BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg

    Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học

    Lớp 8.

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Phạm Thị Hà
    Ngày gửi: 15h:07' 01-11-2024
    Dung lượng: 900.0 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
    SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

    BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
    TÊN SÁNG KIẾN: ĐỊNH HƯỚNG ĐẶT CÂU HỎI TRONG
    DẠY HỌC PHẦN “ KĨ THUẬT ĐIỆN” MÔN CÔNG NGHỆ 8
    NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

    Lĩnh vực: CÔNG NGHỆ 8
    Cấp học: Trung học cơ sở

    Năm học 2022 – 2023

    THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
    1. Tên sáng kiến
    Định hướng đặt câu hỏi trong dạy học phần “Kĩ thuật điện” môn Công
    nghệ 8 nhằm phát triển năng lực học sinh
    2. Lĩnh vực cấp học áp dụng sáng kiến: Công nghệ 8
    3. Tác giả
    Họ và tên: PHẠM THỊ HÀ;

    Giới tính: Nữ;

    Ngày sinh: 14/11/1981
    Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm kĩ thuật
    Chức vụ: Giáo viên Trường THCS Tân Việt – Bình Giang – Hải Dương.
    Điện thoại : 0972986862
    4. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
    Trường THCS Tân Việt – Bình Giang – Hải Dương
    5. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu.
    Trường THCS Tân Việt – Bình Giang – Hải Dương
    6. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
    lực

    + Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi theo định hướng phát triển năng

    + Các thiết bị hỗ trợ, vật mẫu: Máy tính, máy chiếu, thiết bị công nghệ
    thông tin hỗ trợ dạy học; các dồ dùng điện….
    7. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu
    Từ 08/2020 đến 02/2021 tại trường THCS Tân Việt – Bình Giang
    8. Cam kết không sao chép hoặc vi phạm bản quyền.
    Tôi xin cam kết sáng kiến hoàn toàn do tôi thực hiện và viết lại. Tôi k hông sao
    chép, vi phạm bản quyền của cá nhân, tập thể nào.

    TÁC GIẢ

    XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ
    ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

    Phạm Thị Hà
    XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
    TRƯỞNG PHÒNG

    Trần Minh Thái
    MỤC LỤC
    Nội dung

    Trang

    Thông tin chung về sáng kiến
    Tóm tắt sáng kiến
    Mô tả sáng kiến

    1

    1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

    1

    2. Cơ sở lí luận

    1

    Căn cứ vào lí luận dạy học hiện đại

    1

    2.2. Căn cứ vào phương pháp dạy học tích cực

    1

    2.2.

    2

    2.1.

    Dạy học theo định hướng phát triển năng lực

    2.4. Đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong

    3

    dạy học
    2.5. Vai trò của kĩ thuật đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng

    4

    lực học sinh trong dạy học
    3. Thực trạng của vấn đề

    5

    3.1. Những thuận lợi cơ bản

    5

    3.2. Những tồn tại, hạn chế

    5

    3.3. Kết quả khảo sát thực tế hiện trạng dạy học bộ môn Công nghệ

    5

    lớp 8 trong nhà trường
    3.4. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế

    6

    4. Giải pháp thực hiện: Định hướng đặt câu hỏi trong dạy học phần

    7

    “Kĩ thuật điện” Công nghệ 8 nhằm phát triển năng lực học sinh
    4.1. Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng giải pháp

    7

    4.2. Nguyên tắc thiết kế câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực

    8

    học sinh trong dạy học
    4.3. Một số yêu cầu khi định hướng nhằm phát triển năng lực học
    sinh

    9

    4.4. Phân loại câu hỏi trong dạy học theo định hướng phát triển năng

    9

    lực học sinh
    4.5. Một số kĩ thuật đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực

    14

    học sinh trong dạy học
    4.6. Một số câu hỏi vận dụng trong quá trình dạy học môn Công nghệ

    19

    8 phần “Kĩ thuật điện”
    4.7. Các bước thiết kế bài giảng có vận dụng kĩ thuật đặt câu hỏi theo

    26

    định hướng phát triển năng lực học sinh
    5. Thực nghiệm và đánh giá

    28

    5.1. Thực nghiệm

    28

    5.2. Đánh giá kết quả thực nghiệm

    28

    6. Điều kiện để sáng kiến được nhân rộng

    30

    Kết luận khuyến nghị

    31

    1. Kết luận

    31

    2. Khuyến nghị

    31

    Phụ lục

    32

    Các tài liệu tham khảo

    41

    TÓM TẮT SÁNG KIẾN
    1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
    Để thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa
    hoạt động học tập của học sinh, làm cho người học thực sự là trung tâm của quá
    trình dạy học. Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực và kỹ thuật dạy học
    được nghiên cứu và vận dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Trong đó, kỹ
    năng đặt câu hỏi trong dạy học vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến
    chất lượng và hiệu quả của dạy học. Thực tế cho thấy, việc đặt câu hỏi trong dạy
    học hiện nay còn mang tính hình thức, chưa lôi cuốn, chưa khích lệ được tư duy
    suy nghĩ, sự tò mò, sáng tạo của người học. Vì vậy, kỹ năng đặt câu hỏi trong
    dạy học đang là một vấn đề cần quan tâm, nghiên cứu. Nên tôi đưa ra sáng kiến:
    “Định hướng đặt câu hỏi trong dạy học phần “Kĩ thuật điện” môn Công nghệ
    8 nhằm phát triển năng lực học sinh”.
    2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
    Máy tính, máy chiếu để ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ quá trình
    dạy học.
    Thời gian áp dụng: Từ tháng 08/2021 đến tháng 02/2022.
    Đối tượng áp dụng sáng kiến: Học sinh lớp 8
    3. Nội dung sáng kiến
    - Tính mới của sáng kiến:
    Đặt câu hỏi là trung tâm của phương pháp dạy học tích cực. Điều quan
    trọng là phải lựa chọn được loại câu hỏi thích hợp để kích thích tư duy của học
    sinh và thu hút học sinh vào các cuộc thảo luận. Phương pháp dạy học có vận
    dụng kĩ thuật đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học sinh được thực
    hiện thông qua việc đặt ra những câu hỏi gây sự tò mò và kích thích học sinh tìm
    tòi, suy nghĩ nhằm đạt đến các kỹ năng tư duy bậc cao như phân tích, tổng hợp
    và đánh giá. Đưa ra các câu hỏi có tính thách thức, có thể kích thích học sinh
    khám phá các ý tưởng và ứng dụng kiến thức mới vào nhiều tình huống khác
    trong thực tiễn.
    - Tính sáng tạo của sáng kiến:

    Nội dung sáng kiến đã đưa ra các dạng câu hỏi và khái quát một số kĩ
    thuật vận dụng câu hỏi trong quá trình dạy học phần “Kĩ thuật điện” Công nghệ
    8. Các câu hỏi được thiết kế theo cấp độ tư duy, theo các mức năng lực của
    người học. Có minh họa bằng những ví dụ cụ thể việc vận dụng kĩ thuật đặt câu
    hỏi vào một số bài dạy phần kĩ thuật điện Công nghệ 8. Đồng thời sáng kiến
    cũng đã đề xuất quy trình thiết kế kế câu hỏi và những yêu cầu khi vận dụng kĩ
    thuật đặt câu hỏi trong dạy học phần “Kĩ thuật điện” Công nghệ 8.
    - Khả năng áp dụng của sáng kiến:
    Sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi ở tất cả khối lớp khi giảng dạy phân
    môn Công nghệ và nhiều môn học khác.
    - Lợi ích của sáng kiến:
    + Hiệu quả kinh tế: Giáo viên ở trường khác, môn học khác có thể áp
    dụng sáng kiến mà không phải tốn thời gian thử nghiệm, không tốn nhân lực lập
    kế hoạch, nghiên cứu, không cần khảo sát học sinh vì vậy không mất chi phí đầu
    tư cho sáng kiến.
    + Lợi ích xã hội: Học sinh tích cực, chủ động hơn trong học tập, hình
    thành và phát triển các năng lực: năng lực ngôn ngữ, công nghệ, tin học, năng
    lực thẩm mĩ, năng lực tự chủ và tự học...Điều này đã góp phần giúp cho nhà
    trường hoàn thành mục tiêu giáo dục là giúp người học phát triển toàn diện.
    4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
    Trong quá trình dạy học phần kĩ thuật điện, học sinh được phát triển nhiều
    năng lực trong đó có năng lực sử dụng ngôn ngữ để trình bày ý kiến của mình,
    đồng thời thực hiện giao tiếp giữa giáo viên - học sinh, giữa học sinh - học sinh.
    Vận dụng kĩ thuật đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học
    sinh trong quá trình dạy học sẽ phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
    học sinh, hướng học sinh tập trung suy nghĩ vào nội dung bài học. Đồng thời
    giúp học sinh có khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng vào giải quyết các tình
    huống nảy sinh trong quá trình học tập và thực tiễn cuộc sống.

    Vận dụng kĩ thuật đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học
    sinh còn tạo điều kiện cho giáo viên được rèn luyện năng lực chuyên môn, bản
    lĩnh nghề nghiệp nhằm đạt mục tiêu giáo dục.
    5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng sáng kiến
    Qua nghiên cứu tôi nhận thấy việc áp dụng sáng kiến vào giảng dạy phần
    “Kĩ thuật điện” Công nghệ 8 nói riêng và giảng dạy ở các môn học khác nói
    chung là rất khả thi. Để áp dụng sáng kiến có hiệu quả cao giáo viên cần đầu tư
    thời gian thiết kế được hệ thống câu hỏi có tính logic theo cấp độ tư duy, tùy vào
    mức năng lực của đối tượng học sinh. Giáo viên cần lựa chọn kĩ thuật đặt câu
    hỏi phù hợp để đạt được mục tiêu của giờ dạy.

    MÔ TẢ SÁNG KIẾN
    1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến
    Để thực hiện mục tiêu đổi mới phương pháp dạy học nhằm tích cực hóa
    hoạt động học tập của học sinh, làm cho người học thực sự là trung tâm của quá
    trình dạy học. Đã có nhiều phương pháp dạy học tích cực và kỹ thuật dạy học
    được nghiên cứu và vận dụng nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Trong đó, kỹ
    năng đặt câu hỏi trong dạy học vô cùng quan trọng, có ảnh hưởng trực tiếp đến
    chất lượng và hiệu quả của dạy học. Thực tế cho thấy, việc đặt câu hỏi trong dạy
    học hiện nay còn mang tính hình thức, chưa lôi cuốn, chưa khích lệ được tư duy
    suy nghĩ, sự tò mò, sáng tạo của người học. Vì vậy, kỹ năng đặt câu hỏi trong
    dạy học đang là một vấn đề cần quan tâm, nghiên cứu. Nên tôi đưa ra sáng kiến:
    “Định hướng đặt câu hỏi trong dạy học phần “Kĩ thuật điện” môn Công nghệ
    8 nhằm phát triển năng lực học sinh”.
    2. Cơ sở lí luận
    2.1. Căn cứ vào lí luận dạy học hiện đại
    + Lí luận dạy học hiện đại giúp giáo viên mở rộng kiến thức lí luận dạy học và
    làm quen với một số quan điểm, phương pháp dạy học theo cách tiếp cận hiện
    đại.
    + Định hướng phát triển năng lực là một xu hướng giáo dục quốc tế. Phát triển
    năng lực là thành phần quan trọng của mục tiêu giáo dục. Định hướng phát triển
    năng lực là định hướng vào người học, chú trọng hoạt động tích cực và tự lực
    của chủ thể người học trong quá trình dạy học.
    + Sự kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học, biết cách vận dụng hiệu quả
    các kĩ thuật dạy học tích cực là yếu tố quan trọng để đảm bảo hiệu quả của giờ
    học.
    2.2. Căn cứ vào phương pháp dạy học tích cực
    + Phương

    pháp dạy học tích cực là phương pháp dạy học theo hướng pháp huy

    tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.

    1

    + Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học,
    nhưng ngược lại thói quen học tập của học sinh cũng ảnh hưởng tới cách dạy
    của giáo viên. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải phối hợp nhịp nhàng
    giữa hoạt động dạy với hoạt động học.
    + Trong công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, người giáo viên
    đóng vai trò là người tổ chức và định hướng các quá trình học tập. Vậy người
    giáo viên cần phải đổi mới như thế nào để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo
    dục nước nhà. Trước thực tế đó tôi đã đưa ra sáng kiến: Định hướng đặt câu hỏi
    trong dạy học phần “ Kĩ thuật điện” môn Công nghệ 8 nhằm phát triển năng lực
    học sinh.
    2.3. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
    2.3.1. Năng lực của học sinh
    Năng lực được hiểu là thuộc tính cá nhân có được trên cơ sở vận dụng kiến
    thức, kĩ năng, thái độ để thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết
    quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
    Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực chuyên biệt. Năng lực chung là
    năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống, học tập
    và làm việc. Năng lực chuyên biệt thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau, được
    hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên.
    + Năng lực chung gồm có:
    - Năng lực tự học.
    - Năng lực giải quyết vấn đề.
    - Năng lực sáng tạo.
    - Năng lực quản lí.
    - Năng lực giao tiếp.
    - Năng lực hợp tác.
    - Năng lực sử dụng ICD (năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền
    thông).
    - Năng lực sử dụng ngôn ngữ.

    2

    - Năng lực tính toán.
    + Năng lực chuyên biệt của lĩnh vực Công nghệ:
    - Năng lực sử dụng ngôn ngữ kĩ thuật.
    - Năng lực hình thành ý tưởng và thiết kế công nghệ.
    - Năng lực triển khai công nghệ.
    - Năng lực lựa chọn và đánh giá công nghệ.
    - Năng sử dụng công nghệ cụ thể.
    - Năng lực tiêu dùng và kinh doanh.
    2.3.2. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
    Dạy học theo định hướng phát triên năng lực của học sinh là phương pháp dạy
    học không chỉ dừng lại ở việc hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ cho người
    học mà cần phải quan tâm tới việc vận dụng kiến thức, kĩ năng, thái độ để thực
    hiện một công việc, giải quyết một vấn đề trong học tập cũng như trong thực
    tiễn.
    Đặc điểm của dạy học định hướng phát triển năng lực:
    - Lấy người học làm trung tâm.
    - Mục tiêu dạy học tập trung vào mức vận dụng.
    - Nội dung dạy học thiết thực, bổ ích.
    - Phương pháp dạy học được lựa chọn thể hiện được định hướng hoạt động,
    định hướng thực hành, tăng cường dạy học vận dụng và giải quyết vấn đề thực
    tiễn.
    - Hình thức tổ chức đa dạng, tăng cường hợp tác, tìm hiểu khám phá trong
    thực tiễn
    - Đánh giá và tự đánh giá được tiến hành ngay trong tiến trình dạy học.
    2.4. Đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học
    Định hướng đặt câu hỏi là năng lực thực hiện việc đặt câu hỏi theo mục đích
    yêu cầu định trước.
    Câu hỏi trong đời thường biểu hiện sự mong muốn tìm tòi, hiểu biết của con
    người, từ thuở mới bắt đầu tập nói. Điều đó được thể hiện qua khả năng cấu trúc

    3

    câu hỏi và nội dung câu trả lời. Một đứa trẻ, trước một sự vật có thể hỏi “Cái gì
    đây?” mà câu trả lời chỉ cần một danh từ. Khi trưởng thành, nó có thể hỏi thêm
    “Từ đâu có cái này?” hoặc “Làm thế nào để tạo ra được cái này?” … Song
    một người có tri thức khoa học, có thể hỏi “Cái này được cấu tạo như thế
    nào?”, “Sự tồn tại của cái này có mối liên hệ gì đối với sự vật xung quanh?”
    hay “Có thể thay thế nó bằng một cái khác được không?”, “Có thể thay thế nó
    bằng cách nào?” … Những loại câu hỏi như vậy là nguồn gốc để hình thành tri
    thức cho con người. Trong quá trình dạy học giáo viên sử dụng câu hỏi như một
    “vũ khí” để hướng học sinh vào những hoạt động dạy học của mình, thông qua
    việc trả lời câu hỏi học sinh sẽ chủ động lĩnh hội được tri thức.
    Đặt câu hỏi là trung tâm của phương pháp dạy học tích cực, là một trong
    những kĩ năng quan trọng của giáo viên với tác dụng gây hứng thú, khuyến
    khích, kích thích tư duy của học sinh, hướng học sinh tập trung suy nghĩ vào nội
    dung bài học, đồng thời giúp học sinh ghi nhớ các kiến thức cũ đã học, cũng qua
    việc trả lời câu hỏi của học sinh giáo viên biết được mức độ hiểu bài của học
    sinh để điều chỉnh cách dạy phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
    2.5. Vai trò của kĩ thuật đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học
    sinh trong dạy học
    2.5.1. Đối với học sinh
    - Đặt câu hỏi tốt tạo hứng thú khơi dậy và mở rộng được sự đóng góp, chia sẻ,
    thảo luận của học sinh.
    - Đặt câu hỏi trong dạy học có tác dụng định hướng, dẫn dắt học sinh tiếp cận
    lĩnh hội tri thức một cách logic hệ thống tránh ghi nhớ máy móc, học vẹt.
    - Học sinh trả lời câu hỏi sẽ rèn luyện và phát triển tư duy nhận thức.
    2.5.2. Đối với giáo viên
    Đặt câu hỏi được sử dụng như một phương tiện để tổ chức dạy học, hướng dẫn
    quá trình nhận thức, đánh giá được năng lực của học sinh, từ đó giáo viên có thể
    thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của học sinh để điều chỉnh cho phù hợp với
    học sinh, phù hợp với bài học.

    4

    Thông qua đặt câu hỏi giúp giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn, tầm hiểu
    biết cũng như phát triển khả năng tự học, tự tìm tòi, sáng tạo của giáo viên
    3. Thực trạng của vấn đề
    3.1. Những thuận lợi cơ bản
    3.1.1. Về phía học sinh
    Đa số học sinh chăm ngoan, tích cực học tập. Phụ huynh quan tâm nhắc nhở,
    đầu tư cho con cái học tập.
    3.1.2. Về phía giáo viên
    Giáo viên được đào tạo chính quy, nhiệt tình trong giảng dạy.
    3.2. Những tồn tại, hạn chế
    3.2.1. Môi trường giáo dục còn nhiều hạn chế
    Hiện nay, môi trường giáo dục phổ thông ở nhiều địa phương trong cả nước
    còn hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thiếu thốn, lạc hậu…nên
    khả năng áp dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại trong giảng dạy còn nhiều hạn
    chế. Bên cạnh đó giáo viên chưa thực sự quan tâm nhiều đến kĩ thuật đặt câu
    hỏi để gây hứng thú đối với học sinh trong giờ học…
    3.2.2. Về học sinh
    Một bộ phận học sinh lười học, ngại khó, ít chú ý và đầu tư thời gian học tập,
    nghiên cứu bộ môn.
    3.2.3. Về giáo viên
    Một số thầy cô lên lớp còn tham kiến thức chỉ sợ học trò mình không hiểu,
    không đủ kiến thức, chỉ mong cốt làm sao cung cấp, truyền thụ đủ kiến thức cơ
    bản cho học sinh chứ chưa nghĩ nhiều đến việc giảng như thế nào, truyền thụ
    như thế nào cho cô đọng nội dung kiến thức cho học sinh dễ hiểu. Để phát huy
    tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh.
    3.3. Kết quả khảo sát thực tế hiện trạng dạy học bộ môn Công nghệ lớp 8
    trong nhà trường
    Tôi đã tiến hành khảo sát thực tế với 73 học sinh lớp 8. Với các nội dung khảo
    sát như sau:

    5

    + Khảo sát thực tế thái độ của học sinh với môn học qua việc quan sát, dự giờ
    thăm lớp để đánh giá mức độ tích cực xây dựng bài của học sinh.
    +Thông qua phiếu thăm dò.
    + Thông qua bài kiểm tra khảo sát.
    Qua khảo, kết quả cụ thể như sau:
    3.3.1. Kết quả thông qua phiếu thăm dò và thực tế thái độ của học sinh đối với
    môn học.
    Số HS thích học

    Số HS không thích học

    Số HS chọn bình thường

    19%

    38,5%

    42,5%

    3.3.2. Kết quả bài kiểm tra khảo sát
    Điểm giỏi: 5,5 %
    Điểm khá: 34,2%
    Điểm trung bình: 58,2%
    Điểm yếu: 2,1%
    3.4. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế
    Hiện nay môn Công nghệ là môn học hầu như không sử dụng trong thi cử
    nên học sinh ít hứng thú học tập, việc tiếp thu kiến thức còn thụ động.Việc phát
    huy tính tích cực của học sinh trong giờ học gặp rất nhiều khó khăn. Do đó chất
    lượng bộ môn phần nào bị ảnh hưởng. Có rất nhiều nguyên nhân như:
    - Một là: Khối lượng kiến thức môn Công nghệ lớn, trừu tượng, khó hiểu.
    - Hai là: Bộ môn Công nghệ là bộ môn có liên hệ với thực tiễn và với nhiều
    bộ môn khác.
    - Ba là: Học sinh và phụ huynh có suy nghĩ môn Công nghệ là môn học phụ,
    không thi cử, nên ít chú ý và đầu tư thời gian học tập, nghiên cứu.
    - Bốn là: Nhận thức của một số giáo viên còn phiến diện, tự ti cho rằng môn
    Công nghệ là môn học “phụ” vì vậy việc đầu tư chuyên môn, tham khảo tài liệu,
    cập nhật kiến thức, đổi mới phương pháp còn hạn chế. Giáo viên chưa thực sự
    quan tâm nhiều đến kĩ thuật đặt câu hỏi để gây hứng thú đối với học sinh trong
    giờ học….

    6

    Để giải quyết nguyên nhân chủ quan: “Giáo viên chưa chú ý đến kĩ thuật đặt
    câu hỏi để gây hứng thú đối với học sinh trong giờ học”. Tôi đã lựa chọn đề tài
    nghiên cứu: Định hướng đặt câu hỏi trong dạy học phần “Kĩ thuật điện” môn
    Công nghệ 8 nhằm phát triển năng lực học sinh.
    4. Giải pháp thực hiện: Định hướng đặt câu hỏi trong dạy học phần “Kĩ
    thuật điện” môn Công nghệ 8 nhằm phát triển năng lực học sinh
    4.1. Những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng giải pháp
    4.1.1. Những thuận lợi khi sử dụng giải pháp
    + Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học, khắc
    phục lối truyền thụ một chiều, hướng học sinh tập trung vào nội dung bài học,
    đồng thời giúp học sinh ghi nhớ kiến thức và tự kiểm tra kiến thức của mình sau
    khi nhận câu hỏi từ giáo viên.
    + Học sinh có thể tự đánh giá mức độ hiểu bài của mình qua các câu hỏi để kịp
    thời bổ sung kiến thức thông qua việc trả lời của bạn và kết luận của giáo viên.
    - Người học được đặt vào vị trí chủ động nhất: Tự tìm tòi, phát hiện và độc lập
    giải quyết các nhiệm vụ học tập.
    - Phát triển ở HS các năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực
    sử dụng ngôn ngữ kĩ thuật, năng lực sáng tạo…trong quá trình học tập.
    + Cũng qua hỏi - đáp, giáo viên nắm được mức độ hiểu bài của học sinh để điều
    chỉnh cách dạy cho phù hợp.
    + Khẳng định năng lực sư phạm, bản lĩnh chuyên môn vững vàng và khả năng
    vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học Công nghệ của người giáo viên, giáo
    viên có cơ hội thể hiện thế mạnh của bản thân trước học sinh.
    4.1.2. Những khó khăn khi sử dụng giải pháp
    + Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian hơn trong quá trình soạn giáo án trước
    khi lên lớp, phải không ngừng tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng lực chuyên
    môn.

    7

    + Cần xây dựng hệ thống câu hỏi rõ ràng, các câu hỏi phải được thiết kế theo
    mức độ tư duy, phù hợp với năng lực học sinh, để làm được điều này đòi hỏi GV
    phải vững về chuyên môn.
    + Trong quá trình giảng dạy, giáo viên phải biết cách sử dụng các phương pháp
    dạy học tích cực và vận dụng kĩ thuật đặt câu hỏi một cách linh hoạt, hợp lí trong
    giờ dạy.
    4.2. Nguyên tắc thiết kế câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học sinh
    trong dạy học
    Bước 1: Xác định nội dung của vấn đề học tập
    - Nội dung vấn đề học tập chính là đáp án của câu hỏi.
    - Giáo viên chuẩn bị nội dung một cách đầy đủ chính xác để làm cơ sở cho thiết
    kế câu hỏi tránh được tình huống đưa ra câu hỏi không rõ ràng, đa trị, thậm trí
    lạc đề.
    - Đồng thời giáo viên cần cân nhắc khoảng thời gian cần cho học sinh giải
    quyết vấn đề là bao lâu, học sinh thực hiện trong hay ngoài giờ học.
    Bước 2:Tách lọc các dữ liệu, thông tin cần cho biết và yêu cầu của câu hỏi.
    - Giáo viên dựa trên đáp án của câu hỏi, từ đó tách lọc thông tin cần và đủ của
    hoạt động giải quyết vấn đề.
    - Đối với câu hỏi cần cung cấp thông tin để HS hiểu rõ về cái gì và trả lời như
    thế nào?
    Ví dụ: Để hiểu rõ đặc điểm của đèn sợi đốt và đèn huỳnh quang. Giáo viên đặt
    câu hỏi: So sánh ưu, nhược điểm của đèn sợi đốt và đèn huỳnh quang?
    Bước 3: Lựa chọn từ hỏi thích hợp
    - Các “từ hỏi” thường được sử dụng là từ mệnh lệnh hoặc nghi vấn.
    - Các từ hỏi mệnh lệnh là: (Hãy) trình bày; giải thích; phát biểu; nhận xét,...
    - Các từ hỏi nghi vấn: Tại sao; vì sao; nguyên nhân nào; là gì...
    Ví dụ: Vì sao khi ngắt đột ngột mạch điện có chứa máy phát điện, máy biến áp
    thì tại cầu dao thường phát sinh tia lửa điện?
    Bước 4: Xây dựng câu hỏi

    8

    - Cấu trúc xây dựng câu hỏi: Từ hỏi + yêu cầu và dữ kiện thông tin của vấn đề
    - Các dạng câu hỏi:
    + Câu hỏi mệnh lệnh
    + Câu hỏi nghi vấn
    + Câu hỏi kết hợp giữa mệnh lệnh và nghi vấn.
    4.3.

    Một số yêu cầu khi định hướng đặt câu hỏi nhằm phát triển năng lực
    học sinh

    - Phải phù hợp với nội dung bài học, câu hỏi phải mang tính logic khoa học
    chú trọng đến việc liên hệ vào thực tiễn cuộc sống, tập trung vào trọng tâm của
    bài học.
    - Phải phù hợp trình độ và năng lực của học sinh.
    - Kích thích sự tò mò của học sinh, để học sinh tham gia tích cực vào hoạt
    động học tập.
    - Vận dụng đa dạng các loại câu hỏi trong một bài học.
    - Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản
    đến phức tạp.
    - Đảm bảo đưa ra câu hỏi đúng lúc, đúng chỗ, đúng thời điểm.
    4.4. Phân loại câu hỏi trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực học
    sinh
    4.4.1. Câu hỏi theo chức năng, mục đích
    4.4.1.1. Câu hỏi đóng
    - Câu hỏi đóng là câu hỏi có đáp án rõ ràng, cụ thể. Chỉ có một đáp án duy
    nhất đúng hoặc sai.
    - Sử dụng trong các trường hợp:
    + Đánh giá kiến thức sẵn có của học sinh, đánh giá mức độ ghi nhớ thông tin.
    + Trong các trường hợp cần câu trả lời chính xác, cụ thể, không đòi hỏi tư duy
    nhiều.
    + Thường sử dụng để thu thập, đánh giá, kiểm tra thông tin ở mức độ cơ bản
    với thời gian ngắn.

    9

    Ví dụ1: Để học sinh có thể nhớ giá trị điện áp của mạng điện trong nhà giáo
    viên có thể đặt câu hỏi: Em hãy cho biết giá trị điện áp của mạng điện trong nhà
    ở nước ta là bao nhiêu?
    Ví dụ2: Năng lượng đầu vào của nhà máy thủy điện là thủy năng của dòng
    nước là đúng hay sai?
    Dạng câu hỏi này ít được giáo viên sử dụng vì dạng câu hỏi này không mang
    tính sư phạm cao, thường dùng nhấn mạnh một ghi nhớ, một kiến thức nào đó
    một cách nhanh chóng.
    4.4.1.2. Câu hỏi mở
    - Câu hỏi mở là câu hỏi có nhiều hướng trả lời hay nhiều đáp án chấp nhận
    được.
    - Loại câu hỏi này giúp phát triển, giải quyết vấn đề, giải thích tình huống đồng
    thời kích thích sự hồi tưởng để sử dụng các kiến thức, kinh nghiệm đã có trong
    việc nghiên cứu và tiếp nhận tri thức mới.
    Ví dụ: Để tìm hiểu chức năng của đường dây truyền tải cao áp và hạ áp, giáo
    viên có thể đặt câu hỏi: Các nhà máy điện thường được xây dựng ở đâu? Điện
    năng thường được truyền tải từ nhà máy điện đến nơi tiêu thụ như thế nào? Cấu
    tạo của đường dây truyền tải gồm các phần tử gì?
    4.4.1.3. Câu hỏi làm rõ
    - Câu hỏi làm rõ là câu hỏi khai thác, thu thập thêm thông tin giúp xác định
    nghĩa các khái niệm và làm rõ ý.
    - Câu hỏi này là hình thức được sử dụng nhiều trong sự tương tác giữa người
    dạy và người học.
    - Câu hỏi làm rõ có tác dụng dẫn dắt để hướng tới sự hiểu biết, thúc đẩy trạng
    thái lắng nghe tích cực, khuyến khích tạo hứng thú và thách thức người học.
    - Một số dạng câu hỏi làm rõ: Em có thể nói theo cách khác không? Em có thể
    cho một ví dụ? Em có thể mở rộng điểm này như thế nào? Tóm lại như thế
    nào?...

    10

    Ví dụ: Sau khi học xong phần đặc điểm của đèn huỳnh quang giáo viên có thể
    đặt câu hỏi: Đèn huỳnh quang có ưu nược điểm gì với đèn sợi đốt? Sau khi trả
    lời câu hỏi này học sinh sẽ khắc sâu rằng đèn huỳnh quang có thể khắc phục
    được nhược điểm của đèn sợi đốt và ngược lại.
    4.4.1.4. Câu hỏi mở rộng
    - Câu hỏi mở rộng là câu hỏi khuyến khích sự trình bày, phân tích, giải thích,
    mở rộng đào sâu suy nghĩ.
    - Loại câu hỏi này giúp học sinh nhận thức toàn diện hơn, sâu sắc hơn về một
    vấn đề đang nghiên cứu
    Ví dụ 1: Để khắc sâu về thao tác sử dụng bút thử điện, giáo viên có thể đặt câu
    hỏi: Tại sao dòng điện qua bút thử điện không gây nguy hiểm cho người sử
    dụng?
    4.4.1.5. Câu hỏi so sánh
    - Câu hỏi so sánh là câu hỏi đánh giá, so sánh, bình luận. Loại câu hỏi này
    khuyến khích tư duy phê phán, bình luận, đánh giá thúc đẩy kỹ năng tư duy bậc
    cao, định hướng suy nghĩ vào các khái niệm và các vấn đề trọng tâm của bài
    học.
    Ví dụ: Sau khi học xong kiến thức về đồ dùng loại điện quang, giáo viên có thể
    đặt câu hỏi: so sánh ưu nhược điểm của đèn sợi đốt và đèn huỳnh quang?
    4.4.1.6. Câu hỏi giả định
    - Câu hỏi giả định là câu hỏi đặt trong điều kiện giả định để giải quyết vấn đề,
    kích thích sự suy ngẫm về cách thức, điều kiện đang sử dụng từ đó tạo hứng thú
    và thách thức người học về các vấn đề mới.
    - Dạng câu hỏi này thường sử dụng tạo tình huống, kích thích phát triển tư duy
    sáng tạo của người học dựa trên cơ sở những kiến thức vừa mới học: Điều gì sẽ
    xảy ra nếu….? Nếu…. thì sẽ như thế nào?
    Ví dụ 1: Nếu không hút hết không khí và bơm khí trơ vào bóng đèn sợi đốt thì
    khi hoạt động tuổi thọ của đèn sợi đốt như thế nào?
    4.4.1.7. Câu hỏi tóm tắt

    11

    - Câu hỏi tóm tắt là câu hỏi yêu cầu trình bày vấn đề vắn tắt nội dung đã học.
    - Dạng câu hỏi này giúp học sinh nhìn nhận kiến thức đã học một cách khai
    quát và logic nhằm khắc sâu kiến thức đã học, phát triển khả năng tư duy, khái
    quát hóa, trừu tượng hóa cho người học.
    - Câu hỏi này thường dùng khi đã dạy hết bài, hết chương…
    Ví dụ: Sau khi dạy hết phần sản xuất và truyền tải điện năng, giáo viên có thể
    đặt câu hỏi: Đặc điểm chung của các nhà máy điện là gì?
    4.4.1.8. Câu hỏi theo mức độ nhận thức
    Câu hỏi theo mức độ nhận thức đước chia ra các dạng: Biết, hiểu, vận dụng,
    phân tích, tổng hợp, đánh giá.
    4.4.2. Câu hỏi ở mức độ “biết”
    - Mục tiêu: Yêu cầu kể lại, liệt kê, mô tả, trình bày, cho biết….
    - Tác dụng đối với học sinh: Ôn lại, tái hiện lại kiến thức đã học, đã biết.
    - Kĩ thuật đặt câu hỏi: Khi đặt câu hỏi ở mức độ “biết” giáo viên có thể sử
    dụng các câu hỏi có dạng: Hãy định nghĩa…, Hãy mô tả….?, trình bày...? Hãy
    cho biết….? Khi nào….? Thế nào….?
    Ví dụ: Vai trò của điện năng trong sản xuất và đời sống?
    Hãy cho biết cấu tạo của bàn là điện?
    Điện áp của mạng điện trong nhà ở Việt Nam là bao nhiêu?
    4.4.2.1. Câu hỏi ở mức độ “hiểu”
    - Mục tiêu: Yêu cầu giải thích, nêu ý nghĩa, so sánh, tóm tắt, liệt kê, trình bày,
    mô tả vắn tắt….
    - Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh biết cách so sánh các yếu tố, các sự
    kiện, có khả năng nêu được những yếu tố cơ bản trong bào học.
    - Kĩ thuật đặt câu hỏi: Giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi có dạng: Hãy so
    sánh….?, hãy giải thích…? Hãy liên hệ….?
    Ví dụ: Tại sao mỗi gia đình cần có một chiếc bút thử điện?
    4.4.2.2. Câu hỏi ở mức độ “vận dụng”

    12

    - Mục tiêu: Yêu cầu giải quyết, trình bày, sử dụng, minh họa, tính toán, kiểm
    tra….
    - Tác dụng đối với học sinh:
    + Biết lựa chọn các phương pháp để giải quyết vấn đề trong cuộc sống
    + Áp dụng các kiến thức tiếp thu được vào các tính huống mới.
    + Giúp hoc sinh hiểu rõ nội dung kiến thức, các khái niệm, định luật.
    - Kĩ thuật đặt câu hỏi:
    + Giáo viên có thể sử dụng các câu trả lời khác nhau để học sinh lựa chọn câu
    trả lời đúng
    + Giáo viên đưa ra các tình huống, các bài tập, các ví dụ để học sinh vận dụng
    kiến thức đã học và giải thích.
    Ví dụ: Tại sao dòng điện qua bút thử điện không gây nguy hiểm cho người sử
    dụng?
    4.4.2.3. Câu hỏi ở mức độ “phân tích”
    - Mục tiêu: Yêu cầu xem xét, so sánh, phân tích, kiểm tra, đối chiếu, xác định,
    giải thích, tìm ra mối liên hệ hoặc chứng minh luận điểm…
    - Tác dụng đối với học sinh: Giúp học sinh biết dựa trên các kiến thức đã học
    tìm ra mối quan hệ giữa các kiến thức đã học tìm ra mối quan hệ giữa các hiện
    tượng, sự kiện có khả năng đưa ra kết luận riêng của bản thân, từ đó phát triển tư
    duy logic, sáng tạo.
    - Kĩ thuật đặt câu hỏi: Để đặt câu hỏi ở mức độ phân tích giáo viên có thể sử
    dụng câu hỏi có dạng: Vì sao….?, tại sao …? Em có nhận xét gì…..?
    Ví dụ 1: Để khắc phục hiệu ứng nhấp nháy của đèn huỳnh quang, khi lắp đặt
    mạng điện huỳnh quang người ta làm như thế nào?
    4.4.2.4. Câu hỏi ở mức độ “tổng hợp”
    - Mục tiêu: Yêu cầu sự đề xuất, sáng tạo, dự đoán, lên kế hoạch, tưởng tượng,
    xây dựng, thiết kê….
    - Tác dụng đối với học sinh: Kích thích sự sáng tạo của học sinh, hướng các
    em tìm ra nhân tố mới, có thể đưa ra lời giải có tính sáng tạo riêng của mình.

    13

    - Kĩ thuật đặt câu hỏi: Giáo viên cần đưa ra những câu hỏi, tình huống để học
    sinh suy đoán, sáng tạo.
    Ví dụ: Khi chiếu sáng ở nhà, lớp học, công sở, nhà máy…. người ta thường
    dùng loại đèn nào? Tại sao?
    4.4.2.5. Câu hỏi ở mức độ “đánh giá”
    - Mục tiêu: Yêu cầu sự suy xét, phán đoán, chọn lọc, quyết định cân nhắc, làm
    rõ trong việc nhận định một vấn đề nào đó dựa trên các tiêu chí đã đưa ra.
    - Tác dụng đối với học sinh: Thúc đẩy sự tìm tòi, khám phá tri thức của học
    sinh, đánh giá khả năng quyết đoán của học sinh.
    - Kĩ thuật đặt câu hỏi: Giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi có dạng: Theo
    em…tại sao? Hiệu quả …. như thế nào? Việc làm đó như thế nào? Tại sao?
    Ví dụ: Quan sát mạng điện trong phòng học lớp em, cho biết cách bố trí các đồ
    dùng, thiết bị điện của mạng điện đã phù hợp chưa? Tại sao?
    4.5. Một số kĩ thuật đặt câu hỏi theo định hướng phát triển năng lực học sinh
    trong dạy học
    Trong mỗi bài giảng, người giáo viên luôn sử dụng nhiều câu hỏi nhằm dẫn
    dắt học sinh khám phá kiến thức. Tuy nhiên sử dụng các câu hỏi như thế nào để
    đem lại hiệu quả tối đa, đòi hỏi người giáo viên phải có kĩ năng, hiểu biết thì
    mới diễn đạt câu hỏi được rõ ràng, chính xác, biết tung ra câu hỏi đúng lúc, đúng
    thời điểm. Để góp phần vào sự thành công của bài giảng người giáo viên cần có
    những kĩ thuật đặt câu hỏi.
    4.5.1. Dừng lại 3 -5 giây sau khi đặt câu hỏi
    - Mục tiêu.
    Tích cực hóa suy nghĩ của tất cả học sinh.
    - Tác dụng đối với học sinh.
    Học sinh có thời gian suy nghĩ để đưa ra câu trả lời có chất lượng.
    - Cách thức dạy học:
    + Giáo viên: Sau khi đặt câu hỏi sử dụng “thời gian chờ đợi” 3-5 giây.

    14

    + Ngay sau “thời gian ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN VIỆT - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !