BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg

    Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học

    Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 19h:34' 12-04-2024
    Dung lượng: 1.8 MB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người
    Nguyễn Trãi Đánh Giặc Cứu Nước
    Nguyễn Lương Bích
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach

    Table of Contents
    LỜI NÓI ĐẦU
    PHẦN MỘT NGUYỄN TRÃI VÀ SỨ MẠNG LỊCH SỬ CỦA THỜI ĐẠI
    CHƯƠNG I NGUYỄN TRÃI VÀ THỜI ĐẠI TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC
    CHƯƠNG II NGUYỄN TRÃI TRƯỚC SỰ NGHIỆP ĐÁNH GIẶC CỨU NƯỚC CỦA DÂN TỘC
    PHẦN HAI NGUYỄN TRÃI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHONG TRÀO LAM SƠN TỪ KHỞI NGHĨA
    ĐỊA PHƯƠNG THÀNH CHIẾN TRANH TOÀN QUỐC
    CHƯƠNG III BÌNH NGÔ SÁCH VỚI ĐƯỜNG LỐI TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH CẢ NƯỚC ĐỂ
    ĐÁNH THẮNG GIẶC
    CHƯƠNG IV CHUYỂN HƯỚNG CHIẾN LƯỢC VÀO NAM
    CHƯƠNG V TIẾN QUÂN RA BẮC
    PHẦN BA NGUYỄN TRÃI VÀ KẾ SÁCH ĐẠI PHÁ QUÂN XÂM LƯỢC GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN
    ĐẤT NƯỚC
    CHƯƠNG VI MỘT LỐI ĐÁNH ĐỊCH, KHI ĐỊCH “TRÍ CÙNG LỰC KIỆT" XÂY DỰNG NHÀ
    NƯỚC ĐỘC LẬP VÀ QUÂN ĐỘI DÂN TỘC HÙNG MẠNH TẠO ĐIỀU KIỆN GIÀNH THẮNG LỢI
    HOÀN TOÀN
    CHƯƠNG VII ĐƯỜNG LỐI KẾT THÚC CHIẾN TRANH: ĐÈ BẸP Ý CHÍ XÂM LƯỢC CỦA ĐỊCH
    BẰNG TIẾN CÔNG QUÂN SỰ QUYẾT LIỆT, KẾT HỢP DỤ HÀNG VÀ ĐÀM PHÁN HÒA BÌNH
    CHƯƠNG VIII ĐẠI PHÁ 15 VẠN VIỆN BINH ĐỊCH
    CHƯƠNG IX BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG CỦA QUÂN CHIẾM ĐÓNG, XIN HÀNG ĐỂ ĐƯỢC TOÀN
    QUÂN VỀ NƯỚC
    PHẦN BỐN NGUYỄN TRÃI TIẾP TỤC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NHỮNG THÀNH QUẢ CHIẾN ĐẤU ĐÃ
    GIÀNH ĐƯỢC: ĐỘC LẬP DÂN TỘC, THỐNG NHẤT TỔ QUỐC, CÔNG LÝ XÃ HỘI VÀ ĐỜI SỐNG YÊN
    LÀNH CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN DÂN
    CHƯƠNG X NGUYỄN TRÃI TIẾP TỤC ĐẤU TRANH CỦNG CỐ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ THỐNG
    NHẤT TỔ QUỐC HẾT LÒNG VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ
    CHƯƠNG XI NGUYỄN TRÃI NÊU CAO NHÂN NGHĨA, KIÊN QUYẾT “TRỪ ĐỘC, TRỪ THAM,
    TRỪ BẠO NGƯỢC", BẢO VỆ CÔNG LÝ VÀ ĐỜI SỐNG YÊN LÀNH CỦA QUẦN CHÚNG NHÂN
    DÂN
    KẾT LUẬN
    NGUYỄN TRÃI SỐNG MÃI VỚI NON SÔNG ĐẤT NƯỚC TA
    PHỤ LỤC
    SÁCH, BÁO THAM KHẢO

    LỜI NÓI ĐẦU
    Nguyễn Trãi là một nhân vật lớn của dân tộc ta trong các thời đại trước, một nhân vật
    vĩ đại về nhiều mặt, rất hiếm có trong lịch sử. Công lao, sự nghiệp của ông rất lớn. Đạo đức,
    phong cách của ông rất cao đẹp. Ông là một anh hùng dân tộc vĩ đại, là nhà chính trị lỗi lạc, nhà
    chiến lược thiên tài, nhà ngoại giao kiệt xuất, đồng thời là một nhà văn lớn, nhà thơ lớn, nhà sử
    học, nhà địa lý học, nhà làm luật pháp và âm nhạc xuất sắc. Nguyễn Trãi là niềm tự hào vô hạn
    của dân tộc ta.
    Ngay từ khi còn sống, Nguyễn Trãi đã được những người đương thời khen ngợi là:
    “Kinh bang hoa quốc, cổ vô tiền"
    (Dựng nước và làm vẻ vang Tổ quốc, từ xưa chưa ai được như ông)
    Từ khi ông mất tới sau này, đời nào, thế hệ nào, tầng lớp nào cũng ca ngợi công lao, sự
    nghiệp của ông. Hơn 300 năm sau khi Nguyễn Trãi mất, những người đứng đầu trong nước ở
    thế kỷ XVIII vẫn phải thừa nhận: "Công lao ông trùm khắp trên đời" (sắc phong của nhà Lê năm
    1767). Nguyễn Trãi thật là một nhân vật lịch sử vĩ đại.
    Vậy mà điều rất đáng tiếc cho chúng ta là những tư liệu về Nguyền Trãi hiện còn ít ởi
    quá. Chính vì thế mà cho tới nay, chúng ta vẫn chưa có được những công trình nghiên cứu
    công phu, đầy đủ, toàn diện về Nguyễn Trãi. Ngay cả những chuyên đề nghiên cứu tương đối
    cặn kẽ về từng mặt sự nghiệp của Nguyễn Trãi, như chính trị, quân sự, ngoại giao, văn học,
    triết học, v.v... chúng ta cũng vẫn chưa có. Chúng ta chưa khắc phục được tình hình thiếu thốn
    những tư liệu cần thiết. Nhưng Nguyễn Trãi là khí phách của dân tộc, là tinh hoa của dân tộc,
    như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói, chúng ta không thể không tìm hiểu, nghiên cứu, học
    tập. Nguyễn Trãi là một trong những đóa hoa quý đẹp nhất của dân tộc, một tấm gương sáng
    chói của dân tộc. Chúng ta có nhiệm vụ phải làm sáng rõ hơn nữa đạo đức, công lao, sự nghiệp
    của Nguyễn Trãi, để bản thân chúng ta và các thế hệ mai sau có thể tiếp thu, kế thừa, phát huy
    những truyền thống ưu tú của dân tộc đã chung đúc vào Nguyễn Trãi, một người Việt Nam kỳ
    diệu cách đây hơn 500 năm.
    Để góp phần tìm hiểu Nguyễn Trãi, chúng tôi dựa vào những văn thơ còn lại của
    Nguyễn Trãi và một số tài liệu hiện có để viết tập sách Nguyễn Trãi đánh giặc, cứu nước. Trong
    tập sách này, chúng tôi chỉ xin đem nhiệt tình của một người yêu lịch sử, yêu truyền thống, cố
    gắng giới thiệu với các bạn một số nét về những sự nghiệp anh hùng của Nguyễn Trãi, chủ yếu
    là sự nghiệp đánh giặc, cứu nước của ông.
    Chúng tôi sẽ trình bày có hệ thống toàn bộ sự nghiệp đánh giặc, cứu nước và những
    hoạt động của Nguyễn Trãi trong 15 năm, từ sau khi đánh thắng quân Minh tới ngày ông mất,
    trong đó cố gắng làm rõ mấy điểm:
    Một là Nguyễn Trãi là người yêu nước và yêu dân; ông vừa tận trung với nước vừa tận
    hiếu với dân. Đó là một đặc điểm rất lớn trong tư tưởng và đạo đức làm người của Nguyễn
    Trãi, vì tận hiếu với dân là điều rất hiếm có trong các thời đại trước.
    Hai là Nguyễn Trãi không chỉ đơn thuần là nhà tư tưởng quân sự như các nhà binh pháp
    thời cổ: ông là nhà chính trị và quân sự lỗi lạc. Tư tưởng chính trị vĩ đại của ông đã soi đường
    cho sự hình thành và phát triển những tư tưởng quân sự ưu tú của ông.
    Ba là Nguyễn Trãi là người yêu nước thiết tha đồng thời là nhà chính trị dân chủ kiên
    cường của dân tộc ta ở đầu thể kỷ XV. Ý thức dân chủ của ông rất mạnh. Ông biết kết hợp tinh
    thần dân tộc với ý thức dân chủ để tiến hành chiến tranh chống xâm lược thắng lợi. Kết hợp

    dân tộc với dân chủ đã sớm trở thành một truyền thống của dân tộc ta để đánh thắng ngoại
    xâm, từ các thời đại trước. Nhưng tới Nguyễn Trãi, với kinh nghiệm chiến đấu phong phú của
    thời đại, với tính năng động chủ quan và ý thức dân chủ mạnh mẽ của bản thân mình, Nguyễn
    Trãi đã đưa sự kết hợp đó lên một trình độ cao hơn và thể hiện rất rực rỡ trong phong trào
    khởi nghĩa Lam Sơn chiến đấu chống quân Minh xâm lược.
    Sự nghiệp đánh giặc cứu nước của Nguyễn Trãi có một nội dung vô cùng phong phú,
    bao gồm rất nhiều thành tích về nhiều mặt. Trong phong trào khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn
    Trãi không phải là một nhà tư tưởng đơn thuần, một thứ cố vấn, hay một nhà "từ hàn" chỉ ngồi
    viết thư thảo hịch theo lệnh của thủ lĩnh. Ông đã chiến đấu thật sự. Ở Nguyễn Trãi, tư tưởng và
    hành động gắn chặt làm một. Ông đã kết hợp lòng yêu nước với lòng yêu dân, tinh thần dân tộc
    với ý thức dân chủ để đánh giặc, biết dựa vào dân, động viên nhân dân, phát động chiến tranh
    nhân dân để đánh giặc, đánh giặc bằng mọi cách, đánh giặc trên mọi mặt: quân sự, chính trị,
    ngoại giao và địch vận.
    Sau khi đánh thắng quân xâm lược, mặc dầu bị sự chống đối của giai cấp phong kiến
    cầm quyền, Nguyền Trãi không thực hiện được hoài bão lớn nhất của đời ông là cứu dân khỏi
    lầm than khổ cực, đem lại thái bình, hạnh phúc thật sự cho dân, nhưng ông vẫn kiên trì theo
    đuổi lý tưởng của mình, gạt bỏ mọi phú quý, vinh hoa, nêu cao đạo đức cần kiệm liêm chính và
    một phong cách sống hết sức trong sáng, sống như quần chúng nhân dân, sống với tất cả tấm
    lòng thông cảm đối với quần chúng nhân dân, đấu tranh kiên cường cho công lý xã hội, cho ý
    thức dân chủ và quyền sống yên vui của quần chúng nhân dân. Nguyễn Trãi anh hùng quá.
    Cuộc đời Nguyễn Trãi thật tươi đẹp. Sự nghiệp của Nguyễn Trãi thật phong phú và rực rỡ.
    Viết cuốn sách này, chúng tôi có cố gắng, nhưng tầm vóc của Nguyễn Trãi lớn quá, sức
    của người viết khó vươn tới trình độ để có thể nói hết được những cái vĩ đại của Nguyễn Trãi,
    người anh hùng của dân tộc, người tiêu biểu cho tinh hoa của dân tộc ở các thời đại trước.
    Viết về Nguyễn Trãi cũng như viết về Nguyễn Huệ và các nhân vật lịch sử khác, chúng
    tôi muốn làm theo một nguyên tắc của Lê-nin đề ra là:
    "Khi xét công lao lịch sử của các vĩ nhân, người ta không căn cứ vào chỗ họ không cống
    hiến được gì so với nhu cầu của thời đại chúng ta, mà căn cứ vào chỗ họ đã cống hiến được gì
    mới so với các bậc tiền bối của họ".
    Chúng tôi chỉ phê phán, chê trách các nhân vật lịch sử, khi nào họ có những sai lầm cụ
    thể trong tư tưởng và hành động gây tai họa trực tiếp cho dân, cho nước hoặc có ảnh hưởng
    xấu tới sự phát triển đi lên của xã hội, của dân tộc.
    Mong bạn đọc thông cảm về trình độ có hạn của chúng tôi, nếu chúng tôi chưa đáp ứng
    thỏa đáng những yêu cầu muốn hiểu biết của các bạn về Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc
    vĩ đại của chúng ta.

    PHẦN MỘT
    NGUYỄN TRÃI VÀ SỨ MẠNG LỊCH SỬ CỦA THỜI ĐẠI

    CHƯƠNG I
    NGUYỄN TRÃI VÀ THỜI ĐẠI
    TRUYỀN THỐNG CỦA DÂN TỘC
    Dân tộc ta rất anh hùng. Tổ tiên ta đánh giặc rất giỏi. Từ hơn 500 năm trước đây,
    Nguyễn Trãi đã rất tự hào về những truyền thống anh hùng của dân tộc và ông đã nói về dân
    tộc, về đất nước với những lời đầy khí phách trong Bình Ngô đại cáo của ông:
    “Như nước Đại Việt ta
    Thật là nước văn hiến
    Núi sông bờ cõi đã riêng
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần mở mang dựng nước
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đứng vững một phương
    Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
    Nhưng hào kiệt đời nào cũng có
    Cho nên Lưu Cung tham công mà thất bại
    Triệu Tiết hám rộng phải tiêu vong
    Cửa Hàm Tử đã bắt Toa Đô
    Biển Bạch Đằng lại giết Ô Mã
    Việc xưa xem xét, chứng có còn rành..."
    Truyền thống anh hùng của dân tộc bắt nguồn từ tinh thần yêu nước nồng nàn, từ lòng
    yêu dân vô hạn, từ khí phách anh hùng bất khuất, từ ý chí dũng cảm hy sinh quên mình vì nghĩa
    lớn của cả dân tộc và đã thể hiện từ hàng ngàn năm xưa, trong muôn vàn hành động kiên
    cường chiến đấu chống xâm lược và trong truyền thống quân sự ưu tú tuyệt vời của nhân dân
    ta.
    Truyền thống anh hùng của dân tộc ta rất rực rỡ. Sự nghiệp anh hùng của dân tộc ta rất
    vẻ vang. Mà khí phách anh hùng của dân tộc ta cũng cao đẹp lạ thường. Ba yếu tố đó, ở dân tộc
    ta, quyện với nhau như hình với bóng. Không có khí phách anh hùng thì không có sự nghiệp
    anh hùng. Mà không có sự nghiệp anh hùng nối tiếp đời nọ qua đời kia thì không thể tạo thành
    truyền thống anh hùng của dân tộc.
    Lời Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn bảo vua Trần: "Bệ hạ hãy chém đầu tôi trước rồi
    sẽ hàng" khi thấy vua Trần hoang mang lo ngại trước cuộc xâm lăng tàn bạo của giặc Nguyên,
    cũng như lời Trần Bình Trọng thét vào mặt giặc "Thà làm ma nước Nam còn hơn làm vương
    đất Bắc" khi ông bị giặc bắt và dụ hàng, chính là sự thể hiện rực rỡ khí phách anh hùng của dân
    tộc ta.
    Nhưng khí phách anh hùng của dân tộc ta không phải chỉ có ở những tướng lĩnh cầm
    quân, mà nó đã thể hiện muôn màu muôn vẻ trong lời nói, việc làm của tất cả các tầng lớp
    nhân dân. Lịch sử dân tộc ta ghi lại không biết bao nhiêu hành động anh hùng, bao nhiêu lời
    nói tràn đầy khí phách, tự hào, dũng cảm của phụ nữ, của cụ già, của em nhỏ Việt Nam. Từ hơn
    một nghìn năm trước Nguyễn Trãi, lời Bà Triệu: "Tôi quyết cưỡi lên gió mạnh, đạp trên sóng

    dữ, đánh đuổi giặc Ngô, lập lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không thể làm tỳ
    thiếp người”, một lời nói tiêu biểu cho khí phách anh hùng của phụ nữ Việt Nam, còn vọng mãi
    tới muôn đời sau và đã khích lệ, cổ vũ người Việt Nam ở các thế hệ nối tiếp, làm nên biết bao
    sự nghiệp anh hùng khác. Lời hô "quyết chiến" của các cụ già đầu bạc răng long, thay mặt nhân
    dân thời Trần họp tại điện Diên Hồng bàn việc nước, đã là tiếng kèn hùng tráng thôi thúc mọi
    người đồng tâm nhất trí, dũng cảm xông lên đánh thắng quân Nguyên xâm lược. Hình ảnh em
    bé Phù Đổng trong truyền thuyết từ mấy nghìn năm xưa, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của
    Tổ quốc, đã vươn mình lên, xung phong ra đánh giặc, cứu nước là một hình ảnh tươi đẹp rực rỡ
    như thiên thần của thanh thiếu niên Việt Nam anh hùng đã có ngay từ những ngày mở đầu lịch
    sử nước nhà. Hình ảnh thiên thần Phù Đổng cùng với hình ảnh người thiếu niên anh hùng Trần
    Quốc Toản thời Trần, căm giận giặc cướp nước, nghiến răng bóp nát quả cam trên tay, cương
    quyết giương cao ngọn cờ "Phá cường địch, báo hoàng ân", tình nguyện đem người nhà, bà con
    thân thuộc, xông ra tiền tuyến đánh giặc lập công, đã là những tấm gương phản chiếu khí
    phách anh hùng vô hạn và tinh thần chiến đấu dũng cảm tuyệt vời của thanh thiếu niên Việt
    Nam, một lực lượng tiền phong xung kích hùng mạnh nhất của dân tộc ở tất cả các thời đại, lúc
    nào cũng sẵn sàng hiến dâng thân mình cho Tổ quốc, để cứu nước cứu nhà, bảo vệ non sông
    gấm vóc của tổ tiên từ ngàn xưa để lại.
    Khí phách anh hùng của các thế hệ đã tạo nên không biết bao nhiêu sự nghiệp anh hùng
    làm rạng rỡ lịch sử anh hùng của dân tộc ta.
    Từ ngót hai nghìn năm trước, Hai Bà Trưng, là những anh hùng cứu nước đầu tiên của
    dân tộc, đã giương cao ngọn cờ giải phóng cho cả nước noi theo, làm rạng rỡ khí phách anh
    hùng của phụ nữ Việt Nam và tô thắm những trang đầu lịch sử chiến thắng huy hoàng của dân
    tộc.
    Hai trăm năm sau, Bà Triệu lại vùng lên, đánh cho giặc cướp nước mất vía kinh hồn.
    Giặc đương thời đã phải than thở:
    “Hoành qua đương hổ dị
    Đối diện Bà Vương nan".
    (Múa giáo đánh hổ dễ
    Đối địch với Vua Bà thật khó)
    Tiếp theo Bà Triệu là nhiều thế hệ anh hùng khác đã đứng lên kiên quyết đấu tranh cho
    nền độc lập của Tổ quốc, mà tên tuổi còn ghi sâu trong tâm trí người Việt Nam như Lý Bí, Triệu
    Quang Phục, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Dương Đình Nghệ, v.v...
    Trong nửa đầu thế kỷ thứ X, với ý chí quyết chiến để giành độc lập của nhân dân và với
    chiến lược, chiến thuật tài tình và lòng quả cảm của các tướng sĩ, Ngô Quyền đã nhận chìm
    quân Nam Hán xâm lược xuống lòng sông Bạch Đằng, dựng nền độc lập lâu dài cho nước nhà từ
    đấy.
    Cuối thế kỷ thứ X, nhà Tống diệt nhà Nam Hán, tiếp tục âm mưu xâm lược nước ta và
    đưa thư hăm dọa:
    “Ngươi có theo về ta không? Chớ rước lấy tội lỗi. Ta đương chỉnh bị xe ngựa quân lính,
    sắp sửa các thứ chiêng trống, nếu quy phục thì ta tha cho, nếu trái mệnh thì ta quyết đánh.
    Theo hay không, lành hay dữ, tự ngươi nghĩ lấy".
    Nhưng quân dân ta thời ấy quyết đáp lại thái độ và hành động láo xược của quân cướp
    nước bằng gươm giáo. Dưới sự lãnh đạo tài giỏi của Lê Hoàn, quân dân ta đã đánh tan các đạo
    quân Tống ở Chi Lăng, Bạch Đằng, Tây Kết, làm thất bại hoàn toàn kế hoạch xâm lược của

    chúng.
    Sang nửa cuối thế kỷ XI, quân Tống lại một lần nữa mưu đồ một cuộc ra quân lớn, quyết
    xâm lược Việt Nam cho bằng được. Quân dân ta ở thời Lý cũng quyết không lùi bước trước dã
    tâm đen tối của địch. Với mưu lược "Ngồi chờ giặc, chẳng bằng đem quân đánh trước làm nhụt
    nhuệ khí của giặc", quân dân ta thời Lý đã cùng danh tướng Lý Thường Kiệt, đánh tan các căn
    cứ chuẩn bị xâm lược của địch, làm giảm sút nghiêm trọng lực lượng và phương tiện chiến
    tranh của địch. Năm sau quân dân ta lại chặn đứng đại quân của địch trên dọc sông Cầu.
    Tại đây, Lý Thường Kiệt đã truyền tới toàn quân bài thơ "Nam quốc sơn hà, Nam đế
    cư", như một bản tuyên ngôn và một lời hiệu triệu, vừa khẳng định nền độc lập tự chủ của dân
    tộc, vừa nêu rõ quyết tâm đánh giặc cứu nước của quân dân ta:
    “… Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư"
    (Tại sao lũ giặc sang xâm phạm .
    Thất bại chúng mày phải thấy đây)
    Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và với quyết tâm sắt đá của cả nước, Lý Thường
    Kiệt đã lãnh đạo quân dân đương thời nhanh chóng đánh bại quân thù, tiêu diệt hàng chục vạn
    binh, phu, tức quá nửa số quân địch, buộc chúng phải đem tàn quân rút chạy về nước, đập tan
    hẳn mưu đồ xâm lược của chúng.
    Nước ta, từ ngàn xưa, đã là một nước ruộng đất phì nhiêu, tài nguyên phong phú, đường
    bộ, đường thủy đi bốn biển năm châu đều thuận lợi, cho nên lúc nào cũng là miếng mồi thèm
    khát của bọn xâm lược hiếu chiến ở các thời đại, khi chúng từ phương bắc tràn xuống, khi
    chúng từ phía nam tiến lên. Cuối thế kỷ XI, quân dân ta vừa đánh đuổi được quân Tống xâm
    lược thì đầu thế kỷ XII, quân Chiêm Thành lại tiến lên đánh chiếm đất đai miền Nam nước ta.
    Lúc này, năm 1104, Lý Thường Kiệt đã 85 tuổi; nhưng ông kiên quyết yêu cầu triều
    đình cho cầm quân vào Nam đánh giặc. Tám mươi lăm tuổi mà còn giành quyền đi đánh giặc
    và khẳng định nếu không được đi đánh giặc thì "chết không thể nhắm được mắt", thật là khí
    phách tuyệt vời, trung dũng cao độ. Tám mươi lăm tuổi mà còn thanh gươm yên ngựa lên
    đường, đưa hàng vạn quân từ Thăng Long vượt núi trèo đèo, băng rừng lội suối, tiến vào vùng
    Quảng Trị ngày nay, để đánh giặc cứu nước, thật là một hành động phi thường, vượt lên trên
    tuổi tác của ông rất nhiều. Không có một tinh thần bất khuất, tự lập, tự cường cao độ thì không
    thể có những hành động phi thường và một sức mạnh thần kỳ như thế được. Ý chí và hành
    động của lão tướng Lý Thường Kiệt còn là một nguồn động viên rất lớn nhiệt tình cứu nước
    của nhân dân đương thời. Trong cuộc chiến tranh giữ nước lần này cũng như các lần trước, bên
    cạnh đông đảo thanh niên trai tráng, còn có các ông già, phụ nữ và em nhỏ cũng xung phong
    lên đường giết giặc. Em gái Ngọc Hoa mới lên 9 tuổi[1] đã đi cùng đoàn quân cứu nước của Lý
    Thường Kiệt, vào chiến trường, xung phong làm trinh sát, tiếp xúc với giặc bên thành giặc, để
    dẫn đường cho quân ta tiến công. Trước khí thế dũng mãnh của nhân dân cả nước kiên quyết
    bảo vệ độc lập, thống nhất của Tổ quốc như vậy, quân giặc hoảng sợ, phải bỏ thành, bỏ đất mà
    chạy và xin được giao hảo như xưa. Trong cuộc chiến tranh này, tinh thần dân tộc và ý chí
    quyết chiến của quân dân ta đã đánh thắng hành động phi nghĩa của quân xâm lược.
    Tới thế kỷ XIII, lực lượng phong kiến nhà Nguyên, sau khi đánh thắng và chinh phục hầu
    hết các nước từ châu Á sang châu Âu, tạo thành một đại cường quốc lớn nhất thế giới thời bấy
    giờ, bắt đầu nhòm ngó các nước Đông Nam Á và trước tiên mưu đồ xâm lược nước ta. Năm
    1257, quân Nguyên cho sứ sang buộc quân dân ta phải đầu hàng, dâng nước cho chúng. Nhưng

    quân dân ta ở thời Trần, cũng như ở thời Lý trước kia, với truyền thống anh hùng bất khuất
    của dân tộc, đã cương quyết không nhượng bộ quân cướp nước, mặc dầu biết rõ quân Nguyên
    là kẻ xâm lược cực kỳ hung hãn. Vua Trần cho bắt trói sứ giả, giam lại và cùng toàn dân chuẩn
    bị chống giặc cứu nước. Thực hiện mưu đồ cướp nước của chúng, giặc Nguyên ba lần đem quân
    sang xâm lược nước ta. Lần thứ nhất vào đầu năm 1258. Giặc vượt biên giới, ồ ạt kéo vào
    Thăng Long. Nhưng chỉ trong vòng nửa tháng, quân dân ta đánh cho quân Nguyên đại bại, phải
    rút chạy về nước.
    Hai mươi bảy năm sau, tức đầu năm 1285, giặc Nguyên tiến hành cuộc xâm lược nước
    ta lần thứ hai. Chúng cho 50 vạn quân hùng hổ tiến sang Việt Nam, tưởng chừng nuốt chửng
    Việt Nam chuyến này. Nhưng chỉ nửa năm chiến đấu với giặc, quân dân ta thời Trần, dưới sự
    lãnh đạo tài tình của anh hùng Trần Quốc Tuấn, đã đánh tan 50 vạn quân Nguyên, những danh
    tướng bậc nhất của chúng như Toa Đô phải bỏ mạng, Ô Mã Nhi phải một mình xuống thuyền
    chạy trốn về nước. Năm mươi vạn tinh binh hùng hổ ra đi, sau sáu tháng giao tranh ở Việt
    Nam, chỉ còn lại 5 vạn tàn binh lẩn lút trở về.
    Bị thua đau, giặc Nguyên điên cuồng liều lĩnh lại cho 50 vạn quân sang xâm lược Việt
    Nam lần thứ ba. Cuối năm 1287, quân Nguyên tiến vào lãnh thổ nước ta. Nhưng chỉ trong 5
    tháng chiến đấu, quân dân ta đã đánh cho quân Nguyên đại bại. Danh tướng Ô Mã Nhi của giặc
    bị bắt sống trên sông Bạch Đằng. Chủ tướng Thoát Hoan phải lẩn trốn về nước. Với ba lần
    chiến thắng to lớn đó, quân dân ta thời Trần đã đập tan hẳn ý chí xâm lược của quân Nguyên,
    một kẻ xâm lược, hiếu chiến và thiện chiến, lớn mạnh nhất và hung bạo nhất của thời đại bấy
    giờ.
    Ba lần đánh thắng một kẻ thù hung bạo nhất của thời đại, không phải vì nhân dân ta
    thời Trần, quân đông, vũ khí nhiều hơn địch, mà chính vì nhân dân ta thời Trần có tinh thần
    kiên cường, bất khuất, có truyền thống chiến thắng ngoại xâm và có sức mạnh cả nước cùng
    đánh giặc. Hai câu thơ của danh tướng Trần Quang Khải:
    “Thái bình tu trí lự
    Vạn cổ cựu giang sơn"
    (Muốn được thái bình cần cố gắng
    Muôn đời giữ vững nước non xưa)
    Đã toát lên cái tinh thần cố gắng vượt bậc, dũng cảm hy sinh, chiến đấu đến cùng của
    quân dân ta thời Trần để bảo vệ độc lập của Tổ quốc và thái bình, hạnh phúc của muôn dân.
    Với sức mạnh tinh thần to lớn đó của cả nước, quân dân ta thời Trần lại có được những
    nhà lãnh đạo kháng chiến sáng suốt, tài giỏi như Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, lúc nào cũng
    tin tưởng vững chắc ở sức mạnh của chính nghĩa và thắng lợi cuối cùng của dân tộc. Trong
    cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ nhất, tể tướng Trần Thủ Độ đã khẳng định với vua
    Trần: "Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì bệ hạ không có gì phải lo ngại". Trong cuộc kháng chiến
    chống Nguyên lần thứ hai, Trần Quốc Tuấn, người thống lĩnh toàn quân, đã cương quyết bảo
    vua Trần, khi thấy nhà vua tỏ vẻ nao núng: "Bệ hạ hãy chém đầu tôi trước rồi sẽ hàng". Tới
    cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ ba, trước khi đánh giặc, Trần Quốc Tuấn ung dung nói
    với vua Trần, như người đánh cờ nắm chắc phần thắng trong tay: "Năm nay, giặc đến, ta đánh
    dễ, thắng dễ".
    Để đánh thắng giặc, ngoài sức mạnh quyết định của cả nước, quân dân ta thời Trần còn
    có những anh hùng hết lòng vì nước, vì dân tộc như: Lê Phụ Trần, Hà Bổng, Trần Quang Khải,
    Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Khoái, Trần Quốc Nghiễn, Trần Quốc

    Uất, Trần Quốc Tảng, Trần Quốc Hiện, Hà Đặc, Hà Chương, Nguyễn Lĩnh, Nguyễn Thế Lộc,
    Nguyễn Địa Lô, Yết Kiêu, Dã Tượng, v.v...
    Quân dân ta thời Trần có những thiếu niên anh hùng như Trần Quổc Toản, có những
    phụ lão hô vang quyết chiến và những phụ nữ anh hùng kiên cường chống giặc. Ở thời Lý có bà
    Ỷ Lan, một phụ nữ trẻ, chưa đầy 30 tuổi, thay vua cầm quyền trị nước[2], đã chuẩn y việc tiến
    hành chiến tranh đánh Tống giữ nước và lãnh đạo tốt hậu phương để quân dân ta cùng Lý
    Thường Kiệt ra tiền tuyến đánh thắng giặc, thì ở thời Trần, trong cuộc kháng chiến chống
    Nguyên lần thứ nhất, có bà Linh Từ, ngoài 60 tuổi, vợ tể tướng Trần Thủ Độ, đã chỉ huy việc sơ
    tán hoàng gia và nhân dân ra khỏi kinh thành Thăng Long, làm vườn không nhà trống để nhử
    giặc vào chỗ chết. Bà đã trực tiếp phụ trách đưa hoàng gia và gia đình các tướng lĩnh tới tạm
    trú ở nơi an toàn để triều đình và các tướng lĩnh yên tâm đánh giặc. Bà lại thu thập các vũ khí
    còn giữ trong các gia đình sơ tán, để gửi ra tiền tuyến. Trong cuộc kháng chiến chống Nguyên
    lần thứ ba, có bà hàng nước ở bến đò Rừng trên sông Bạch Đằng là người am hiểu địa hình,
    luồng lạch, con nước trên sông Bạch Đằng, đã góp phần công sức quan trọng vào chiến thắng
    Bạch Đằng của quân ta, chấm dứt hẳn nạn xâm lăng của quân Nguyên tàn bạo.
    Tinh thần kiên cường bất khuất và sức mạnh đoàn kết chiến đấu của các tầng lớp nhân
    dân ta thời Trần đã đè bẹp ý chí xâm lược của bọn vua chúa hiếu chiến, hung hãn nhà Nguyên.
    Trước thế mạnh của quân dân ta, không những ý chí xâm lược của quân Nguyên bị đè
    bẹp, mà chúng còn khiếp sợ tới mức không dám dùng đến biện pháp quân sự ngay cả những
    khi có xung đột ở biên giới với ta. Năm 1313, nhân có viên tri châu châu Trấn An nhà Nguyên
    bắt người châu Tư Lang nước ta và lấn đất vùng biên giới, quân ta lập tức tiến sang chiếm đóng
    hai châu Quy Thuận và Dưỡng Lợi của nhà Nguyên, nói rõ là để trừng trị quân Nguyên làm bậy.
    Nếu như không có những lần đọ sức trước đây giữa ta và địch, quân Nguyên không bị thất bại
    liên tiếp thì nhất định chúng đã nhân cơ hội có những xung đột này mà tiến hành chiến tranh
    xâm lược nước ta. Nhưng chúng đã không dám. Trước những hành động vũ trang chiếm đóng
    của quân ta như vậy, bọn vua tôi nhà Nguyên đành phải cho người sang ta điều đình, vận động
    ngoại giao để ta rút quân về, trả lại đất đai cho nhà Nguyên.
    Thanh thế của quân dân ta thời ấy quả thật là to lớn. Có được thanh thế đó chính là vì
    những sự nghiệp anh hùng mà tổ tiên ta đã đạt được. Liền sau cuộc xung đột ở biên giới, năm
    1314, nhân có việc vua Trần Anh Tôn nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng, nhà
    Nguyên cho sứ sang mừng. Thông thường sứ phương bắc sang nước ta vẫn hay ngạo nghễ
    hạch sách, coi ta là nước nhỏ, "man di mọi rợ". Nhưng sau những chiến thắng rực rỡ của quân
    dân ta, sứ nhà Nguyên sang ta không dám thế. Không những không dám nghênh ngang, miệt
    thị, ngược lại, chúng hết sức ca ngợi ta. Trông thấy vua Trần, sứ nhà Nguyên đã khen không
    ngớt lời là "Phong thái thanh tao, nhẹ nhàng như bậc thần tiên". Khi về nước, sứ Nguyên khoe
    với mọi người về phong thái thanh tao đẹp đẽ của vua Trần. Ít lâu sau, sứ ta sang giao hảo,
    người Nguyên hỏi thăm về điều đó, sứ ta ung dung trả lời: "Đúng thế, và đó là phong thái của cả
    nước tôi vậy". Lời nói của sứ ta chan chứa tự hào, một niềm tự hào dân tộc rất chính đáng. Làm
    nên những sự nghiệp anh hùng, hy sinh chiến đấu cho Tổ quốc, giữ vững nền độc lập của dân
    tộc, khiến các nước ngoài khâm phục, tổ tiên chúng ta và cả chúng ta ngày nay đều có quyền tự
    hào về những điều đó. Có khí phách anh hùng, có sự nghiệp anh hùng, đánh thắng giặc trên
    chiến trường, đánh thắng giặc về ngoại giao, tất cả những cái đó đã trở thành truyền thống của
    dân tộc ta. Truyền thống anh hùng đó ngày càng được dân tộc ta phát huy lên cao, theo đà phát
    triển lớn mạnh của dân tộc, của lịch sử.
    Truyền thống anh hùng đó là sự thể hiện ra hành động, ý thức dân tộc và tinh thần làm

    chủ đất nước của nhân dân ta, đã trở thành một truyền thống lâu đời của dân tộc: truyền thống
    anh dũng bất khuất, kiên cường chiến đấu cho độc lập thống nhất của Tổ quốc.
    Dân tộc ta hình thành rất sớm, dựng nước rất sớm và ý thức dân tộc cũng nảy nở rất
    sớm. Trong quá trình đấu tranh lâu dài để dựng nước và giữ nước, ý thức dân tộc của nhân dân
    ta ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc. Ý thức đó đã có ở tất cả các tầng lớp nhân dân, tất cả các lứa
    tuổi và ở tất cả các thời đại. Tinh thần anh dũng bất khuất của Bà Trưng, Bà Triệu, của các lão
    tướng Lý Thường Kiệt, Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, của các cụ già ở điện Diên Hồng, của các
    em bé Phù Đổng, Trần Quốc Toản, của người nông dân trẻ tuổi Nguyễn Huệ, v.v... đã là những
    tượng trưng rực rỡ cho ý thức dân tộc kiên cường của nhân dân ta qua các thời đại. Ý thức đó
    đã tạo nên khí phách anh hùng và những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam, của dân
    tộc Việt Nam. Lịch sử anh hùng của dân tộc ta chứng minh rằng: "Trong quá trình giữ nước và
    dựng nước, dân tộc ta đã rèn luyện cho mình những đức tính vô cùng quý báu: lòng yêu nước,
    tình thương yêu đồng bào, tinh thần dân tộc, ý chí độc lập, tự chủ, ý chí đấu tranh kiên cường
    "thà chết không chịu làm nô lệ", lòng nhân hậu, thủy chung... Vì luôn luôn phải chiến đấu để
    sinh tồn và phát triển, dân tộc ta đã phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân từ làng xóm
    cho đến cả nước, rèn luyện cho mình những đức tính cần cù lao động, dũng cảm, thông minh,
    sáng tạo, trau dồi lòng yêu chuộng đạo đức cao đẹp của con người, của đời sống xã hội".
    Ý thức dân tộc, khí phách anh hùng và những đạo đức cao quý đó đã tạo cho dân tộc ta
    một sức mạnh tinh thần rất lớn để đánh thắng xâm lược.
    Truyền thống anh hùng của dân tộc ta không những nêu cao tinh thần quật cường bất
    khuất của dân tộc mà còn phản ánh rõ nét ý thức làm chủ của quần chúng nhân dân Việt Nam
    trong lịch sử và trong đời sống xã hội. Lịch sử là do quần chúng làm nên. Đánh giặc cứu nước là
    sự nghiệp của quần chúng. Cả nước một lòng quyết tâm đánh giặc, là một sức mạnh vô địch,
    đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Muốn nhân dân cả nước một lòng, để bảo vệ Tổ quốc cũng
    như để xây dựng đất nước giàu mạnh thì, dù là ở thời đại phong kiến cũng phải đoàn kết được
    nhân dân, phải bảo đảm đến một mức nào đó quyền dân chủ của nhân dân, tức bảo đảm quyền
    sống của người dân về cả hai mặt: vật chất và tinh thần. Sống no ấm và tự do là những yêu cầu
    dân chủ cơ bản của nhân dân Việt Nam ở tất cả các thời đại. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền
    thống dân chủ và truyền thống đấu tranh chống áp bức xã hội từ lâu đời nên ý thức dân chủ
    của nhân dân Việt Nam đã có một tác dụng nhất định tới đời sống xã hội và sự hưng vong của
    các triều đại thống trị. Không thực hiện dân chủ, áp bức bóc lột nặng nề, nhân dân đói khổ, thì
    nhân dân khởi nghĩa, kiên quyết chống áp bức bóc lột, triều đại thống trị, dù tàn bạo đến đâu
    cũng sụp đổ. Một triều đại khác thay thế, muốn đứng vững, không thể không thỏa mãn những
    yêu cầu dân chủ của nhân dân trong một chừng mực nhất định. Đó cũng là quy luật phát triển
    xã hội và quy luật hưng vong của các triều đại thống trị ở Việt Nam mấy nghìn năm trước đây.
    Lịch sử anh hùng của dân tộc ta trước thời Nguyễn Trãi và sau thời Nguyễn Trãi đều
    chứng minh rõ điều đó. Trước Nguyễn Trãi, nhân dân ta thời Lý đã cùng Lý Thường Kiệt đánh
    thắng quân Tống trên cả hai chiến trường trong nước và ngoài nước, Trần Quốc Tuấn đã cùng
    quân dân thời Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên, cũng chính vì tổ tiên chúng ta các thời ấy
    đã kết hợp được hai yếu tố dân tộc và dân chủ để dựng nước và giữ nước.
    Nhà Lý lên cầm quyền năm 1010 là lúc Nhà nước tập quyền và thống nhất của ta đương
    hình thành và phát triển, nhân dân cả nước ta đương tập trung sức lực để xây dựng Tổ quốc
    giàu mạnh. Có được sự đồng tâm nhất trí để dựng nước như vậy là vì các vua đầu thời Lý quan
    tâm tới đời sống của nhân dân, và chú trọng phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất. Nông
    nghiệp là nguồn sống chính, được săn sóc, khuyên khích thường xuyên. Những công tác thủy
    lợi như đào kênh, xây đắp đê, kè, đập nước, thường được tiến hành. Nhiều đạo luật bảo vệ nông

    nghiệp được ban bố, như phạt tội nặng những kẻ trộm trâu, nghiêm trị những kẻ ăn cướp lúa
    mạ, tài vật của nhân dân. Về công nghiệp, nhiều ngành sản xuất được khuyến khích phát triển,
    đặc biệt là các ngành dệt, khai mỏ, luyện kim. Thương nghiệp được đẩy mạnh, nhất là ngoại
    thương với các nước láng giềng.
    Nhờ tình hình kinh tế phát triển, nhân dân được no ấm. Luôn năm được mùa, thóc gạo
    đủ, vải lụa sẵn. Điểm đặc biệt trong chính sách kinh tế tài chính của các vua đầu thời Lý là luôn
    luôn miễn giảm tô thuế cho nhân dân. Do đấy một cảnh tượng nước giàu dân mạnh thể hiện
    khá rõ trong thời kỳ các vua đầu nhà Lý.
    Song song với những chính sách đẩy mạnh sản xuất phát triển kinh tế, các vua đầu thời
    Lý ban hành nhiều biện pháp để "nới sức dân", hạn chế, giảm bớt áp bức, bóc lột. Nhà Lý phạt
    nặng tội thu lạm thuế. Thu thuế lụa mà ăn lễ, lấy lụa của người, thì cứ mỗi thước lụa, phạt 100
    trượng, mỗi tấm lụa phạt tù khổ sai một năm. Mặt khác, nhiều chính sách khoan hồng đối với
    nhân dân phạm pháp được thực hiện, như: sửa lại luật pháp, soạn lại Hình thư, giảm nhẹ tội tù,
    xóa bỏ hình cụ, luôn luôn đại xá, ân xá các tội nhân, để giảm bớt số người đau khổ và có thêm
    sức lao động sả...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN VIỆT - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !