Ai Cập tan rã, trải
qua hơn 300 năm đến trước năm 2000 trước Công nguyên, thành lập ra
Trung Vương quốc Ai Cập. Trung Vương quốc lấy thành Tebơ làm kinh đô,
lập ra một nhà nước trung ương tập quyền lớn mạnh. Của cải của Pharaôn,
quý tộc và các chủ nô tăng nhanh, còn những nô lệ bị áp bức và những nông
dân tự canh tác trên mảnh ruộng đất của mình thì ngày một khốn khổ bần
cùng hơn. Họ không còn chịu đựng được nữa, thế là một cuộc khởi nghĩa
trên quy mô cả nước cuối cùng đã bùng nổ.
Cuộc khởi nghĩa nô lệ có nông dân tham gia đã giáng một đòn mạnh mẽ vào
giới quý tộc chủ nô. Do còn thiếu những tư liệu lịch sử nên tới nay vẫn còn
chưa rõ toàn bộ quá trình cuộc khởi nghĩa lớn này, thậm chí ngay tên tuổi
người tổ chức khởi nghĩa cũng không biết. Nhưng qua những ghi chép trên
hai cuộn giấy papyrút này cũng đủ để thấy được uy lực của cuộc khởi nghĩa
này.
Cuộc khởi nghĩa này kéo dài 40 năm. Lúc đầu chỉ là những cuộc bạo động lẻ
tẻ, phân tán, sau dần hợp lại thành cuộc khởi nghĩa lớn mang tính toàn quốc.
Qua ghi chép trên cuộn giấy papyrút còn có thể thấy quân khởi nghĩa chỉ
đánh vào bọn áp bức về mặt chính trị mà chưa tổ chức ra chính quyền mang
tính toàn quốc; về mặt kinh tế đã tước đoạt của cải của bọn bóc lột nhưng
chưa coi trọng kịp thời việc phát triển kinh tế của mình thậm chí còn làm cho
sản xuất bị ảnh hưởng khá lớn. Tư liệu chữ viết trên cuộn giấy papyrút ghi:
''Sông ngòi khô cạn, mọi người có thể lội qua sông. Những bãi đất nổi trên
sông còn nhiều hơn nước dưới lòng sông.
Hai bên đường, các loại cây trồng đều khô héo. Mọi người không có quần
áo, không có dầu mỡ càng chẳng thể có sữa uống. . .''
Đã lật đổ được tầng lớp thống trị phản động mà không chú ý xây dựng cuộc
sống mới cho mình, thắng lợi của cuộc khởi nghĩa tất không thể duy trì được
lâu dài Pharaôn thời Trung Vương quốc cuối cùng đã lại tổ chức được chính
quyền của họ, nông dân và nô lệ lại chịu áp bức bóc lột như cũ.
Sau cuộc khởi nghĩa này không lâu, người Hichxốt ở châu Á đã xâm nhập Ai
Cập Họ dùng chiến thuật xe ngựa bao vây, những cỗ xe gió lao lên như tia
chớp đột nhập vào đội ngũ quân Ai Cập, quân Đội Ai Cập chỉ còn biết nhìn
hướng gió mà chạy. Khi đó người Ai Cập còn chưa biết sử dụng ngựa chiến,
chỉ biết dùng bộ binh để đánh trận mà bộ binh thì không có cách nào ngăn
chặn được kỵ binh và chiến xa.
Người Hichxốt đã thống trị Ai Cập khoảng 150 năm. Năm 1580 trước Công
nguyên, người cầm quyền mới ở thành Tebơ là Amôxit đã dấy quân đánh lại
người Hichxôt, đuổi họ ra khỏi Ai Cập, lập ra Tân Vương quốc Ai Cập. Từ
đó trở đi, người Ai Cập đã học được cách nuôi ngựa và sử dụng kỵ binh
cùng chiến xa.
BẢN HÒA ƯỚC TRÊN TẤM BẢNG BẰNG BẠC
Năm 1296 trước Công nguyên, trong vương cung của Pharaôn Ai Cập có
một đoàn sứ thần cửa nước Hátti đến thăm. Họ mang đến một bảng chữ làm
bằng bạc, bên trên khắc 18 điều khoản về chấm dứt chiến tranh và ký kết hòa
ước giữa hai bên: ''Thủ lĩnh người Hátti vĩ đại mà dũng cảm Hathôsin'' và
''Người thống trị Ai Cập vĩ đại mà dũng cảm Ramset'' tuyên thệ cùng tin cậy
lẫn nhau, hai bên không bao giờ giao chiến với nhau. Khi một nước phải
chiến đấu với nước khác thì phải chi viện cho nhau…
Hátti ở Tiểu Á (nay là Thổ Nhĩ Kỳ), Ai Cập ở Bắc Phi, hai nước cách nhau
hàng ngàn dặm, làm sao lại xảy ra chiến tranh? Số là, người Hátti sau khi
hình thành quốc gia vào năm 2000 trước Công nguyên đã không ngừng bành
trướng ra ngoài. Năm 1600 trước Công nguyên, người Hátti đã đánh chiếm
Syria và Palestin. Sau đó 5 năm lại đánh chiếm thành Babilon, thủ đô của đế
quốc Babilon (nay ở vùng phụ cận Bátđa, Irắc) đã cướp phá sạch thành phố
phồn vinh nhất thế giới lúc đó. Để tranh giành quyền bá chủ ở Trung Đông,
người Hátti đã tiến đánh Ai Cập. Sau này Tân Vương quốc Ai Cập dần dần
cường thịnh, cuối cùng đã phát động cuộc phản công chống người Hátti.
Hãy trở lại với những sự kiện trước khi ký hòa ước.
Một ngày vào năm 1312 trước ...
 





