Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học
Sài Gòn năm xưa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:56' 07-04-2024
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:56' 07-04-2024
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
VƯƠNG HỒNG SỂN
Sài Gòn
Năm Xưa
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP ĐỒNG NAI
Tên sách: Sài Gòn Năm Xưa
Tác giả: Vương Hồng Sển
NXB Tổng Hợp Đồng Nai
Năm Xuất Bản: 2004
Số trang: 317
File epub gốc: cungcung
Làm lại ebook: quocsan, tamchec
Ngày hoàn thành: 24/01/2015
Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT
MỘT THỜI VANG BÓNG” của diễn đàn TVE-4U.ORG
Mục lục
TỰA
PHẦN THỨ NHỨT NHẮC LẠI CUỘC NAM TIẾN VĨ ĐẠI CỦA DÂN
VIỆT
Nối dõi tổ tiên, trong cuộc Nam tiến vĩ đại
1. Cõi Nam từ năm 1658 đến năm 1753
2. Từ năm 1753 đến năm 1780
PHẦN THỨ HAI THỬ TÌM HIỂU BỞI ĐÂU MÀ CÓ DANH TỪ “SÀI
GÒN”
1. Trước hết, từ giống người Phù Nam[18]
2. Nối chân Phù Nam trên vùng Thủy Chân Lạp là người Cam Bốt
3. Theo dấu người Tàu, năm 1680 đến miền Nam, năm 1778 lập Đề
Ngạn
PHẦN THỨ BA
1. Sài Gòn dưới trào Nguyễn Ánh (1774-1820)
2. Sài Gòn dưới trào Minh Mạng (1820-1840)
PHẦN THỨ TƯ TRỞ LẠI VẤN ĐỀ TÌM HIỂU THÊM VỀ VỊ TRÍ SÀI
GÒN
1. Chỗ nào là “Cổ Sài Gòn” thành lũy mà người Cam Bốt gọi là “Prei
Nokor”?
2. Sài Gòn, nơi tụ tập buôn bán của người Tàu (Tai Ngon hay là Tingan)
tạo lập từ năm 1778 (Đề Ngạn)
3. Sài Gòn của Việt
PHẦN THỨ NĂM CỔ TÍCH CHUNG QUANH SÀI GÒN CHỢ LỚN
Chùa Chiền
Sự Phát Triển Của Thiên Chúa Giáo Trong Nam (địa phận Sài Gòn)
Đình thờ thần
PHẦN THỨ SÁU NHÂN VẬT BẢN XỨ HỒI TÂY MỚI QUA
1) Đây là bọn hầu cận các quan Tây
2) Và đây là mấy thầy thông ngôn ký lục
3) Và đây là các “vợ Tây”, “me Tây” thời ấy
4) Còn đây là về mấy chú dọn bàn đã kể trên
5) Đây là bọn gái buôn hương bán phấn thời ấy
6) Lại đây là bọn hạ cấp khiêng gánh xách đồ cho bà đầm,cho ông sơn
đá, hay ông đầu bếp được Tây cưng, tục danh
7) Thêm bọn lính gọi “lính tập” thời ấy (tirailleur).
8) Sau rốt là lính ma tà, ma ní, và ma tà tét[82]
PHẦN THỨ BẢY NHƠN VẬT HOA KIỀU HỒI TÂY MỚI QUA
Hui Bon Hoa
Chú Hỷ
Quách Đàm
PHẦN THỨ TÁM TÂY ĐẾN RỒI TÂY LẠI ĐI… (1859-1946)
Câu hát, câu hò thuở trước
KẾT LUẬN
TÀI LIÊU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Cảm tưởng của tôi về quyển “Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển
Trích báo Mai, số 20, ngày 25-4-1961, của ông Hoàng Minh Tuynh
Trích của Nguyễn Hiến Lê đăng trong báo Mai số 20 ngày 25-4-1961
Đọc Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển.
SÀI GÒN NĂM XƯA
Vương Hồng Sển (biên soạn)
KÍNH DÂNG BA
Tập biên khảo thường đàm nầy để tưởng niệm những phút êm đềm đã
qua
Năm 1919, Ba đưa con lên Sài Gòn vô trường lớn.
Con bắt đầu nếm mùi cháo cá Chợ Cũ, hủ tíu Chợ Mới, xem hát thì
Chùa Bà Chợ Lớn, nhai thịt bò kho thằng Lù, có năm cắc leo chuồng gà
ngồi coi hát Tây, và cảnh không còn gặp nữa là: bữa bữa hai cha con
thượng cao lâu ăn cơm xá xíu.
Năm 1927, Ba lên thăm, con mua bánh Catinat, lòng mừng dâng Ba
món lạ. Ba không dùng, hỏi con: “Chữ Hiếu” sao có đắt tiền?
Năm nay 1960, đầu con bạc mà túi vẫn nhẹ, muốn mua bánh, Ba không
lên: xe giằn, đường xa, hai con đò Cái Vồn và Mỹ Thuận vẫn có tiếng
không lịch sự đối với hành khách “bát thập lão ông” như Ba vậy!
Những ký-ức bấy lâu, con viết gởi về:
“Vương Trạch Nhựt, cháu hãy đọc lớn cho Nội nghe.”
Gia Định, đường Rừng Sác, số 5,
ngày 26 tháng 5 năm 1960
SỂN
TỰA
Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một
cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ
đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển
cổ, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp
nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm gì cũng hỏi vặn tôi về:
gốc tích hai chữ SÀI GÒN.
Nói ư? – Chỉ bày cái dốt của mình ra!
Nín ư? – Người cười, càng thêm khó chịu!”
Thôi thì còn một cách: ôm mớ tài liệu thâu thập bấy lâu – dù hay dù dở, dù
chưa bằng bụng, mình biết lấy mình – bày hết, trình hết ra đây – mặc tình
các vị xa gần tùy thích lựa chọn: “tóc tơ cặn kẽ đuôi đầu,” dù chẳng làm nên
cái bánh ngon, cũng được tiếng là không xấu bụng!
Đối với các bạn nhỏ hiếu học, tôi xin nói lớn:
1) Chỗ nào các bạn thấy mới, đừng sợ: ấy tôi đã cân nhắc kỹ càng, cứ tin
cứ dùng: “coi vậy mà xài được!”
2) Chỗ nào chưa “êm”, nhờ các bạn chỉ giùm, nếu tìm cách bổ khuyết
càng tốt, gọi giúp lẫn nhau: già thua trẻ không xấu, mắc cở bậy, hay gì?
Đối với các học giả, các bậc lão thành, các vị cố cựu đất Sài Gòn, tôi xin
“nghiêng tai nghe dạy, chắp tay đứng hầu.”
Học giả tiền bối trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, trong “Excursions et
Reconnaissances” (tạp chí về du lãm và thám hiểm), tập số 23. tháng Năm và
Sáu năm 1885, có viết một bài khảo cứu Pháp Văn “Souvenirs historiques
sur Saigon et ses environs” (ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ
cân.) Bài này viết hai mươi lăm năm sau năm Nam Kỳ thất thủ (1859-1885).
Nay tôi dựa theo bài ấy làm nồng cốt mà kể tiếp, nhắc lại những sự biến
đổi từ thuở đó cho đến ngày Sài Gòn trở về với dân Việt, ngót một trăm năm.
Bắt tay vào việc, cốt ý của tôi là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn
vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn. Cũng nghĩ nếu mãi sụt sè, đến
ngày xuống lỗ, chắc gì ôm theo được? (mà chừng đó ôm theo ích gì cho ai?)
– Ở đây, tôi chú trọng nhiều nhứt là những đoạn sử buổi giao thời: Pháp –
Nam – Chà – Chệc chung đụng, những chuyện “Tây đến Tây đi”, những việc
chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều
đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám
chắc đúng cả, nhưng “ăn trầu gẫm mà nghe” bây giờ chưa nói còn đợi lúc
nào? Có nói có cãi, lần hồi mới phăng ra sự thật.
Tôi không quên cám ơn anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, người nhau rún Chợ
Lớn, đã dày công giúp tôi xây dựng tập nhỏ nầy.
Cũng như tôi không dám quên ơn tất cả các bạn xa gần đã góp sức cùng
tôi, trong số, điển hình nhứt, có anh Mười Minh Tải Đặng Văn Ký, người
đồng cảnh ngộ với cụ Trần Trọng Kim Tân Gia Ba thuở nọ. Nay Anh Mười
nằm khoảnh làm ẩn sĩ, ấp Đông Nhì, Gò Vấp. Anh không làm gì hết, nhưng
anh dày công ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp thêm ý kiến, và đã đổ nhiều
bọt oáp trong khi cùng tôi tìm hiểu địa điểm “Mả Ngụy” ngày nay nằm nơi
đâu!
Còn một người nữa, bạn già với nhau, ông Hoàng Xuân Lợi, họa sĩ Viện
Bảo Tàng. Mấy ảnh chụp khéo, mấy bức địa đồ công phu không có, làm sao
tập nhỏ này thành hình?
- Bác Lợi, cảm tình chất chứa tận đáy lòng, tôi vội gói làm một gói “tri ân
nồng hậu”, xin Bác vui nhận.
Xuân Mậu Tuất (1958) – Xuân Canh Tý (1960)
VƯƠNG HỒNG SỂN
PHẦN THỨ NHỨT
NHẮC LẠI CUỘC NAM TIẾN VĨ ĐẠI CỦA DÂN VIỆT
Nối dõi tổ tiên, trong cuộc Nam tiến vĩ đại
Đến bây giờ, còn phân phân bất nhứt: các học giả vẫn bàn cãi không thôi
chung quanh hai tiếng “Sài Gòn”, chẳng biết từ đâu, bởi đâu mà có. Kẻ nói
vầy, người nói khác, không ai chịu ai. Tranh luận mãi càng thêm rối trí,
không bổ ích vào đâu. Một điều an ủi chung cho hạng gàn như tôi là chính
trong tập khảo cứu năm 1885, nhà bác học uyên thâm trong Nam, cụ Trương
Vĩnh Ký, cũng tỏ ra bối rối như ai!
Để dọn đường tìm hiểu thêm về nguồn gốc “Sài Gòn” của người Việt,
chúng tôi trước tiên, xin tóm tắt cuộc Nam tiến như sau:
Căn cứ theo tài liệu lịch sử để lại, đại cương cuộc Nam tiến không ngừng
của dân tộc Việt Nam gồm có những năm nầy, quan trọng nhứt:
- 939, tổ tiên Việt còn ở vùng Thanh Hoá, và nhờ có ông Ngô Quyền, cởi
được ách Bắc thuộc, mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau được tự chủ ở
cõi Nam.
- 1069, xuống đến Quảng Bình, Quảng Trị;
- 1307, nhà Trần gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chàm, mở rộng cõi
bờ thêm hai châu Ô Lý (Thừa Thiên);
- 1425, đến Thuận Hoá;
- 1471, đến Quy Nhơn;
- 1611, đến Phú Yên;
- 1653, đến Nha Trang;
- 1658, Cao Miên xin thần phục chúa Nguyễn, nhìn nhận quyền của triều
đình Huế;
- 1680, Nguyễn chúa cho bọn tàn binh nhà Minh khai khẩn hoang địa vùng
Đồng Nai;
- 1693, đến Phan Thiết;
- 1698, đến Biên Hoà và Gia Định (Sài Gòn);
- 1708, MẠC CỬU dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn, Mạc được phong làm
tổng binh đời đời vĩnh trấn Hà Tiên;
- 1755, Cao Miên quốc vương nhượng đất Tân Bôn và Lôi Lạp cho Võ
Vương. Trong Nam, ông Nguyễn Cư Trinh với những kế hoạch khẩn hoang,
dinh điền ở miền Nam. Vào cuối thế kỷ XVIII, tại Gia Định, Trịnh Hoài Đức,
Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, ba người cùng lập thị xã nâng cao đuốc văn
hiến một thời:
- 1780, MẠC THIÊN TỨ (con MẠC CỬU) mất, không con nối hậu. Từ
đây, đất Hà Tiên sát nhập cơ đồ Nguyễn chúa: cuộc Nam tiến của dân tộc
Việt Nam, đến đây đã hoàn thành.
Bản đại lược tóm tắt như trên, gọn thì có gọn, nhưng quá vắn tắt nên khó
tránh sự tối nghĩa, và kém sáng suốt, nhứt là đối với những người không nằm
lòng lịch sử nước nhà.
Về tổ chức đồn điền, xét ra đã có từ đời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn),[1] từ
ngày vua Lê Lợi đuổi được quân Tàu, thế nước rất mạnh, hiềm vì đất đai chật
hẹp không đủ cho dân cày cấy, nên Lê Thánh Tôn thi hành chánh sách bành
trướng vào Nam, lập kế đồn điền. Tổ chức nầy có hai phương lợi: một là trấn
an biên thùy, hai là mở rộng bờ cõi một cách hoà bình. Nhơn thế, một chức
quan được đặt ra, gọi quan Thu ngự kinh lược sứ, với nhiệm vụ chiêu tập
những lưu dân (gồm những dân tình nguyện, những người phải tội lưu trú
ngoài biên cương, hoặc những người bỏ làng để trốn lính và tránh sưu
thuế…) Những người ấy được đưa đi khai khẩn đất hoang, và được quan kinh
lược giúp đỡ và ủng hộ. Họ lấn sang đất Chiêm Thành rồi sau này đất Thủy
Chân Lạp và vẫn yên tâm mở rộng khu vực vì sẵn bên có quân đội bảo vệ an
ninh.
Sau một hai đời, thì những hạt mới được sung nhập lãnh thổ Việt. Lần lần,
những lưu dân miền Bắc, miền Trung, dùng phương pháp “tàm thực” ấy mà
mở rộng đất đai bờ cõi Việt từ sông Cả đến tận mũi Cà Mau. Sự bành trướng
nầy đến ngày chạm súng với Lang Sa mới ngưng.
Nhơn đây là bài khảo cứu về căn cội đất Sài Gòn, và muốn cho đầy đủ,
chúng tôi không sợ lẩn thẩn, mà thuật lại có đầu có đuôi “công cuộc mở
mang bờ cõi” của tổ tiên ta trong cuộc Nam tiến, tính ra kéo dài trên tám trăm
năm (từ năm 939 đến năm 1780) mới hoàn thành. Có một khoảng trên dưới
một trăm năm, cần phải nhấn mạnh nhứt là khoảng từ năm 1658 đến năm
1759, tức đoạn tổ tiên ta chung đụng với người Cam Bốt, trên cõi Nam nầy.
Ngày nay nước Cao Miên và nước Việt Nam là hai người bạn thân, lẽ đáng
không nên khơi lại chuyện cũ. Nhưng nghĩ vì đây là lịch sử nên chúng tôi xin
hết sức thận trọng, vô tư và khách quan, thuật lại như sau để đánh tan những
hiểu lầm.
1. Cõi Nam từ năm 1658 đến năm 1753
Lúc ấy đã có người Cam Bốt ở trên đất Nam nầy rồi. Nói chính đáng mà
nghe, từ Huế, Chúa Hiền Vương đã từng cắt quân đi chinh phục miền Nam.
Quân ta cả thắng Chàm và sau những chiến công rực rỡ, dân Việt đã có dịp
chen vai thích cánh với người Khơ me, nơi những vùng biên giới cũ Chàm,
kể từ năm 1658.
Một điều nên nhớ kỹ, là vào thời buổi ấy, DÂN THƯA ĐẤT RỘNG, DÂN
LÀM ĂN KHÔNG HẾT, việc đi khai khẩn đất hoang là thường sự và không
hề sanh ra việc gì rắc rối. Tục thường ví CHIM TRỜI CÁ NƯỚC, ai bắt được
nấy nhờ.
Một điều khác cần nói rõ thêm là đất miền Nam của bán đảo Ấn Độ – Chi
Na cũng không phải thiệt thọ “phần đất phụ ấm” của Khơ me. Sự thật thì
dòng thổ dân tiên chiếm vùng nầy là giống Phù Nam đã bị tiêu diệt từ thế kỷ
thứ VII, và có thể người Khơ Me chiếm thay người Phù Nam từ thế kỷ thứ
VII, lại mấy có sự đòi hỏi tranh tụng gì? Tha hồ lúc ấy ai khai phá được
khoảnh nào thì nấy làm chủ ăn hoa lợi. Và như đã nói “đất ở không hết”, tội
gì tranh giành cho nhọc lòng lo, cho mệt xác. Sợ nhứt là làm như vậy, chỉ
sanh oán thù, ích gì?
Gương xưa tích cũ còn trước mắt sờ sờ:
- Pháp quốc đã giàu mạnh, nhưng còn nhà đất Gia Nã Đại, chẳng qua lúc
ấy vừa chê xa xôi, vừa chê ít hoa lợi…
- Trung quốc là nước lớn, thế mà cắt đất Mã Cao để làm nhượng địa cho
Bồ Đào Nha, rồi cũng cắt đứt Hương Cảng làm nhượng địa cho Anh Quốc,
chung quy cũng vì thời buổi ấy hai chỗ nầy chỉ núi đá trơ trơ, toàn đất hoang
vu không sanh hoa lợi, “mất” hay “bỏ” vẫn không tiếc…
Nhắc lại, sau khi nhà Minh bên Trung Quốc bị nhà Mãn Châu thay thế, thì
năm 1680, bọn di thần Minh triều như Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn, Trần
Thắng Tài, v.v… tự xưng người “Trường Phát” (tóc dài) không khứng đầu
hàng Thanh triều, vì họ ghét tục dân Mãn Châu cạo đầu gióc bín (để đuôi sam
như đuôi lừa). Bởi rứa, theo sử chép lại, các tướng ấy dìu dắt độ ba ngàn tinh
binh trung thành với cựu trào, lướt sóng trên năm mươi, sáu mươi chiến
thuyền vượt trùng dương tìm xuống miền Nam, xin đầu hàng chúa Nguyễn,
vì dân Nam cũng để tóc dài và trung thành với đạo Khổng Mạnh như họ.
Đứng trước tình trạng khó xử này, chúa Hiền Vương trong lòng bối rối không
vừa, vì kỳ trung chúa chẳng muốn gần gụi đám vong thần bất trị ấy; nhưng
với trí tinh khôn có thừa, ngoài mặt chúa giả cách niềm nở tận tình. Chúa bày
tiệc khoản đãi quân sĩ nhà Minh rồi “tống khứ” họ xuống miền Đông Phố,[2]
cho họ được phép chiếm cứ vùng Đồng Nai thuở đó tuy thuộc lãnh thổ Khơ
Me, nhưng Miên Vương tỏ ra không bận tâm nhiều đến vùng hoang địa ranh
mức tầm ruồng nầy. Như thế, nhơn một mũi tên, chúa Nguyễn bắn được hai
chim; một đàng, được lòng người Tàu vì làm cho họ có chỗ dung thân, đàng
khác nhơn cơ hội, mượn tay tha nhơn, mở rộng bờ cõi một cách hoà bình,
không tốn hao binh sĩ; thật là ngón ngoại giao sắc cạnh khôn bì.
Nhắc lại, được lịnh Chúa Nguyễn, tướng Dương Ngạn Địch kéo quân
xuống chiếm đóng vùng Mỹ Tho trên sông Tiền Giang (Mékong); còn Trần
Thắng Tài, Huỳnh Tấn, và Trần An Bình thì đem bổn bộ binh mã đến chiếm
cứ vùng Biên Hoà, trên con sông Đồng Nai. Vì không nói được chữ “đ” nên
họ vẫn gọi “Đồng Nai” ra “Nông Nại”.
Khi người Khơ Me đụng độ với người Tàu thì đã lấy làm bực mình vì
phong tục khác xa, không dè đến khi ăn chung ở lộn với dân “duồng”, họ lại
càng thêm khó chịu. Họ ngầm ghét đám dân “Đồn điền” mới.
Lần hồi, không cử động binh đao, mà người Cam Bốt (Campuchia) tự rút
lui về miền thượng Lục Chân Lạp (Haut Cambodge) bỏ đất hoang Thủy Chân
Lạp (Basse Cochinchine) cho mặc tình người Trung Quốc và Việt Nam tha
hồ khai phá. (Cái nghiệp “hay hờn mát” và “ưa giận quàng xiên” của người
Miên đến nay vẫn chưa bỏ. Tỷ dụ như lối năm 1920, dân Miên và dân Việt
đua nhau khai thác xin khẩn đất hoang dọc theo kinh xáng mới đào vùng
Phước Long và Vĩnh Qưới (Rạch Giá) để làm ruộng. Mỗi khi đôi bên không
thuận nhau về quyền tiên chủ sở đất nào, thì người Miên thường thách đố
người Việt hãy đồng lòng đem sở đất tranh chấp “hiến nạp” ngon lành cho
viên chức sở tại, như vậy thì họ sẽ hết giận, báo hại quan thinh không phát tài
ngang! Nhưng người Việt đâu chịu làm vậy và thường có cách khéo giải hoà
với bạn Miên khỏi “làm giàu vô cớ” cho quan! Duy ngày nay, còn giận ai nữa
mà Miên vẫn cất nhà xây mặt tiền vào vườn, ít chịu xây mặt ra đường cái hay
ngó ra con sông tấp nập?
Nhắc lại năm Giáp Dần (1674), Chúa Hiền đã tầng sai binh xuống can
thiệp vào việc nội bộ nước Miên do Nặc Ông Non cầu cứu dẹp hộ binh Xiêm.
Đến khi vua Miên thấy cảnh ở Sài Gòn bị kẹp giữa hai gọng kềm “Chệc”,[3]
bèn cầu cứu với triều Huế, Chúa Hiền nhân cơ hội ấy để sai nha trảo xuống
dàn xếp… Thêm một cơ hội may mắn đến cho triều Huế là vào năm 1688
giữa người Tàu Mỹ Tho và người Tàu Cù Lao Phố sanh ra sự bất hoà lớn.
Chúa Hiền khi ấy đã mất, nhưng Ngãi vương nối ngôi không kém sự trí mưu.
Huỳnh Tấn giết Dương Ngạn Địch, binh chưa lại nghỉn thì kế bị Chúa Ngãi
ra tay trước, giết Huỳnh Tấn, dẹp tan đám giặc khách sót lại ở Mỹ Tho mà
làm chủ tình thế hai thị trấn tân tạo Mỹ Tho và Cù Lao Phố (Biên Hoà).
Chúa thừa thắng cho binh tướng kéo rốc lên Cam Bốt tới trước thành Gò
Bích, Miên Vương một mặt dẫn phi tần về thành U Đông, mặt khác sai sứ
nạp biểu. Chúa Ngãi cho dân, quân về an dinh lập trại Bến Nghé. Công việc
ấy gọi là “đồn dinh”.[4]
Thuở đó, xứ Cam Bốt có đến hai vua:
- Vua Nhứt, Chánh Vương, ngự tại thành Lo Vek (sách sử Việt âm là “La
Bích” hoặc “Gò Bích” (Trương Vĩnh Ký); (trong Việt Nam Sử lược, Trần
Trọng Kim, trang 329, ghi “thành Long Úc”, phải Lo Vek này chăng?!)
- Vua Nhì, tức Phó Vương, đóng đo tại Prei Norkor, sau này Sài Gòn.
(Một nước hai vua, một xứ hai mặt trời, đây là một tình thế lưỡng lập vạn
bất đắc dĩ, không bao giờ tồn tại được lâu. Về sau, nếu có xảy ra sự di dân
Khmer tự mình bỏ Thủy Chân Lạp rút lui về Lục Chân Lạp, âu cũng vì một lẽ
Chánh Vương ngầm muốn để còn một vua đặng dứt hậu hoạn về sau, một lẽ
nữa, cũng tại lòng dân Miên mà cũng có tay Trời già ở trong!)
Prei Norkor vào thời bấy giờ, là một thôn nhỏ trong rừng già dựa kề một
đồn kiên cố, dân cư thưa thớt, nhà cửa lèo tèo, cột cây nóc lá, tập trung trên
các gò nổng cao ráo, chung quanh là ao sình nước đọng quanh năm, sâu vô
trong nữa thì toàn là rừng rú thiên nhiên đã có từ tạo thiên lập địa, không ai
khai phá, đầy rẫy muỗi mòng, đỉa vắt và thú dữ: tây, tượng, hùm beo, khỉ,
sấu… Prei Norkor dùng làm nơi đồn trú của Phó Vương Cao Miên (một cái
gai trong mắt Chánh Vương.)
Việt Sử Trần Trọng Kim nói:
“Năm Mậu Tuất (1658), vua nước Chân Lạp mất, chú cháu tranh nhau,
sang cầu cứu bên chúa Nguyễn, chúa Nguyễn bấy giờ là chúa Hiền sai
quan đem ba ngàn quân sang đánh ở Mỗi Xuy[5] (nay thuộc Phúc Chánh,
Biên Hòa) bắt được vua là Nặc Ông Chân đem về giam ở Quảng Bình một
độ, rồi tha cho về nước, bắt phải triều cống và phải bênh vực người An
Nam sang làm ăn ở bên ấy.
“Năm Giáp Dần (1674), nước Chân Lạp có người Nặc Ông Đài đi cầu viện
nước Xiêm La để đánh Nặc Ông Nộn.
“Nặc Ông Nộn bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh
Hòa). Chúa Hiền bèn sai cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm
cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra làm hai đạo
sang đánh Nặc Ông Đài, phá được đồn Sài Gòn rồi tiến quân lên vây thành
Nam Vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào chết ở trong rừng. Nặc
Ông Thu ra hàng. Nặc Ông Thu chính là dòng con trưởng nên lại lập làm
chánh quốc vương đóng ở Long Úc, để Nặc Ông Nộn đóng ở Sài Gòn, bắt
hàng năm phải triều cống.
“Năm Mậu Thìn (1688), Hoàng Tiến[6] giết Dương Ngạn Địch, rồi đem
chúng đóng đồn ở Nam Khê, làm tàu, đúc súng để chống nhau với người
Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Thu cũng đào hào đắp lũy làm kế cố
thủ và bỏ không chịu thần phục chúa Nguyễn nữa.
“Bấy giờ chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Trăn sai quan đem quân[7] đi đánh
dẹp, dùng mưu giết được Hoàng Tiến và bắt vua Chân Lạp[8] phải theo lệ
triều cống.[9]
Năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn
Hữu Kính[10] làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố (Giản Phố)
ra làm dinh, làm huyện, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long và xứ Sài
Gòn làm huyện Tân Bình[11] Đặt Trấn Biên dinh (tức Biên Hòa) và Phiên
Trấn dinh (tức Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu
dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn
những người Tàu ở đất Trấn Biên (Biên Hòa) thì lập làm xã Thanh Hà:
những người ở đất Phiên Trấn (Gia Định) thì lập làm xã Minh Hương.
Những người ấy đều thuộc về sổ bộ nước ta”.
(Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, trương 329-330)
2. Từ năm 1753 đến năm 1780
Xin kể lại những năm oanh liệt nhất để đánh dấu những kỳ công của tổ tiên
ta:
Năm 1753, vua Chân Lạp Nặc Ông Nguyên lấn hiếp người Côn Man ở
trong Nam, triều đình Huế bèn cử ông Nguyễn Cư Trinh làm quan tham mưu
lo việc đánh dẹp. Ba phen thắng giặc, Cư Trinh bèn hiến kế “tàm thực” làm
cho mười năm sau hoàn thành cuộc mở mang: Thủy Chân Lạp hoàn toàn về
tay chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Bấy giờ miền rừng sác[12] hoang vu, cực nam là vùng Lòi Lạp (Gò Công),
Tầm Bôn (Tân An) và vùng các cửa sông Cửu Long (Ba Thắc[13] tức vùng
Sóc Trăng, Bạc Liêu) và Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre), còn thuộc Chân Lạp.
Đồng thời với việc thôn tính nước Chiêm (1611-1692), chúa Nguyễn đã
tiến lần xuống miền Đồng Nai phì nhiêu. Hơn một thế kỷ (1623-1739), do
việc giành ngôi lẫn nhau của các vua Miên mà chúa Nguyễn lần hồi thâu
phục dân Việt dần dần mở mang các đất đai: Mô Xoài[14] (Bà Rịa, Biên Hòa)
(1658), Sài Gòn (Gia Định) (1698), Định Tường (Mỹ Tho) và Long Hồ (Vĩnh
Long) (1731). Phía vịnh Xiêm La, MẠC CỬU dâng đất Hà Tiên và hòn Phú
Quốc cho chúa Nguyễn từ năm 1741, sau đó con là MẠC THIÊN TỨ mở
thêm bốn huyện (1739): Long Xuyên (miền Cà Mau), Kiên Giang (Rạch
Giá), Trấn Giang (miền Cần Thơ) và Trấn Di (miền bắc Bạc Liêu).
Đến triều Võ Vương, vua Chân Lạp Nặc Ông Thu (Sthea) nhờ chúa
Nguyễn mà giữ ngôi báu ở La Bích (Lovek) (1736-1748). Sau Nặc Ông
Thâm (Thomae), chú của Tha, thua chạy trốn bên Xiêm từ năm 1715, lại trở
về đánh đuổi Nặc Ông Tha và cướp ngôi (1748) song chẳng bao lâu thì mất.
Mấy người con của Thâm tranh ngôi. Võ Vương sai Nguyễn Hữu Doãn
làm thống suất đánh dẹp và lập Nặc Ông Tha làm vua trở lại. Được vài tháng,
Tha bị con của Thâm là Nặc Nguyên (Ang Snguôn) đen quân Xiêm đánh
đuổi (1750). Tha thua, chạy sang Gia Định cầu cứu nhưng chết ở đấy.
Nặc Nguyên tranh được ngôi vua lại thường đem binh lấn hiếp người Côn
Man là tàn tích dân Chiêm sang trú ngụ từ năm 1693.
Về phía Bắc, Nặc Nguyên lại thông sứ với Chúa Trịnh Doanh (1740-1767)
để lập mưu đánh Chúa Nguyễn quyết giành lại Thủy Chân Lạp.
Mùa đông năm Quý Dậu (1753), Võ Vương sai ông Thiện Chính (khuyết
tên)[15] làm thống suất và ông Nguyễn Cư Trinh, ký lục Bố Chánh Dinh làm
quan tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh đi đánh giặc Nguyên. Quân
tiến đến Ngưu Chử (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị thêm nhiều, để
làm kế khai thác.
Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), ông Cư Trinh với ông Thống suất chia
quân tiến lên. Oâng Cư Trinh đi đến đâu, giặc quy phục đến đó; đi qua đất
Tần Lê (?) ra đến Sông Lớn[16] cùng hội quân với ông Thiện Chính ở đồn Lôi
Lạp (Soi Rạp: Gò Công), phủ Tầm Bôn (Tân An), phủ Cầu Nam (Ba Nam),
phủ Nam Vinh (Nam Vang: Phnôm Pênh), bốn phủ hàng cả. Rồi chiêu phục
người Côn Man để làm thanh thế.
Nặc Nguyên chạy trốn gần Vĩnh Long; gặp mùa nước nổi, phải ngưng
đánh phá.
Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), ông Thống suất về đồn Mỹ Tho, dẫn theo
hơn vạn người Côn Man mới chiêu phục. Đến đất Vô Tà Ân (có lẽ là vùng
Đồng Tháp Mười) bị quân của Nặc Nguyên đổ ra đánh úp. Quân của thống
suất đi tập hậu bị mắc bụi rậm vũng lầy, không thể đến cứu viện. Ông
Nguyễn Cư Trinh mới đem quân của ông đến cứu thoát hơn năm người Côn
Man, vừa trai vừa gái, rồi đem về trú ở núi Bà Dinh (Bà Đen).
Nhân ông Cư Trinh hạch tấu ông Thiện Chính về tội để mất cơ nghi mà bỏ
dân mới phục hàng, vua giáng ông ấy xuống chức cai đội, cho ông Trương
Phúc Du thay thế.
Ông Cư Trinh với ông Phúc Du và người Côn Man đi tiên phong đến đánh
hai phủ Cầu Nam và Nam Vinh.
Nặc Nguyên thua, chạy trốn sang Hà Tiên nương theo Mạc Thiên Tứ, nhờ
Tứ xin hộ với Chúa Nguyễn, hiến hai phủ Tân Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội, và
bổ vào lệ triều cống đã bỏ ba năm về trước, cùng để xin cho về nước.
Vua không cho. Ông Cư Trinh mới dâng sớ tâu rằng:
“Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh, chẳng qua là muốn giết đứa cừ khôi, mở
mang bờ cõi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đã hối quá, biết nộp đất hiến của.
Nếu không cho y hàng, thì y chạy trốn; mà từ Gia Định đến La Bích,
đường sá xa xôi, không tiện đuổi đánh. Vậy muốn mở mang bờ cõi, chi
bằng hãy lấy hai phủ ấy, giữ chặt phía sau cho hai dinh (Phiên Trấn và
Trấn Biên). Năm xưa, đi mở phủ Gia Định, trước phải mở phủ Hưng Phúc
(Biên Hoà), rồi mới mở đến phủ Lộc Dã (Đồng Nai) để quân dân đoàn tụ,
rồi mới mở đất Sài Côn. Đó là cái kế “tằm ăn dâu” đó.
Nay từ Hưng Phúc đến Sài Côn đường đi chỉ hai ngày, mà dân cư còn chưa
yên tập, quân giữ cũng có đứa chưa khỏe; phương chi từ Sài Côn đến Tầm
Bôn, đường đi trong sáu ngày, thú binh trụ phòng, thực sợ chưa đủ.
Thần thấy rợ Côn Man đánh đường bộ rất tài, quân Chân Lạp cũng đã chột
dạ. Nếu cho rợ Côn Man ở đấy, sai nó ngăng chống, lấy mọi đánh rợ, cũng
là kế hay. Vậy nên xin cho nước Chân Lạp chuộc tội, lấy hai phủ ấy, cho
thần xem xét tình thế, đặt lũy đóng quân, cấp điền sản cho quân dân, chia
địa giới, lấy châu Định Viễn để thâu cả toàn bức.”
(Rút trong quyển “Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi” của hai ông Lê Ngọc
Trụ và Phạm Văn Luật.)
Vua theo lời tâu, nhận lấy hai phủ (1756) và cho Nặc Nguyên về nước.
Năm Đinh Sửu (1757), Nặc Nguyên chết, chú họ là Nặc Nhuận (Neac Ang
Nhuan) làm gián đốc, xin hiến đất Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba
Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để cầu được chúa Võ Vương phong làm Vua.
Song không lâu, Nhuận bị rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết cướp ngôi
(1758).
Cháu của Nặc Nhuận là Nặc Tôn, con của Nặc Nguyên, chạy sang Hà Tiên
cầu cứu với Mạc Thiên Tứ, Thiên Tứ dâng sớ tâu qua các việc và xin
phong Nặc Tôn làm vua Chân Lạp. Võ Vương thuận cho, sai tướng Ngũ
dinh tại Gia Định hợp với Thiên Tứ lo việc ấy. Trương Phúc Du đem binh
đánh dẹp, Nặc Hinh thua chạy, bị kẻ thuộc hạ giết. Hoàng tử Nặc Non
cùng hoàng gia chạy trốn bên Xiêm.
Nặc Tôn được Mạc Thiên Tứ đưa về nước lập làm vua, và được Võ Vương
sắc phong chức Phiên Vương.
Để tạ ơn Võ Vương, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa
Đéc) (1759). Rồi cắt năm phủ: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột
(Kampot), Sài Mạt (Cheal Meas), Chưng Rừm, Linh Quỳnh (vùng duyên
hải từ Sré Ambel đến Peam) để riêng tạ ơn Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ đều
dâng cả cho chúa Nguyễn.[17] Võ Vương bèn dạy sát nhập vào trấn Hà
Tiên.
Thế là vừa trọn một thế kỷ (1658-1759), Thủy Chân Lạp hoàn toàn thuộc
về Việt Nam.
(Tài liệu mượn trong quyển “Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi” của hai
ông Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật, trang 45-49).
Đoạn trên kể lại công ngiệp khai mở bờ cõi của một vị tướng văn võ toàn
tài là ông Nguyễn Cư Trinh. Cư Trinh lại rất có công về cuộc phòng thủ lâu
dài.
Ông giỏi phương pháp “dĩ địch chế địch” nên đặt người Côn Man thủ Tây
Ninh và Hồng Ngự (Châu Đốc), nay hai chỗ này còn di tích người Chàm.
Chính ông Cư Trinh xin dời dinh Long Hồ lên xứ Tầm Bào, cũng thuộc tỉnh
lỵ Vĩnh Long.
Về mặt thủy đạo, ông sai lập đồn hai bên sông Cửu Long gần biên giới:
- Tân Châu đạo (Cù Lao Giêng) ở Tiền Giang.
- Châu Đốc đạo ở Hậu Giang.
- Thêm lập Đông Khẩu đạo, ở xứ Sa Đéc, để làm hậu thuẫn.
Các đạo ấy dùng binh ở Long Hồ dinh để trấn áp, giữ mặt vịnh Xiêm La,
phòng Xiêm làm hỗn, Cư Trinh và Thiên Tứ đặt ra Kiên Giang đạo ở Rạch
Giá và Long Xuyên đạo ở vùng Cà Mau.
Ông Cư Trinh lại rất giàu sáng kiến. Ông lo tổ chức sự an ninh vùng đất
mới, đảm bảo sự thông thương buôn bán trên vùng rạch hồ. Như thuở ấy,
khúc sông Gia Định còn nhiều chỗ xưng bá, thuyền cướp tụ tập phá khuấy
ghe thương hồ (ngày trước còn để lại tàn tích “bối Ba Cụm” thuộc vùng Bình
Điền, Tân Bửu, v.v…), Cư Trinh bày ra lệ bắt thuyền các Hạt, bất luận lớn
nhỏ, trước mũi phải khắc tên họ, quê quán, chủ thuyền và ghi bộ quan sở tại
để tiện tra xét.
Nguyễn Cư Trinh còn là một văn nhơn tài tử, ông thường ngâm vịnh, sang
Phương Thành (Hà Tiên) nhập Chiêu Anh Các xướng họa cùng Mạc Thiên
Tứ. Hai người rất là tương đắc, Thiên Tứ có ra mười bài “Hà Tiên thập cảnh
vịnh” (nay còn truyền tụng). Cư Trinh có họa đủ mười bài.
Kể lại trong Nam, đời ấy công nghiệp lớn nhất có hai ông: Nguyễn Cư
Trinh và Mạc Thiên Tứ. Ông trước cầm binh ra trận, thi phú tài tình; Ông sau
giỏi ngón ngoại giao và văn chương tao nhã. Cả hai mở rộng bờ cõi Miền
Nam cho chúng ta được hưởng ngày rày.
Đồng thời tại Gia Định, trong nhóm người Minh Hương, có ba ông: Trịnh
Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định đều là những bực công thần có
công xây dựng cõi Nam, đua nhau nâng cao nền văn hiến Việt và tận tâm
giúp chúa Nguyễn thâu lại cơ nghiệp tổ tiên thống nhất giang san. Hà Tiên có
Chiêu Anh Các, Gia Định có Thi hữu tam gia không kém.
Năm 1780, Mạc Thiên Tứ từ trần, không con nối hậu. Đất Hà Tiên từ đây
sát nhập cơ đồ Nguyễn Chúa:
CUỘC MỞ MANG BỜ CÕI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ĐẾN ĐÂY, KỂ
NHƯ ĐÃ HOÀN THÀNH.
PHẦN THỨ HAI
THỬ TÌM HIỂU BỞI ĐÂU MÀ CÓ DANH TỪ “SÀI GÒN”
Cuộc mở mang bờ cõi giải quyết xong, nay bắt qua tìm hiểu về lai lịch đất
Sài Gòn
Về danh từ “SÀI GÒN”
Đại Nam Quốc Âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của viết:
__: Sài tức là củi thổi.
__: Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam
hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi là cây bông gạo (kapok,
kapokier).
Điều nên nhớ là thuở cựu trào, mỗi lần chạy sớ tấu ra kinh, mỗi moxi lấy
Hán tự làm gốc. Các quan trong Nam thuở ấy, để gọi thành “Sài Gòn” đều
viết hai chữ nôm như vầy ___. Viết làm vậy, nhưng đến khi đọc thì luôn luôn
đọc là “Sài Gòn”. Về sau, có nhiều người, đọc “Sài Côn”, tưởng rằng đúng.
Ngờ đâu, đọc như thế là phản ý người xưa, tôi muốn nói những người cố cựu
miền Nam của đất Gia Định cũ. Cũng như có một ông tướng tên là Võ Tánh,
vốn người Gò Công, nay rất nhiều người đọc tên ông là Vũ Tính. Lại như tên
một trái núi trên Biên Hòa, thuở nào đến nay, quen gọi là “núi Châu Thới”.
Nay thường nghe nhiều học giả đọc và viết “núi Chu Thái”, chúng tôi không
dám nói gì, nhưng thiết tưởng đến ông Trời cũng phải chịu! Còn đến như
nguyên do làm sao cổ nhân khi trước ghép chữ Hán “Sài” với một chữ Nôm
“Gòn” làm vậy thì thú thật tôi xin chịu bí! Nói nhỏ mà nghe, dốt nát như tôi,
tôi hiểu rằng khi ông bà ta thiếu chữ “gòn” không biết phải viết làm sao, thì
ông bà cứ mượn chữ “côn” thế tạm, có hại gì đâu, hại chăng là ngày nay con
cháu không muốn đọc y như ông bà lại dám chê xưa kia ông bà ta quá dốt!
Cũng trong Tự Vị ông Huỳnh Tịnh Của, còn thấy ghi hai chỗ khác nhau về
danh từ Sài Gòn:
Sài Gòn: tên riêng đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé (trang
280 quyển II).
Sài Gòn: tên xứ ở về tỉnh Gia Định (trang 390 quyển I).
Tôi xin hẹn sau sẽ giải nghĩa việc này. Điều nên chú ý liền đây là bộ Tự vị
Huỳnh Tịnh Của in vào năm 1895-1896 cho ta thấy rõ đời ấy đã có sự lẫn lộn
về danh từ “Sài Gòn” rồi.
Để tìm hiểu sâu rộng và muốn biết rành rẽ về nguồn gốc tích “SÀI GÒN”,
phải dày công phăng từ ngọn ngành, căn cội và chịu khó tra cứu từng các dân
tộc một, đã sống qua các thời đại trải không biết mấy ngàn năm và thay nhau
khai thác cõi Nam này:
1) người Phù Nam,
2) người Cam Bốt,
3) người Tàu,
4) người Việt.
1. Trước hết, từ giống người Phù Nam[18]
Thời cổ đại, theo sử Trung Quốc ghi lại, thì có giống người Phù Nam
chiếm cứ sơ khởi vùng gọi Phù Nam. Đất Phù Nam sau đổi lại là “Thủy Chân
Lạp” (le Chan-la des eaux ou Basse Cochinchine) để phân biệt với đất Lục
Chân Lạp (le Chan-la des montagnes ou Cambodge).
THỜI ĐẠI NÀY, ĐẤT THỦY CHÂN LẠP CÒN LÀ RỪNG RẬM SÌNH
LẦY, THÀNH SÀI GÒN CHƯA CÓ.
Khoảng năm 1943-1944, nhà học giả Pháp, ông Louis Malleret nhân danh
là hội viên trường Viễn Đông Bác cổ và Giám đốc viện Bảo tàng Sài Gòn có
thân hành đến chặng giữa đường Long Xuyên đi Rạch Giá, noi dấu bọn thổ
dân đã đến chỗ này nhiều tháng trước để bòn vàng… Nơi đây, ông tìm ra di
tích một nền cổ Phù Nam bị chôn vùi dưới đất từ ngàn xưa. Ông có đem về
Viện Bảo tàng rất nhiều món đồ n...
Sài Gòn
Năm Xưa
NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP ĐỒNG NAI
Tên sách: Sài Gòn Năm Xưa
Tác giả: Vương Hồng Sển
NXB Tổng Hợp Đồng Nai
Năm Xuất Bản: 2004
Số trang: 317
File epub gốc: cungcung
Làm lại ebook: quocsan, tamchec
Ngày hoàn thành: 24/01/2015
Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA 1000 QUYỂN SÁCH VIỆT
MỘT THỜI VANG BÓNG” của diễn đàn TVE-4U.ORG
Mục lục
TỰA
PHẦN THỨ NHỨT NHẮC LẠI CUỘC NAM TIẾN VĨ ĐẠI CỦA DÂN
VIỆT
Nối dõi tổ tiên, trong cuộc Nam tiến vĩ đại
1. Cõi Nam từ năm 1658 đến năm 1753
2. Từ năm 1753 đến năm 1780
PHẦN THỨ HAI THỬ TÌM HIỂU BỞI ĐÂU MÀ CÓ DANH TỪ “SÀI
GÒN”
1. Trước hết, từ giống người Phù Nam[18]
2. Nối chân Phù Nam trên vùng Thủy Chân Lạp là người Cam Bốt
3. Theo dấu người Tàu, năm 1680 đến miền Nam, năm 1778 lập Đề
Ngạn
PHẦN THỨ BA
1. Sài Gòn dưới trào Nguyễn Ánh (1774-1820)
2. Sài Gòn dưới trào Minh Mạng (1820-1840)
PHẦN THỨ TƯ TRỞ LẠI VẤN ĐỀ TÌM HIỂU THÊM VỀ VỊ TRÍ SÀI
GÒN
1. Chỗ nào là “Cổ Sài Gòn” thành lũy mà người Cam Bốt gọi là “Prei
Nokor”?
2. Sài Gòn, nơi tụ tập buôn bán của người Tàu (Tai Ngon hay là Tingan)
tạo lập từ năm 1778 (Đề Ngạn)
3. Sài Gòn của Việt
PHẦN THỨ NĂM CỔ TÍCH CHUNG QUANH SÀI GÒN CHỢ LỚN
Chùa Chiền
Sự Phát Triển Của Thiên Chúa Giáo Trong Nam (địa phận Sài Gòn)
Đình thờ thần
PHẦN THỨ SÁU NHÂN VẬT BẢN XỨ HỒI TÂY MỚI QUA
1) Đây là bọn hầu cận các quan Tây
2) Và đây là mấy thầy thông ngôn ký lục
3) Và đây là các “vợ Tây”, “me Tây” thời ấy
4) Còn đây là về mấy chú dọn bàn đã kể trên
5) Đây là bọn gái buôn hương bán phấn thời ấy
6) Lại đây là bọn hạ cấp khiêng gánh xách đồ cho bà đầm,cho ông sơn
đá, hay ông đầu bếp được Tây cưng, tục danh
7) Thêm bọn lính gọi “lính tập” thời ấy (tirailleur).
8) Sau rốt là lính ma tà, ma ní, và ma tà tét[82]
PHẦN THỨ BẢY NHƠN VẬT HOA KIỀU HỒI TÂY MỚI QUA
Hui Bon Hoa
Chú Hỷ
Quách Đàm
PHẦN THỨ TÁM TÂY ĐẾN RỒI TÂY LẠI ĐI… (1859-1946)
Câu hát, câu hò thuở trước
KẾT LUẬN
TÀI LIÊU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Cảm tưởng của tôi về quyển “Sài Gòn năm xưa” của Vương Hồng Sển
Trích báo Mai, số 20, ngày 25-4-1961, của ông Hoàng Minh Tuynh
Trích của Nguyễn Hiến Lê đăng trong báo Mai số 20 ngày 25-4-1961
Đọc Sài Gòn năm xưa của Vương Hồng Sển.
SÀI GÒN NĂM XƯA
Vương Hồng Sển (biên soạn)
KÍNH DÂNG BA
Tập biên khảo thường đàm nầy để tưởng niệm những phút êm đềm đã
qua
Năm 1919, Ba đưa con lên Sài Gòn vô trường lớn.
Con bắt đầu nếm mùi cháo cá Chợ Cũ, hủ tíu Chợ Mới, xem hát thì
Chùa Bà Chợ Lớn, nhai thịt bò kho thằng Lù, có năm cắc leo chuồng gà
ngồi coi hát Tây, và cảnh không còn gặp nữa là: bữa bữa hai cha con
thượng cao lâu ăn cơm xá xíu.
Năm 1927, Ba lên thăm, con mua bánh Catinat, lòng mừng dâng Ba
món lạ. Ba không dùng, hỏi con: “Chữ Hiếu” sao có đắt tiền?
Năm nay 1960, đầu con bạc mà túi vẫn nhẹ, muốn mua bánh, Ba không
lên: xe giằn, đường xa, hai con đò Cái Vồn và Mỹ Thuận vẫn có tiếng
không lịch sự đối với hành khách “bát thập lão ông” như Ba vậy!
Những ký-ức bấy lâu, con viết gởi về:
“Vương Trạch Nhựt, cháu hãy đọc lớn cho Nội nghe.”
Gia Định, đường Rừng Sác, số 5,
ngày 26 tháng 5 năm 1960
SỂN
TỰA
Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một
cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ
đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển
cổ, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp
nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm gì cũng hỏi vặn tôi về:
gốc tích hai chữ SÀI GÒN.
Nói ư? – Chỉ bày cái dốt của mình ra!
Nín ư? – Người cười, càng thêm khó chịu!”
Thôi thì còn một cách: ôm mớ tài liệu thâu thập bấy lâu – dù hay dù dở, dù
chưa bằng bụng, mình biết lấy mình – bày hết, trình hết ra đây – mặc tình
các vị xa gần tùy thích lựa chọn: “tóc tơ cặn kẽ đuôi đầu,” dù chẳng làm nên
cái bánh ngon, cũng được tiếng là không xấu bụng!
Đối với các bạn nhỏ hiếu học, tôi xin nói lớn:
1) Chỗ nào các bạn thấy mới, đừng sợ: ấy tôi đã cân nhắc kỹ càng, cứ tin
cứ dùng: “coi vậy mà xài được!”
2) Chỗ nào chưa “êm”, nhờ các bạn chỉ giùm, nếu tìm cách bổ khuyết
càng tốt, gọi giúp lẫn nhau: già thua trẻ không xấu, mắc cở bậy, hay gì?
Đối với các học giả, các bậc lão thành, các vị cố cựu đất Sài Gòn, tôi xin
“nghiêng tai nghe dạy, chắp tay đứng hầu.”
Học giả tiền bối trong Nam, cụ Trương Vĩnh Ký, trong “Excursions et
Reconnaissances” (tạp chí về du lãm và thám hiểm), tập số 23. tháng Năm và
Sáu năm 1885, có viết một bài khảo cứu Pháp Văn “Souvenirs historiques
sur Saigon et ses environs” (ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ
cân.) Bài này viết hai mươi lăm năm sau năm Nam Kỳ thất thủ (1859-1885).
Nay tôi dựa theo bài ấy làm nồng cốt mà kể tiếp, nhắc lại những sự biến
đổi từ thuở đó cho đến ngày Sài Gòn trở về với dân Việt, ngót một trăm năm.
Bắt tay vào việc, cốt ý của tôi là muốn cống hiến ra đây mớ hiểu biết lụn
vụn và mớ nghe thấy vặt vãnh về Sài Gòn. Cũng nghĩ nếu mãi sụt sè, đến
ngày xuống lỗ, chắc gì ôm theo được? (mà chừng đó ôm theo ích gì cho ai?)
– Ở đây, tôi chú trọng nhiều nhứt là những đoạn sử buổi giao thời: Pháp –
Nam – Chà – Chệc chung đụng, những chuyện “Tây đến Tây đi”, những việc
chưa ai nói rõ ràng, may tôi được nghe tận tai, hoặc thấy tận mắt, nhiều
đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại. Tôi không dám
chắc đúng cả, nhưng “ăn trầu gẫm mà nghe” bây giờ chưa nói còn đợi lúc
nào? Có nói có cãi, lần hồi mới phăng ra sự thật.
Tôi không quên cám ơn anh bạn thân Lê Ngọc Trụ, người nhau rún Chợ
Lớn, đã dày công giúp tôi xây dựng tập nhỏ nầy.
Cũng như tôi không dám quên ơn tất cả các bạn xa gần đã góp sức cùng
tôi, trong số, điển hình nhứt, có anh Mười Minh Tải Đặng Văn Ký, người
đồng cảnh ngộ với cụ Trần Trọng Kim Tân Gia Ba thuở nọ. Nay Anh Mười
nằm khoảnh làm ẩn sĩ, ấp Đông Nhì, Gò Vấp. Anh không làm gì hết, nhưng
anh dày công ủng hộ tôi về mặt tinh thần, giúp thêm ý kiến, và đã đổ nhiều
bọt oáp trong khi cùng tôi tìm hiểu địa điểm “Mả Ngụy” ngày nay nằm nơi
đâu!
Còn một người nữa, bạn già với nhau, ông Hoàng Xuân Lợi, họa sĩ Viện
Bảo Tàng. Mấy ảnh chụp khéo, mấy bức địa đồ công phu không có, làm sao
tập nhỏ này thành hình?
- Bác Lợi, cảm tình chất chứa tận đáy lòng, tôi vội gói làm một gói “tri ân
nồng hậu”, xin Bác vui nhận.
Xuân Mậu Tuất (1958) – Xuân Canh Tý (1960)
VƯƠNG HỒNG SỂN
PHẦN THỨ NHỨT
NHẮC LẠI CUỘC NAM TIẾN VĨ ĐẠI CỦA DÂN VIỆT
Nối dõi tổ tiên, trong cuộc Nam tiến vĩ đại
Đến bây giờ, còn phân phân bất nhứt: các học giả vẫn bàn cãi không thôi
chung quanh hai tiếng “Sài Gòn”, chẳng biết từ đâu, bởi đâu mà có. Kẻ nói
vầy, người nói khác, không ai chịu ai. Tranh luận mãi càng thêm rối trí,
không bổ ích vào đâu. Một điều an ủi chung cho hạng gàn như tôi là chính
trong tập khảo cứu năm 1885, nhà bác học uyên thâm trong Nam, cụ Trương
Vĩnh Ký, cũng tỏ ra bối rối như ai!
Để dọn đường tìm hiểu thêm về nguồn gốc “Sài Gòn” của người Việt,
chúng tôi trước tiên, xin tóm tắt cuộc Nam tiến như sau:
Căn cứ theo tài liệu lịch sử để lại, đại cương cuộc Nam tiến không ngừng
của dân tộc Việt Nam gồm có những năm nầy, quan trọng nhứt:
- 939, tổ tiên Việt còn ở vùng Thanh Hoá, và nhờ có ông Ngô Quyền, cởi
được ách Bắc thuộc, mở đường cho Đinh, Lê, Lý, Trần, về sau được tự chủ ở
cõi Nam.
- 1069, xuống đến Quảng Bình, Quảng Trị;
- 1307, nhà Trần gả Huyền Trân Công Chúa cho vua Chàm, mở rộng cõi
bờ thêm hai châu Ô Lý (Thừa Thiên);
- 1425, đến Thuận Hoá;
- 1471, đến Quy Nhơn;
- 1611, đến Phú Yên;
- 1653, đến Nha Trang;
- 1658, Cao Miên xin thần phục chúa Nguyễn, nhìn nhận quyền của triều
đình Huế;
- 1680, Nguyễn chúa cho bọn tàn binh nhà Minh khai khẩn hoang địa vùng
Đồng Nai;
- 1693, đến Phan Thiết;
- 1698, đến Biên Hoà và Gia Định (Sài Gòn);
- 1708, MẠC CỬU dâng Hà Tiên cho chúa Nguyễn, Mạc được phong làm
tổng binh đời đời vĩnh trấn Hà Tiên;
- 1755, Cao Miên quốc vương nhượng đất Tân Bôn và Lôi Lạp cho Võ
Vương. Trong Nam, ông Nguyễn Cư Trinh với những kế hoạch khẩn hoang,
dinh điền ở miền Nam. Vào cuối thế kỷ XVIII, tại Gia Định, Trịnh Hoài Đức,
Ngô Nhơn Tịnh, Lê Quang Định, ba người cùng lập thị xã nâng cao đuốc văn
hiến một thời:
- 1780, MẠC THIÊN TỨ (con MẠC CỬU) mất, không con nối hậu. Từ
đây, đất Hà Tiên sát nhập cơ đồ Nguyễn chúa: cuộc Nam tiến của dân tộc
Việt Nam, đến đây đã hoàn thành.
Bản đại lược tóm tắt như trên, gọn thì có gọn, nhưng quá vắn tắt nên khó
tránh sự tối nghĩa, và kém sáng suốt, nhứt là đối với những người không nằm
lòng lịch sử nước nhà.
Về tổ chức đồn điền, xét ra đã có từ đời Hồng Đức (Lê Thánh Tôn),[1] từ
ngày vua Lê Lợi đuổi được quân Tàu, thế nước rất mạnh, hiềm vì đất đai chật
hẹp không đủ cho dân cày cấy, nên Lê Thánh Tôn thi hành chánh sách bành
trướng vào Nam, lập kế đồn điền. Tổ chức nầy có hai phương lợi: một là trấn
an biên thùy, hai là mở rộng bờ cõi một cách hoà bình. Nhơn thế, một chức
quan được đặt ra, gọi quan Thu ngự kinh lược sứ, với nhiệm vụ chiêu tập
những lưu dân (gồm những dân tình nguyện, những người phải tội lưu trú
ngoài biên cương, hoặc những người bỏ làng để trốn lính và tránh sưu
thuế…) Những người ấy được đưa đi khai khẩn đất hoang, và được quan kinh
lược giúp đỡ và ủng hộ. Họ lấn sang đất Chiêm Thành rồi sau này đất Thủy
Chân Lạp và vẫn yên tâm mở rộng khu vực vì sẵn bên có quân đội bảo vệ an
ninh.
Sau một hai đời, thì những hạt mới được sung nhập lãnh thổ Việt. Lần lần,
những lưu dân miền Bắc, miền Trung, dùng phương pháp “tàm thực” ấy mà
mở rộng đất đai bờ cõi Việt từ sông Cả đến tận mũi Cà Mau. Sự bành trướng
nầy đến ngày chạm súng với Lang Sa mới ngưng.
Nhơn đây là bài khảo cứu về căn cội đất Sài Gòn, và muốn cho đầy đủ,
chúng tôi không sợ lẩn thẩn, mà thuật lại có đầu có đuôi “công cuộc mở
mang bờ cõi” của tổ tiên ta trong cuộc Nam tiến, tính ra kéo dài trên tám trăm
năm (từ năm 939 đến năm 1780) mới hoàn thành. Có một khoảng trên dưới
một trăm năm, cần phải nhấn mạnh nhứt là khoảng từ năm 1658 đến năm
1759, tức đoạn tổ tiên ta chung đụng với người Cam Bốt, trên cõi Nam nầy.
Ngày nay nước Cao Miên và nước Việt Nam là hai người bạn thân, lẽ đáng
không nên khơi lại chuyện cũ. Nhưng nghĩ vì đây là lịch sử nên chúng tôi xin
hết sức thận trọng, vô tư và khách quan, thuật lại như sau để đánh tan những
hiểu lầm.
1. Cõi Nam từ năm 1658 đến năm 1753
Lúc ấy đã có người Cam Bốt ở trên đất Nam nầy rồi. Nói chính đáng mà
nghe, từ Huế, Chúa Hiền Vương đã từng cắt quân đi chinh phục miền Nam.
Quân ta cả thắng Chàm và sau những chiến công rực rỡ, dân Việt đã có dịp
chen vai thích cánh với người Khơ me, nơi những vùng biên giới cũ Chàm,
kể từ năm 1658.
Một điều nên nhớ kỹ, là vào thời buổi ấy, DÂN THƯA ĐẤT RỘNG, DÂN
LÀM ĂN KHÔNG HẾT, việc đi khai khẩn đất hoang là thường sự và không
hề sanh ra việc gì rắc rối. Tục thường ví CHIM TRỜI CÁ NƯỚC, ai bắt được
nấy nhờ.
Một điều khác cần nói rõ thêm là đất miền Nam của bán đảo Ấn Độ – Chi
Na cũng không phải thiệt thọ “phần đất phụ ấm” của Khơ me. Sự thật thì
dòng thổ dân tiên chiếm vùng nầy là giống Phù Nam đã bị tiêu diệt từ thế kỷ
thứ VII, và có thể người Khơ Me chiếm thay người Phù Nam từ thế kỷ thứ
VII, lại mấy có sự đòi hỏi tranh tụng gì? Tha hồ lúc ấy ai khai phá được
khoảnh nào thì nấy làm chủ ăn hoa lợi. Và như đã nói “đất ở không hết”, tội
gì tranh giành cho nhọc lòng lo, cho mệt xác. Sợ nhứt là làm như vậy, chỉ
sanh oán thù, ích gì?
Gương xưa tích cũ còn trước mắt sờ sờ:
- Pháp quốc đã giàu mạnh, nhưng còn nhà đất Gia Nã Đại, chẳng qua lúc
ấy vừa chê xa xôi, vừa chê ít hoa lợi…
- Trung quốc là nước lớn, thế mà cắt đất Mã Cao để làm nhượng địa cho
Bồ Đào Nha, rồi cũng cắt đứt Hương Cảng làm nhượng địa cho Anh Quốc,
chung quy cũng vì thời buổi ấy hai chỗ nầy chỉ núi đá trơ trơ, toàn đất hoang
vu không sanh hoa lợi, “mất” hay “bỏ” vẫn không tiếc…
Nhắc lại, sau khi nhà Minh bên Trung Quốc bị nhà Mãn Châu thay thế, thì
năm 1680, bọn di thần Minh triều như Dương Ngạn Địch, Huỳnh Tấn, Trần
Thắng Tài, v.v… tự xưng người “Trường Phát” (tóc dài) không khứng đầu
hàng Thanh triều, vì họ ghét tục dân Mãn Châu cạo đầu gióc bín (để đuôi sam
như đuôi lừa). Bởi rứa, theo sử chép lại, các tướng ấy dìu dắt độ ba ngàn tinh
binh trung thành với cựu trào, lướt sóng trên năm mươi, sáu mươi chiến
thuyền vượt trùng dương tìm xuống miền Nam, xin đầu hàng chúa Nguyễn,
vì dân Nam cũng để tóc dài và trung thành với đạo Khổng Mạnh như họ.
Đứng trước tình trạng khó xử này, chúa Hiền Vương trong lòng bối rối không
vừa, vì kỳ trung chúa chẳng muốn gần gụi đám vong thần bất trị ấy; nhưng
với trí tinh khôn có thừa, ngoài mặt chúa giả cách niềm nở tận tình. Chúa bày
tiệc khoản đãi quân sĩ nhà Minh rồi “tống khứ” họ xuống miền Đông Phố,[2]
cho họ được phép chiếm cứ vùng Đồng Nai thuở đó tuy thuộc lãnh thổ Khơ
Me, nhưng Miên Vương tỏ ra không bận tâm nhiều đến vùng hoang địa ranh
mức tầm ruồng nầy. Như thế, nhơn một mũi tên, chúa Nguyễn bắn được hai
chim; một đàng, được lòng người Tàu vì làm cho họ có chỗ dung thân, đàng
khác nhơn cơ hội, mượn tay tha nhơn, mở rộng bờ cõi một cách hoà bình,
không tốn hao binh sĩ; thật là ngón ngoại giao sắc cạnh khôn bì.
Nhắc lại, được lịnh Chúa Nguyễn, tướng Dương Ngạn Địch kéo quân
xuống chiếm đóng vùng Mỹ Tho trên sông Tiền Giang (Mékong); còn Trần
Thắng Tài, Huỳnh Tấn, và Trần An Bình thì đem bổn bộ binh mã đến chiếm
cứ vùng Biên Hoà, trên con sông Đồng Nai. Vì không nói được chữ “đ” nên
họ vẫn gọi “Đồng Nai” ra “Nông Nại”.
Khi người Khơ Me đụng độ với người Tàu thì đã lấy làm bực mình vì
phong tục khác xa, không dè đến khi ăn chung ở lộn với dân “duồng”, họ lại
càng thêm khó chịu. Họ ngầm ghét đám dân “Đồn điền” mới.
Lần hồi, không cử động binh đao, mà người Cam Bốt (Campuchia) tự rút
lui về miền thượng Lục Chân Lạp (Haut Cambodge) bỏ đất hoang Thủy Chân
Lạp (Basse Cochinchine) cho mặc tình người Trung Quốc và Việt Nam tha
hồ khai phá. (Cái nghiệp “hay hờn mát” và “ưa giận quàng xiên” của người
Miên đến nay vẫn chưa bỏ. Tỷ dụ như lối năm 1920, dân Miên và dân Việt
đua nhau khai thác xin khẩn đất hoang dọc theo kinh xáng mới đào vùng
Phước Long và Vĩnh Qưới (Rạch Giá) để làm ruộng. Mỗi khi đôi bên không
thuận nhau về quyền tiên chủ sở đất nào, thì người Miên thường thách đố
người Việt hãy đồng lòng đem sở đất tranh chấp “hiến nạp” ngon lành cho
viên chức sở tại, như vậy thì họ sẽ hết giận, báo hại quan thinh không phát tài
ngang! Nhưng người Việt đâu chịu làm vậy và thường có cách khéo giải hoà
với bạn Miên khỏi “làm giàu vô cớ” cho quan! Duy ngày nay, còn giận ai nữa
mà Miên vẫn cất nhà xây mặt tiền vào vườn, ít chịu xây mặt ra đường cái hay
ngó ra con sông tấp nập?
Nhắc lại năm Giáp Dần (1674), Chúa Hiền đã tầng sai binh xuống can
thiệp vào việc nội bộ nước Miên do Nặc Ông Non cầu cứu dẹp hộ binh Xiêm.
Đến khi vua Miên thấy cảnh ở Sài Gòn bị kẹp giữa hai gọng kềm “Chệc”,[3]
bèn cầu cứu với triều Huế, Chúa Hiền nhân cơ hội ấy để sai nha trảo xuống
dàn xếp… Thêm một cơ hội may mắn đến cho triều Huế là vào năm 1688
giữa người Tàu Mỹ Tho và người Tàu Cù Lao Phố sanh ra sự bất hoà lớn.
Chúa Hiền khi ấy đã mất, nhưng Ngãi vương nối ngôi không kém sự trí mưu.
Huỳnh Tấn giết Dương Ngạn Địch, binh chưa lại nghỉn thì kế bị Chúa Ngãi
ra tay trước, giết Huỳnh Tấn, dẹp tan đám giặc khách sót lại ở Mỹ Tho mà
làm chủ tình thế hai thị trấn tân tạo Mỹ Tho và Cù Lao Phố (Biên Hoà).
Chúa thừa thắng cho binh tướng kéo rốc lên Cam Bốt tới trước thành Gò
Bích, Miên Vương một mặt dẫn phi tần về thành U Đông, mặt khác sai sứ
nạp biểu. Chúa Ngãi cho dân, quân về an dinh lập trại Bến Nghé. Công việc
ấy gọi là “đồn dinh”.[4]
Thuở đó, xứ Cam Bốt có đến hai vua:
- Vua Nhứt, Chánh Vương, ngự tại thành Lo Vek (sách sử Việt âm là “La
Bích” hoặc “Gò Bích” (Trương Vĩnh Ký); (trong Việt Nam Sử lược, Trần
Trọng Kim, trang 329, ghi “thành Long Úc”, phải Lo Vek này chăng?!)
- Vua Nhì, tức Phó Vương, đóng đo tại Prei Norkor, sau này Sài Gòn.
(Một nước hai vua, một xứ hai mặt trời, đây là một tình thế lưỡng lập vạn
bất đắc dĩ, không bao giờ tồn tại được lâu. Về sau, nếu có xảy ra sự di dân
Khmer tự mình bỏ Thủy Chân Lạp rút lui về Lục Chân Lạp, âu cũng vì một lẽ
Chánh Vương ngầm muốn để còn một vua đặng dứt hậu hoạn về sau, một lẽ
nữa, cũng tại lòng dân Miên mà cũng có tay Trời già ở trong!)
Prei Norkor vào thời bấy giờ, là một thôn nhỏ trong rừng già dựa kề một
đồn kiên cố, dân cư thưa thớt, nhà cửa lèo tèo, cột cây nóc lá, tập trung trên
các gò nổng cao ráo, chung quanh là ao sình nước đọng quanh năm, sâu vô
trong nữa thì toàn là rừng rú thiên nhiên đã có từ tạo thiên lập địa, không ai
khai phá, đầy rẫy muỗi mòng, đỉa vắt và thú dữ: tây, tượng, hùm beo, khỉ,
sấu… Prei Norkor dùng làm nơi đồn trú của Phó Vương Cao Miên (một cái
gai trong mắt Chánh Vương.)
Việt Sử Trần Trọng Kim nói:
“Năm Mậu Tuất (1658), vua nước Chân Lạp mất, chú cháu tranh nhau,
sang cầu cứu bên chúa Nguyễn, chúa Nguyễn bấy giờ là chúa Hiền sai
quan đem ba ngàn quân sang đánh ở Mỗi Xuy[5] (nay thuộc Phúc Chánh,
Biên Hòa) bắt được vua là Nặc Ông Chân đem về giam ở Quảng Bình một
độ, rồi tha cho về nước, bắt phải triều cống và phải bênh vực người An
Nam sang làm ăn ở bên ấy.
“Năm Giáp Dần (1674), nước Chân Lạp có người Nặc Ông Đài đi cầu viện
nước Xiêm La để đánh Nặc Ông Nộn.
“Nặc Ông Nộn bỏ chạy sang cầu cứu ở dinh Thái Khang (nay là Khánh
Hòa). Chúa Hiền bèn sai cai cơ đạo Nha Trang là Nguyễn Dương Lâm
cùng với Nguyễn Đình Phái làm tham mưu đem binh chia ra làm hai đạo
sang đánh Nặc Ông Đài, phá được đồn Sài Gòn rồi tiến quân lên vây thành
Nam Vang. Nặc Ông Đài phải bỏ thành chạy vào chết ở trong rừng. Nặc
Ông Thu ra hàng. Nặc Ông Thu chính là dòng con trưởng nên lại lập làm
chánh quốc vương đóng ở Long Úc, để Nặc Ông Nộn đóng ở Sài Gòn, bắt
hàng năm phải triều cống.
“Năm Mậu Thìn (1688), Hoàng Tiến[6] giết Dương Ngạn Địch, rồi đem
chúng đóng đồn ở Nam Khê, làm tàu, đúc súng để chống nhau với người
Chân Lạp. Vua Chân Lạp là Nặc Ông Thu cũng đào hào đắp lũy làm kế cố
thủ và bỏ không chịu thần phục chúa Nguyễn nữa.
“Bấy giờ chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Trăn sai quan đem quân[7] đi đánh
dẹp, dùng mưu giết được Hoàng Tiến và bắt vua Chân Lạp[8] phải theo lệ
triều cống.[9]
Năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn
Hữu Kính[10] làm kinh lược đất Chân Lạp, chia đất Đông Phố (Giản Phố)
ra làm dinh, làm huyện, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long và xứ Sài
Gòn làm huyện Tân Bình[11] Đặt Trấn Biên dinh (tức Biên Hòa) và Phiên
Trấn dinh (tức Gia Định) sai quan vào cai trị. Lại chiêu mộ những kẻ lưu
dân từ Quảng Bình trở vào để lập ra thôn xã và khai khẩn ruộng đất. Còn
những người Tàu ở đất Trấn Biên (Biên Hòa) thì lập làm xã Thanh Hà:
những người ở đất Phiên Trấn (Gia Định) thì lập làm xã Minh Hương.
Những người ấy đều thuộc về sổ bộ nước ta”.
(Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, trương 329-330)
2. Từ năm 1753 đến năm 1780
Xin kể lại những năm oanh liệt nhất để đánh dấu những kỳ công của tổ tiên
ta:
Năm 1753, vua Chân Lạp Nặc Ông Nguyên lấn hiếp người Côn Man ở
trong Nam, triều đình Huế bèn cử ông Nguyễn Cư Trinh làm quan tham mưu
lo việc đánh dẹp. Ba phen thắng giặc, Cư Trinh bèn hiến kế “tàm thực” làm
cho mười năm sau hoàn thành cuộc mở mang: Thủy Chân Lạp hoàn toàn về
tay chúa Nguyễn ở Đàng Trong.
Bấy giờ miền rừng sác[12] hoang vu, cực nam là vùng Lòi Lạp (Gò Công),
Tầm Bôn (Tân An) và vùng các cửa sông Cửu Long (Ba Thắc[13] tức vùng
Sóc Trăng, Bạc Liêu) và Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre), còn thuộc Chân Lạp.
Đồng thời với việc thôn tính nước Chiêm (1611-1692), chúa Nguyễn đã
tiến lần xuống miền Đồng Nai phì nhiêu. Hơn một thế kỷ (1623-1739), do
việc giành ngôi lẫn nhau của các vua Miên mà chúa Nguyễn lần hồi thâu
phục dân Việt dần dần mở mang các đất đai: Mô Xoài[14] (Bà Rịa, Biên Hòa)
(1658), Sài Gòn (Gia Định) (1698), Định Tường (Mỹ Tho) và Long Hồ (Vĩnh
Long) (1731). Phía vịnh Xiêm La, MẠC CỬU dâng đất Hà Tiên và hòn Phú
Quốc cho chúa Nguyễn từ năm 1741, sau đó con là MẠC THIÊN TỨ mở
thêm bốn huyện (1739): Long Xuyên (miền Cà Mau), Kiên Giang (Rạch
Giá), Trấn Giang (miền Cần Thơ) và Trấn Di (miền bắc Bạc Liêu).
Đến triều Võ Vương, vua Chân Lạp Nặc Ông Thu (Sthea) nhờ chúa
Nguyễn mà giữ ngôi báu ở La Bích (Lovek) (1736-1748). Sau Nặc Ông
Thâm (Thomae), chú của Tha, thua chạy trốn bên Xiêm từ năm 1715, lại trở
về đánh đuổi Nặc Ông Tha và cướp ngôi (1748) song chẳng bao lâu thì mất.
Mấy người con của Thâm tranh ngôi. Võ Vương sai Nguyễn Hữu Doãn
làm thống suất đánh dẹp và lập Nặc Ông Tha làm vua trở lại. Được vài tháng,
Tha bị con của Thâm là Nặc Nguyên (Ang Snguôn) đen quân Xiêm đánh
đuổi (1750). Tha thua, chạy sang Gia Định cầu cứu nhưng chết ở đấy.
Nặc Nguyên tranh được ngôi vua lại thường đem binh lấn hiếp người Côn
Man là tàn tích dân Chiêm sang trú ngụ từ năm 1693.
Về phía Bắc, Nặc Nguyên lại thông sứ với Chúa Trịnh Doanh (1740-1767)
để lập mưu đánh Chúa Nguyễn quyết giành lại Thủy Chân Lạp.
Mùa đông năm Quý Dậu (1753), Võ Vương sai ông Thiện Chính (khuyết
tên)[15] làm thống suất và ông Nguyễn Cư Trinh, ký lục Bố Chánh Dinh làm
quan tham mưu, điều khiển tướng sĩ năm dinh đi đánh giặc Nguyên. Quân
tiến đến Ngưu Chử (Bến Nghé), lập dinh trại, kén sĩ tốt, trừ bị thêm nhiều, để
làm kế khai thác.
Mùa hạ năm Giáp Tuất (1754), ông Cư Trinh với ông Thống suất chia
quân tiến lên. Oâng Cư Trinh đi đến đâu, giặc quy phục đến đó; đi qua đất
Tần Lê (?) ra đến Sông Lớn[16] cùng hội quân với ông Thiện Chính ở đồn Lôi
Lạp (Soi Rạp: Gò Công), phủ Tầm Bôn (Tân An), phủ Cầu Nam (Ba Nam),
phủ Nam Vinh (Nam Vang: Phnôm Pênh), bốn phủ hàng cả. Rồi chiêu phục
người Côn Man để làm thanh thế.
Nặc Nguyên chạy trốn gần Vĩnh Long; gặp mùa nước nổi, phải ngưng
đánh phá.
Mùa xuân năm Ất Hợi (1755), ông Thống suất về đồn Mỹ Tho, dẫn theo
hơn vạn người Côn Man mới chiêu phục. Đến đất Vô Tà Ân (có lẽ là vùng
Đồng Tháp Mười) bị quân của Nặc Nguyên đổ ra đánh úp. Quân của thống
suất đi tập hậu bị mắc bụi rậm vũng lầy, không thể đến cứu viện. Ông
Nguyễn Cư Trinh mới đem quân của ông đến cứu thoát hơn năm người Côn
Man, vừa trai vừa gái, rồi đem về trú ở núi Bà Dinh (Bà Đen).
Nhân ông Cư Trinh hạch tấu ông Thiện Chính về tội để mất cơ nghi mà bỏ
dân mới phục hàng, vua giáng ông ấy xuống chức cai đội, cho ông Trương
Phúc Du thay thế.
Ông Cư Trinh với ông Phúc Du và người Côn Man đi tiên phong đến đánh
hai phủ Cầu Nam và Nam Vinh.
Nặc Nguyên thua, chạy trốn sang Hà Tiên nương theo Mạc Thiên Tứ, nhờ
Tứ xin hộ với Chúa Nguyễn, hiến hai phủ Tân Bôn, Lôi Lạp để chuộc tội, và
bổ vào lệ triều cống đã bỏ ba năm về trước, cùng để xin cho về nước.
Vua không cho. Ông Cư Trinh mới dâng sớ tâu rằng:
“Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh, chẳng qua là muốn giết đứa cừ khôi, mở
mang bờ cõi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đã hối quá, biết nộp đất hiến của.
Nếu không cho y hàng, thì y chạy trốn; mà từ Gia Định đến La Bích,
đường sá xa xôi, không tiện đuổi đánh. Vậy muốn mở mang bờ cõi, chi
bằng hãy lấy hai phủ ấy, giữ chặt phía sau cho hai dinh (Phiên Trấn và
Trấn Biên). Năm xưa, đi mở phủ Gia Định, trước phải mở phủ Hưng Phúc
(Biên Hoà), rồi mới mở đến phủ Lộc Dã (Đồng Nai) để quân dân đoàn tụ,
rồi mới mở đất Sài Côn. Đó là cái kế “tằm ăn dâu” đó.
Nay từ Hưng Phúc đến Sài Côn đường đi chỉ hai ngày, mà dân cư còn chưa
yên tập, quân giữ cũng có đứa chưa khỏe; phương chi từ Sài Côn đến Tầm
Bôn, đường đi trong sáu ngày, thú binh trụ phòng, thực sợ chưa đủ.
Thần thấy rợ Côn Man đánh đường bộ rất tài, quân Chân Lạp cũng đã chột
dạ. Nếu cho rợ Côn Man ở đấy, sai nó ngăng chống, lấy mọi đánh rợ, cũng
là kế hay. Vậy nên xin cho nước Chân Lạp chuộc tội, lấy hai phủ ấy, cho
thần xem xét tình thế, đặt lũy đóng quân, cấp điền sản cho quân dân, chia
địa giới, lấy châu Định Viễn để thâu cả toàn bức.”
(Rút trong quyển “Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi” của hai ông Lê Ngọc
Trụ và Phạm Văn Luật.)
Vua theo lời tâu, nhận lấy hai phủ (1756) và cho Nặc Nguyên về nước.
Năm Đinh Sửu (1757), Nặc Nguyên chết, chú họ là Nặc Nhuận (Neac Ang
Nhuan) làm gián đốc, xin hiến đất Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba
Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để cầu được chúa Võ Vương phong làm Vua.
Song không lâu, Nhuận bị rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết cướp ngôi
(1758).
Cháu của Nặc Nhuận là Nặc Tôn, con của Nặc Nguyên, chạy sang Hà Tiên
cầu cứu với Mạc Thiên Tứ, Thiên Tứ dâng sớ tâu qua các việc và xin
phong Nặc Tôn làm vua Chân Lạp. Võ Vương thuận cho, sai tướng Ngũ
dinh tại Gia Định hợp với Thiên Tứ lo việc ấy. Trương Phúc Du đem binh
đánh dẹp, Nặc Hinh thua chạy, bị kẻ thuộc hạ giết. Hoàng tử Nặc Non
cùng hoàng gia chạy trốn bên Xiêm.
Nặc Tôn được Mạc Thiên Tứ đưa về nước lập làm vua, và được Võ Vương
sắc phong chức Phiên Vương.
Để tạ ơn Võ Vương, Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa
Đéc) (1759). Rồi cắt năm phủ: Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột
(Kampot), Sài Mạt (Cheal Meas), Chưng Rừm, Linh Quỳnh (vùng duyên
hải từ Sré Ambel đến Peam) để riêng tạ ơn Thiên Tứ. Mạc Thiên Tứ đều
dâng cả cho chúa Nguyễn.[17] Võ Vương bèn dạy sát nhập vào trấn Hà
Tiên.
Thế là vừa trọn một thế kỷ (1658-1759), Thủy Chân Lạp hoàn toàn thuộc
về Việt Nam.
(Tài liệu mượn trong quyển “Nguyễn Cư Trinh với quyển Sãi Vãi” của hai
ông Lê Ngọc Trụ và Phạm Văn Luật, trang 45-49).
Đoạn trên kể lại công ngiệp khai mở bờ cõi của một vị tướng văn võ toàn
tài là ông Nguyễn Cư Trinh. Cư Trinh lại rất có công về cuộc phòng thủ lâu
dài.
Ông giỏi phương pháp “dĩ địch chế địch” nên đặt người Côn Man thủ Tây
Ninh và Hồng Ngự (Châu Đốc), nay hai chỗ này còn di tích người Chàm.
Chính ông Cư Trinh xin dời dinh Long Hồ lên xứ Tầm Bào, cũng thuộc tỉnh
lỵ Vĩnh Long.
Về mặt thủy đạo, ông sai lập đồn hai bên sông Cửu Long gần biên giới:
- Tân Châu đạo (Cù Lao Giêng) ở Tiền Giang.
- Châu Đốc đạo ở Hậu Giang.
- Thêm lập Đông Khẩu đạo, ở xứ Sa Đéc, để làm hậu thuẫn.
Các đạo ấy dùng binh ở Long Hồ dinh để trấn áp, giữ mặt vịnh Xiêm La,
phòng Xiêm làm hỗn, Cư Trinh và Thiên Tứ đặt ra Kiên Giang đạo ở Rạch
Giá và Long Xuyên đạo ở vùng Cà Mau.
Ông Cư Trinh lại rất giàu sáng kiến. Ông lo tổ chức sự an ninh vùng đất
mới, đảm bảo sự thông thương buôn bán trên vùng rạch hồ. Như thuở ấy,
khúc sông Gia Định còn nhiều chỗ xưng bá, thuyền cướp tụ tập phá khuấy
ghe thương hồ (ngày trước còn để lại tàn tích “bối Ba Cụm” thuộc vùng Bình
Điền, Tân Bửu, v.v…), Cư Trinh bày ra lệ bắt thuyền các Hạt, bất luận lớn
nhỏ, trước mũi phải khắc tên họ, quê quán, chủ thuyền và ghi bộ quan sở tại
để tiện tra xét.
Nguyễn Cư Trinh còn là một văn nhơn tài tử, ông thường ngâm vịnh, sang
Phương Thành (Hà Tiên) nhập Chiêu Anh Các xướng họa cùng Mạc Thiên
Tứ. Hai người rất là tương đắc, Thiên Tứ có ra mười bài “Hà Tiên thập cảnh
vịnh” (nay còn truyền tụng). Cư Trinh có họa đủ mười bài.
Kể lại trong Nam, đời ấy công nghiệp lớn nhất có hai ông: Nguyễn Cư
Trinh và Mạc Thiên Tứ. Ông trước cầm binh ra trận, thi phú tài tình; Ông sau
giỏi ngón ngoại giao và văn chương tao nhã. Cả hai mở rộng bờ cõi Miền
Nam cho chúng ta được hưởng ngày rày.
Đồng thời tại Gia Định, trong nhóm người Minh Hương, có ba ông: Trịnh
Hoài Đức, Ngô Nhơn Tịnh và Lê Quang Định đều là những bực công thần có
công xây dựng cõi Nam, đua nhau nâng cao nền văn hiến Việt và tận tâm
giúp chúa Nguyễn thâu lại cơ nghiệp tổ tiên thống nhất giang san. Hà Tiên có
Chiêu Anh Các, Gia Định có Thi hữu tam gia không kém.
Năm 1780, Mạc Thiên Tứ từ trần, không con nối hậu. Đất Hà Tiên từ đây
sát nhập cơ đồ Nguyễn Chúa:
CUỘC MỞ MANG BỜ CÕI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ĐẾN ĐÂY, KỂ
NHƯ ĐÃ HOÀN THÀNH.
PHẦN THỨ HAI
THỬ TÌM HIỂU BỞI ĐÂU MÀ CÓ DANH TỪ “SÀI GÒN”
Cuộc mở mang bờ cõi giải quyết xong, nay bắt qua tìm hiểu về lai lịch đất
Sài Gòn
Về danh từ “SÀI GÒN”
Đại Nam Quốc Âm Tự vị của Huỳnh Tịnh Của viết:
__: Sài tức là củi thổi.
__: Gòn tên loại cây có bông nhẹ xốp, nhẹ hơn bông thường, trong Nam
hay dùng để dồn gối, dồn nệm, ngoài Bắc gọi là cây bông gạo (kapok,
kapokier).
Điều nên nhớ là thuở cựu trào, mỗi lần chạy sớ tấu ra kinh, mỗi moxi lấy
Hán tự làm gốc. Các quan trong Nam thuở ấy, để gọi thành “Sài Gòn” đều
viết hai chữ nôm như vầy ___. Viết làm vậy, nhưng đến khi đọc thì luôn luôn
đọc là “Sài Gòn”. Về sau, có nhiều người, đọc “Sài Côn”, tưởng rằng đúng.
Ngờ đâu, đọc như thế là phản ý người xưa, tôi muốn nói những người cố cựu
miền Nam của đất Gia Định cũ. Cũng như có một ông tướng tên là Võ Tánh,
vốn người Gò Công, nay rất nhiều người đọc tên ông là Vũ Tính. Lại như tên
một trái núi trên Biên Hòa, thuở nào đến nay, quen gọi là “núi Châu Thới”.
Nay thường nghe nhiều học giả đọc và viết “núi Chu Thái”, chúng tôi không
dám nói gì, nhưng thiết tưởng đến ông Trời cũng phải chịu! Còn đến như
nguyên do làm sao cổ nhân khi trước ghép chữ Hán “Sài” với một chữ Nôm
“Gòn” làm vậy thì thú thật tôi xin chịu bí! Nói nhỏ mà nghe, dốt nát như tôi,
tôi hiểu rằng khi ông bà ta thiếu chữ “gòn” không biết phải viết làm sao, thì
ông bà cứ mượn chữ “côn” thế tạm, có hại gì đâu, hại chăng là ngày nay con
cháu không muốn đọc y như ông bà lại dám chê xưa kia ông bà ta quá dốt!
Cũng trong Tự Vị ông Huỳnh Tịnh Của, còn thấy ghi hai chỗ khác nhau về
danh từ Sài Gòn:
Sài Gòn: tên riêng đất Chợ Lớn, bây giờ lại hiểu là đất Bến Nghé (trang
280 quyển II).
Sài Gòn: tên xứ ở về tỉnh Gia Định (trang 390 quyển I).
Tôi xin hẹn sau sẽ giải nghĩa việc này. Điều nên chú ý liền đây là bộ Tự vị
Huỳnh Tịnh Của in vào năm 1895-1896 cho ta thấy rõ đời ấy đã có sự lẫn lộn
về danh từ “Sài Gòn” rồi.
Để tìm hiểu sâu rộng và muốn biết rành rẽ về nguồn gốc tích “SÀI GÒN”,
phải dày công phăng từ ngọn ngành, căn cội và chịu khó tra cứu từng các dân
tộc một, đã sống qua các thời đại trải không biết mấy ngàn năm và thay nhau
khai thác cõi Nam này:
1) người Phù Nam,
2) người Cam Bốt,
3) người Tàu,
4) người Việt.
1. Trước hết, từ giống người Phù Nam[18]
Thời cổ đại, theo sử Trung Quốc ghi lại, thì có giống người Phù Nam
chiếm cứ sơ khởi vùng gọi Phù Nam. Đất Phù Nam sau đổi lại là “Thủy Chân
Lạp” (le Chan-la des eaux ou Basse Cochinchine) để phân biệt với đất Lục
Chân Lạp (le Chan-la des montagnes ou Cambodge).
THỜI ĐẠI NÀY, ĐẤT THỦY CHÂN LẠP CÒN LÀ RỪNG RẬM SÌNH
LẦY, THÀNH SÀI GÒN CHƯA CÓ.
Khoảng năm 1943-1944, nhà học giả Pháp, ông Louis Malleret nhân danh
là hội viên trường Viễn Đông Bác cổ và Giám đốc viện Bảo tàng Sài Gòn có
thân hành đến chặng giữa đường Long Xuyên đi Rạch Giá, noi dấu bọn thổ
dân đã đến chỗ này nhiều tháng trước để bòn vàng… Nơi đây, ông tìm ra di
tích một nền cổ Phù Nam bị chôn vùi dưới đất từ ngàn xưa. Ông có đem về
Viện Bảo tàng rất nhiều món đồ n...
 





