Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học
Lần theo dấu xưa

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:37' 07-04-2024
Dung lượng: 493.7 KB
Số lượt tải: 6
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:37' 07-04-2024
Dung lượng: 493.7 KB
Số lượt tải: 6
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tên sách: Lần theo dấu xưa
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Thể loại: History
Năm xuất bản: 2012
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Ngày hoàn thành: 10-04-2012
Thư viện ebook miễn phí SachMoi.Net
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1993, những tập đầu tiên của bộ Việt sử giai thoại (trọn bộ gồm 8 tập) bắt đầu được ấn hành
và ngay sau đó đã rất may mắn được bạn đọc gần xa nồng nhiệt tiếp nhận. Nay, bộ Việt sử giai thoại
đang được Nhà xuất bản Giáo dục chuẩn bị cho tái bản lần thứ tám. Đó thực sự là một hạnh phúc, một
phần thưởng lớn đối với bất cứ một người cầm bút nào.
Gần như đồng thời với bộ Việt sử giai thoại, tác giả còn hứng khởi viết tiếp một số bộ sách khác
cùng có xu hướng chung là khai thác các giai thoại vốn có trong sử cũ như: Giai thoại dã sử Việt Nam
(4 tập)(1), Trông lại ngàn xưa (3 tập), Cha ông ta đùa (1 tập)(2)… và dẫu số lần nhiều ít có khác nhau
nhưng đến nay, tất cả đều đã được tái bản.
Tuy rất vui vì liên tục nhận được sự cổ vũ mạnh mẽ của bạn đọc gần xa, nhưng, mười mấy cuốn
sách được biên soạn theo một xu hướng chung, thì với một tác giả, có lẽ như thế cũng đã là quá nhiều.
Tự đáy lòng mình, tác giả thực sự không muốn gây nên sự nhàm chán cho bạn đọc. Gần đây, sau khi
xem lại toàn bộ các trang bản thảo đã viết từ trước tới nay, tác giả thấy còn chừng vài trăm trang chưa
in thành sách. Thôi thì cứ cho đây là cuốn sau cùng của thể loại khai thác giai thoại vậy, nghĩ thế, tác
giả liền mạnh dạn tập hợp, hệ thống và chỉnh lí rồi trân trọng gửi bản thảo đến Nhà xuất bản Giáo dục
với mong muốn chuyển tải hết những giai thoại quý báu (mà tác giả sưu tầm được) trong kho tàng văn
hoá của người xưa đến bạn đọc.
Người xưa bao giờ cũng có cách diễn đạt theo kiểu của họ: gọn gàng mà súc tích, giản dị mà sâu
sắc đến lạ lùng. Hình như chẳng ai chỉ đọc một lần mà đã có thể hiểu hết được ý của người xưa cả.
Cho nên, nếu bạn bắt gặp trong sách này vài chỗ chưa được rành mạch thì lỗi ấy chính là của kẻ hậu
học kém cỏi này. Và trong trường hợp đó, xin bạn hãy tuỳ nghi giảng giải theo cách hiểu riêng của
mình, bởi vì sách mang tên tôi nhưng những mẩu chuyện trong sách lại vốn dĩ là di sản chung của tổ
tiên chúng ta mà. Tách riêng ra, sách này chỉ gồm toàn những chuyện tản mạn, nhưng nếu gộp chung
lại, tất cả đều là biểu hiện sinh động của những giá trị triết lí và đạo lí mà cổ nhân đã trìu mến để lại
cho các thế hệ con cháu chúng ta. Trên tinh thần đó, tác giả chỉ là người cố gắng chuyển tải các mẩu
chuyện từ nguyên bản chữ Hán hoặc chữ Nôm ra tiếng Việt hiện đại, kèm theo vài lời bàn mộc mạc
của mình, cốt giúp những bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ tuổi, chưa có điều kiện và chưa có khả năng đọc
thư tịch cổ, vẫn có thể tiếp nhận ý tưởng của người xưa một cách dễ dàng. Nếu cố gắng này được bạn
đọc ghi nhận thì tác giả đã lấy làm mãn nguyện lắm. Xin được thân ái bắt tay bạn.
Tác giả
NGUYỄN KHẮC THUẦN
Chú thích:
(1) Nxb Trẻ, 1994 - 1995.
(2) Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
Tủ sách
Chia sẻ
LÝ THƯỜNG KIỆT VÀ TRẬN ĐẠI THẮNG Ở NHƯ NGUYỆT
NĂM ĐINH TỊ (1077) TRONG TÌNH CẢM CỦA THIỀN SƯ
THÍCH PHÁP BẢO
Lý Thường Kiệt vốn có họ và tên thật là Ngô Tuấn, người làng Bắc Biên, xã Phúc Xá (nay thuộc xã
Ngọc Thuỵ, huyện Gia Lâm cũ, Hà Nội), sau, ông dời nhà về định cư tại phường Thái Hoà (nay thuộc
nội thành Hà Nội). Ngô Tuấn có tên tự là Thường Kiệt, sau nhờ có công lao lớn, được triều đình ban
thưởng rất trọng hậu, lại còn ban cho quốc tính lúc bấy giờ là họ Lý, cho nên, người đương thời cũng
như hậu thế đều nhân đó mà ghép họ được ban với tên tự mà gọi ông là Lý Thường Kiệt, gọi mãi thành
quen, khiến cho không ít hậu sinh quên mất cả họ lẫn tên thật của ông. Lý Thường Kiệt sinh năm Kỉ
Mùi (1019), mất năm Ất Dậu (1105), hưởng thọ 86 tuổi. Trong quân sự, Lý thường Kiệt là bậc đại
danh tướng, là linh hồn của những chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà trong thế kỉ thứ XI. Trong
chính trị, Lý Thường Kiệt là đấng đại danh thần, là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của nhà Lý, nhất là
dưới thời trị vì của Hoàng đế Lý Nhân Tông (1072 -1127). Trong lịch sử văn học nước nhà, Lý
Thường Kiệt là cây đại bút, tác giả của Nam quốc sơn hà − áng thiên cổ hùng thi có giá trị thiêng
liêng như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của đất nước. Trong bộ bách khoa toàn thư đồ sộ của
mình là Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú viết về Lý Thường Kiệt như sau:
“Ông là người giàu mưu lược lại rất có biệt tài làm tướng suý, từng làm quan trải thờ đến ba đời
Hoàng đế (gồm Lý Thái Tông: 1028 - 1054, Lý Thánh Tông: 1054 -1072 và Lý Nhân Tông: 1072 1127 − NKT), phá Tống, bình Chiêm, công lao đức vọng ngày một lớn, được sủng ái, thật xứng là
người đứng đầu các bậc công hầu vậy.”.
Năm 1069, Lý Thường Kiệt được cùng với Hoàng đế Lý Thánh Tông, đánh thẳng vào Nam, trừng trị
đích đáng hành vi quấy phá của Chiêm Thành và bẻ gãy mưu đồ lợi dụng Chiêm Thành mà nhà Tống
đã công phu chuẩn bị từ nhiều năm trước. Năm 1075, Lý Thường Kiệt là người trực tiếp vạch kế
hoạch, đồng thời cũng là tướng tổng chỉ huy quân đội Đại Việt, bất ngờ tiến như vũ bão sang Trung
Quốc, san bằng ba căn cứ lớn ở Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu, tiêu diệt một phần tiềm năng
quân sự rất quan trọng của nhà Tống. Năm 1077, một lần nữa, Lý Thường Kiệt vừa là người trực tiếp
vạch kế hoạch, lại cũng vừa là tướng tổng chỉ huy quân dân Đại Việt trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại chống quân Tống xâm lăng. Với đại thắng lẫy lừng ở trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt
(tháng 3 năm Đinh Tị - 1077), tên tuổi của Lý Thường Kiệt đã trở nên bất diệt với lịch sử nước nhà.
Dư âm của trận Như Nguyệt vang khắp bốn phương, khiến cho các nhà tu hành Phật giáo lúc bấy giờ
cũng không ngớt lời tán thưởng.
Sau trận đại thắng ở Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt được bổ làm Tổng trấn ở Thanh Hoa (đất này, từ
đời Thiệu Trị: 1841- 1847, vì lệ kị huý mới đổi gọi là Thanh Hoá). Bấy giờ, có thầy học của Linh
Nhân Hoàng thái hậu (tức bàỶ Lan, thân mẫu của Hoàng đế Lý Nhân Tông) là Sùng Tín Đại trưởng
lão từ Thăng Long vào chơi, Lý Thường Kiệt liền nhờ Sùng Tín Đại trưởng lão tìm đất để dựng chùa
và Sùng Tín Đại trưởng lão đã chọn khu đất nằm ở phía nam núi Ngưỡng Sơn. Đất này xưa thuộc xã
Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, nay thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. Chính Lý Thường
Kiệt là người đã trực tiếp trông coi việc xây cất ngôi chùa này. Sau bốn năm (1085-1089) thì khánh
thành, Lý Thường Kiệt đặt cho tên gọi là chùa Linh Xứng. Từ khi có chùa Linh Xứng, Phật tử vốn dĩ
đã rất nể trọng Lý Thường Kiệt lại càng có phần nể trọng hơn. Thiền Sư Thích Pháp Bảo (tức Giác
Tính Hải Chiếu Đại sư) là người có cơ may được chứng kiến sự kiện khá đặc biệt này. Theo ghi chép
của các thư tịch cổ như: Vĩnh Lộc huyện phong thổ chí lược; Ái Châu bi kí; Thanh Hoá tỉnh chí…v.v.
thì sau khi Lý Thường Kiệt qua đời, chính Thích Pháp Bảo là người đã có vinh dự được giao việc
soạn bài văn bia cho chùa Linh Xứng. Khoảng đầu thế kỉ XX, chùa Linh Xứng bị đổ nát hoàn toàn, tuy
nhiên, tấm bia trên đó có khắc bài Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (bài minh khắc trên bia để tại
chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn) do Thích Pháp Bảo soạn thì vẫn còn. Đó thực sự là một trong những
tác phẩm văn học sáng giá của thế kỉ XI. Bài này khá dài, bởi vậy, chỉ xin trích dịch và giới thiệu với
bạn đọc vài đoạn ngắn mà thôi.
Thứ nhất là một trích đoạn kể về việc xây dựng và quy mô của chùa Linh Xứng: “Thế là cùng nhau
phát hết những bụi cỏ rậm, bạt hết những tảng đá to; thầy phong thuỷ thì xét hướng; thợ lành nghề thì vẽ
kiểu; các quan thì góp tiền; sĩ dân khắp nơi cùng nhau kéo tới. Bấy giờ, ai kém sức thì bào hoặc gọt, ai
giỏi nghề thì dựng hoặc xây. Điện thờ Phật thênh thang nằm ở giữa, phòng chay rộng rãi thì ở hai bên.
Phía sau chùa có tháp Chiêu An cao chót vót những chín tầng. Chùa mở cửa bốn bên và cửa nào cũng
có song tiện, phía trong cửa lại có rèm the. Tiếng gió rung chuông bạc quyện với tiếng chim rừng.
Nắng soi tháp báu, sắc vàng điệp lung linh. Quanh lan can trồng đầy hoa cỏ… đúng là cảnh thức tỉnh
hồn mê, xua tan mọi nỗi niềm tục lụy.”.
Thứ hai là vài trích đoạn về những lời ca ngợi công đức của Lý Thường Kiệt, lời lẽ chân thành, thắm
thiết và cũng thật là cảm động: “Lúc còn trẻ Thái uý (chức hàm của Lý Thường Kiệt − NKT) được
chọn vào cấm đình, hầu Thái Tông Hoàng đế chưa đầy một kỉ (tức chưa đầy mười năm − NKT) mà
tiếng thơm đã loan khắp hoàng cung. Đến khi Thánh Tông Hoàng đế nối ngôi trị nước, Thái uý lại hết
lòng phò tá, là người luôn ra sức siêng năng, thật nổi bật trong hàng tả hữu, cho nên mới được gia
phong hàm Kiểm hiệu Thái bảo. Khi nước Phật Thệ (tức là nước Chiêm Thành − NKT) khinh nhờn
phép tắc, chẳng chịu vào chầu, vương sư liền rầm rộ tiến đánh, Thái uý thao lược hơn đời, được vào
cấm cung để nhận mưu chước, ước chế quân luật thật nghiêm để đánh quân thù. Quân của Hoàn Vương
(chỉ Chiêm Thành − NKT) hết đường chạy trốn, đành phải chịu bó tay mà chịu cắt tai”.
“Đầu niên hiệu Thái Ninh (niên hiệu của Lý Nhân Tông, dùng từ năm 1072 đến năm 1076 − NKT)
đức kim thượng Minh Hiếu Hoàng đế (chỉ Lý Nhân Tông − NKT) lên ngôi, Thái uý với tư cách Y
Doãn, Hoắc Quang (hai danh thần của Trung Quốc đời nhà Thương và đời nhà Hán đã có công phò tá
Hoàng đế Trung Quốc lúc còn tuổi ấu thơ, đây chỉ việc Lý Thường Kiệt là Phụ chính Đại thần của Lý
Nhân Tông − NKT) được Hoàng thượng giao quyền nhiếp chính và gửi gắm công việc xã tắc. Bỗng
chốc, quân biên ải của nhà Tống dòm ngó nước ta, Thái uý sẵn mưu chước của triều đình, thống lĩnh
quân sĩ tràn sang diệt hết cả ba châu (chỉ Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu − NKT) và bốn trại
(chỉ bốn trại lính lớn của nhà Tống ở Ung Châu là Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình và Cổ Vạn −
NKT) dễ dàng như bẻ cành gỗ mục. Chẳng bao lâu sau, giặc lại ồ ạt kéo đến sông Như Nguyệt, sục sôi
quyết chí trả thù cho ba châu, Thái uý liền cầm quân ra chống trả.”.
“Thái uý vào trong thì sáng suốt khoan hoà, ra ngoài thì nhân từ giản dị, đổi dời phong tục nào có
quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì ôn tồn, cho nên, đời được cậy nhờ chẳng ít.”.
“Thái uý tuy thân vướng việc đời mà lòng vẫn luôn hướng về Tam Thừa (chỉ Tiểu Thừa, Trung Thừa
và Đại Thừa, tức là Phật giáo nói chung − NKT) có lẽ vì Hoàng thượng và Thái hậu thực tâm tôn sùng
giáo lí nhà Phật chăng? Cho nên, vâng theo ý chỉ của Hoàng thượng và Thái hậu, Thái uý không ngừng
nâng đỡ Phật giáo. Nhân lúc rảnh việc triều đình, thầy của Thái hậu là Sùng Tín Đại trưởng lão mới từ
kinh sư vào mở mang giáo hoá, khơi thông tập tục mới lạ, răn điều ác, trọng việc thiện, dân nào có
khác cây cỏ được nhuần thấm trận mưa rào, cho nên, không ai là không vui tươi hớn hở.”.
Kết thúc Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh là phần văn vần khá dài, lời lẽ giản dị mà hùng tráng, vừa
tỏ được cái tâm khả kính của người tu hành, lại cũng vừa ngời sáng niềm kiêu hãnh của một thần dân
trước sự nghiệp phi thường của Lý Thường Kiệt. Xin được giới thiệu một trích đoạn ngắn (phiên âm
và dịch nghĩa) như sau:
Việt hữu Lý công,
Cổ nhân chuẩn thức.
Mục quận kí ninh,
Chưởng sư tất khắc.
Danh dương hàm hạ,
Thanh chấn hà vực.
Tông giáo quy sùng,
Cảnh phúc thị thực.
Nghĩa là:
Nước Việt có tướng công người họ Lý,
Noi theo đúng thể thức của người xưa.
Trị dân thì dân được yên,
Xuất quân thì tất thắng.
Tên tuổi vang lừng khắp cõi,
Tiếng thơm nức cả bốn phương.
Thuận theo và tôn sùng Phật giáo,
Giữ gìn phúc đức quả là đây.
Trong thư tịch cổ, hình như viết về danh nhân Lý Thường Kiệt, hiếm thấy tác phẩm nào có lời lẽ cảm
động như Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh. Văn bia còn, cái tâm ngời sáng của Thích Pháp Bảo
cũng mãi còn với “vạn cổ thử giang sơn” (muôn đời sông núi này).
Hình 1: Rước nước tắm Phật.
(Kí hoạ đầu thế kỉ XX của H.Oger)
CHUYỆN DUYÊN TÌNH CỦA CÁC NÀNG CÔNG CHÚA THỜI
LÝ
Xưa, chẳng cô gái nào có tuổi thơ tuyệt vời như các nàng Công chúa. Họ được nếm đủ thứ của ngon
vật lạ. Họ xúng xính trong những bộ trang phục lộng lẫy chỉ dành riêng cho ngọc nữ hoàng gia. Họ
được đi du ngoạn khắp đây đó…Nhưng rồi lớn lên, rồi lập gia thất, liệu duyên tình của họ có phải
cũng là đệ nhất thiên hạ hay không? Kẻ hậu học này đã cất công ngồi đọc và hệ thống ghi chép của
từng trang sử cũ, nhưng quả thật là không sao có thể đếm hết được số vợ của các bậc Hoàng đế xưa.
Thôi thì đành vậy. Xưa mà, vợ của Hoàng đế mà còn không đếm nổi, làm sao có thể đếm được con
của Hoàng đế? Tuy nhiên, lác đác đó đây, cũng có khi sử cũ chép vài hàng về các nàng Công chúa.
Thường thì họ chỉ được nhắc tới vào đúng dịp lễ thành hôn của chính họ mà thôi.
Xưa, con gái trong khắp trăm họ mà đi lấy chồng thì gọi là xuất giá. Xuất có nghĩa là ra, chỉ việc các
cô phải rời khỏi nhà cha mẹ đẻ, giá là đi lấy chồng. Nhưng, các nàng Công chúa mà đi lấy chồng thì
sử cũ đều nhất loạt chép là hạ giá. Ở đây hạ có nghĩa là thấp, là nhún nhường. Công chúa là bậc cao
sang, nhà chồng của Công chúa chẳng thể nào sánh được với những cung thất nguy nga của Hoàng đế,
dòng họ nhà chồng có quyền cao chức trọng đến bao nhiêu cũng chẳng thể bì với ngôi chí tôn của
Hoàng đế, cho nên, phải chép là hạ giá để tỏ cái ý Công chúa nhún nhường, hạ mình đi làm dâu người
ngoài hoàng cung vậy. Có đúng là lấy chồng cũng có nghĩa là Công chúa phải chịu nhún nhường, hạ
mình đi làm dâu người ngoài hoàng cung hay không? Xin được lược kê dưới đây vài tư liệu về
chuyện…hạ giá của một số nàng Công chúa thời Lý để bạn tuỳ nghi nhận định theo cách riêng của
mình.
Theo ghi chép của Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 2, tờ 32 và 33) và
của Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển 2, tờ 19 - b) thì vào năm Kỉ Tị (1029), nhà Lý đã hạ giá
đến ba Công chúa khác nhau. Một là Công chúa Bình Dương được đem gả cho Châu mục của Lạng
Châu (nay thuộc Lạng Sơn) là Thân Thiệu Thái. Hai là Công chúa Kim Thành được đem gả cho Châu
mục của Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ) là Lê Tông Thuận. Và, ba là Công chúa Trường Ninh được
đem gả cho Châu mục của châu Thượng Oai (nay thuộc Hà Tây) là Hà Thiện Lãm. Cả ba Công chúa
đều là con gái của Hoàng đế Lý Thái Tổ (1010 -1028) và là em ruột của Hoàng đế Lý Thái Tông
(1028 - 1054). Cứ theo nhận định của các bộ sử cũ thì: “Từ đấy, việc gả Công chúa cho các Châu
mục trở thành lệ thường của nhà Lý”. Bấy giờ, Châu mục là chức đứng đầu của một châu, đại để cũng
như chức Tri châu của giai đoạn sau, thường được triều đình phong cho những vị Tù trưởng có uy thế
của đồng bào các dân tộc ít người. Trong khoảng 50 năm (từ năm 1030 đến năm 1081), không thấy sử
cũ chép việc Hoàng đế nhà Lý gả Công chúa cho các Châu mục, có lẽ phần lớn các Phò mã lúc này
đều là con của các quan ở vùng đồng bằng chung quanh Thăng Long, chuyện … hạ giá chẳng có gì đặc
biệt đáng bận tâm nên không được các sử gia xưa chép đến. Nhưng, vào năm 1082, lệ cũ lại được tái
lập. Năm này, Công chúa Khâm Thánh, con gái của Hoàng đế Lý Thánh Tông (1054 - 1072) được
đem gả cho Châu mục của châu Vị Long (nay thuộc Tuyên Quang) là Hà Di Khánh. Cuối cùng, hơn
nửa thế kỉ sau, vào năm 1144, Công chúa Thiều Dung, con gái của Hoàng đế Lý Nhân Tông (1072 1127) được đem gả cho Châu mục của châu Quảng Nguyên là Dương Tự Minh. Dương Tự Minh vốn
là Tù trưởng có uy thế của đất Phú Lương (nay thuộc Thái Nguyên), nhờ có công đi đánh dẹp nên
được phong làm Châu mục, còn như đất Quảng Nguyên thì nay thuộc Cao Bằng. Chuyện…hạ giá của
các Công chúa thời Lý hẳn nhiên là không phải chỉ bấy nhiêu.
Có những chuyện chính sử tuy không chép nhưng các bộ dã sử và tộc phả lại chép, ví như tộc phả của
họ Hồ ở Hưng Nguyên (Nghệ An) cho hay, họ Hồ cũng có người được kết duyên với Công chúa nhà
Lý, chỉ tiếc là tộc phả này không nói rõ người họ Hồ đó là ai, Công chúa tên gì, con của Hoàng đế nào
và kết hôn vào năm nào. Cuối thời Lý, Lý Huệ Tông (1210 -1224) có hai Công chúa là Thuận Thiên
và Phật Kim. Thuận Thiên được gả cho Trần Liễu (thân sinh của Trần Hưng Đạo nhưng Trần Hưng
Đạo không phải là con do bà Thuận Thiên sinh hạ), còn Phật Kim sau được truyền ngôi, đó là nữ
Hoàng đế Lý Chiêu Hoàng (1224 -1225). Chẳng bao l4Cảnh. Đây không phải là những chuyện… hạ
giá theo đúng nghĩa của từ này, nhưng, duyên tình của cả hai Công chúa Thuận Thiên và Phật Kim
cũng chẳng vì thế mà bớt phần éo le, tội nghiệp. Thời còn trai trẻ, mỗi khi lật lại những trang sử cũ, kẻ
hậu học này thường chú tâm trước hết đến những biến cố lớn, những sự kiện rung trời chuyển đất,
những mẩu chuyện huyền bí và li kì, ít khi xao lòng trước những câu ghi chép ngắn ngủi về chuyện
duyên tình của các nàng Công chúa như vừa kể ở trên. Nhưng rồi tuổi trẻ đi qua, tuổi già ập đến, nhìn
lớp lớp nữ thanh niên thuộc thế hệ con cháu mình phơi phới tuổi xuân và tràn trề ước vọng, kẻ hậu học
này mới bắt đầu thực sự thấy cảm thương các nàng Công chúa thuở nào. Giá thử duyên tình đẩy đưa
khiến họ phải lòng một người khốn khó nào đó như Công chúa Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử chẳng
hạn, thì thiên tình sử của họ lại đậm đà chất thơ, đàng này, họ phải vâng mệnh phụ hoàng và triều đình
mà rời nhung lụa cung thất để lên miền sơn cước, ra đi không dám hẹn ngày trở về viếng thăm. Cứ như
ghi chép của sử cũ thì họ đi làm vợ các vị Tù trưởng chỉ hoàn toàn vì Hoàng đế và triều đình nhà Lý
muốn thông qua mối quan hệ hôn nhân để củng cố khối đại đoàn kết gắn bó giữa đồng bào các dân tộc
ít người ở vùng biên ải xa xôi với chính quyền thống nhất của nhà Lý. Có khối đại đoàn kết này, nhà
Lý mới đủ khả năng đưa Đại Việt lên vị trí của một cường quốc ở Đông NamÁ, đủ sức mạnh để giữ
vững độc lập và chủ quyền quốc gia. Thế ra, không ít nàng Công chúa đã lấy chồng trước hết vì nghĩa
lớn đối với xã tắc non sông. Dân gian có câu:
Con vua lấy thằng bán than,
Nó bắt lên ngàn cũng phải lên theo.
Lời dân gian có thể chỉ mới phản ánh một tổng kết chưa hoàn hảo, nhưng, xét riêng thân phận của các
nàng Công chúa đã đành lòng… hạ giá ra biên ải, nghĩ mà thương, mà trọng biết ngần nào. Dựng nên
non sông gấm vóc này, giữ vững lãnh thổ thiêng liêng này, ngoài các danh thần và võ tướng để lại
tiếng thơm cho muôn thuở, còn có các nàng Công chúa biết quên mình vì sự an vui của trăm họ, kính
thay!
ĐAU ĐỚN THAY, PHẬN... BÀ HOÀNG!
Để diễn đạt sự tột đỉnh sung túc của một người phụ nữ may mắn nào đó, dân gian thuở xưa thường nói:
“sướng như Bà Hoàng”. Nhưng, làm Bà Hoàng liệu có sung sướng thực sự hay không? Cứ như ghi
chép của sử cũ về các Bà Hoàng thời Lý (1010 -1225) thì chừng như chưa hẳn đã là vậy. Các vị
Hoàng đế xưa thường có rất nhiều vợ. Những người vợ của Hoàng đế thường được chia làm chín bậc
cao thấp khác nhau, mỗi bậc lại còn có thứ tự hơn kém trước sau nữa. Làm Bà Hoàng cũng có nghĩa là
phải chịu cảnh chăn đơn gối chiếc, có muốn cất tiếng than thân trách phận đầy ai oán như nữ sĩ Hồ
Xuân Hương rằng: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” cũng chẳng dám mà nếu dám thì cũng chẳng
ích lợi gì cả. Thôi thì đành ngậm bồ hòn làm ngọt vậy.
Cao nhất trong chín bậc của vợ Hoàng đế là Hoàng hậu, nhưng, ngay cả bậc Hoàng hậu, các Hoàng đế
nhà Lý cũng sách phong cho nhiều bà chứ không phải lúc nào cũng là một bà như phần lớn Hoàng đế
của các triều đại sau. Thế ra, nếu có cơ may được sách phong làm Hoàng hậu thì vinh hiển ấy cũng
nào có phải là của riêng một bà, huống chi là chỉ được sách phong làm Bà Hoàng ở các thứ bậc thấp
hơn. Nói nghe có vẻ lạ tai chớ con gái các nhà quyền quý thời Lý rất sợ bị tuyển vào Hậu cung để
được làm Bà Hoàng. Bản thân triều đình nhà Lý cũng rất am hiểu điều này cho nên mới ban hành
những quy định khá chặt chẽ. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển III, tờ 35-a) viết rằng, vào
tháng giêng năm Canh Tuất (1130), Hoàng đế Lý Thần Tông (1128-1138) đã xuống chiếu nói rõ: “Con
gái các quan không được lấy chồng trước, đợi đến khi nào triều đình tuyển chọn để sung vào Hậu
cung, chỉ những người nào không trúng tuyển mới được đi lấy chồng”. Về việc này sử thần kiệt xuất
thời Trần là Bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230 -1322) đã có lời phê rất nghiêm khắc, đại để nói rằng: đó
là sự ép buộc trăm họ phải cung phụng cho mình, không xứng đáng với danh vị của bậc cha mẹ dân.
Làm Bà Hoàng cũng có nghĩa là làm kẻ cô đơn giữa chốn đông người. Họ được ăn ngon, mặc đẹp,
nhưng, sự sung túc vật chất chẳng đủ để khoả lấp cho sự trống vắng của đời sống tinh thần. Và, không
ít Bà Hoàng đoan trang đã tìm niềm vui tao nhã bằng lao động. Chẳng biết ai là người khởi xướng đầu
tiên, nhưng, công việc được nhiều Bà Hoàng ưa thích nhất vẫn là theo học nghề dệt. Họ đã dệt được
nhiều loại gấm vóc lụa là rất đẹp, có thể dùng để may triều phục cho Hoàng đế và bá quan văn võ của
triều đình, thay cho gấm vóc lụa là cao cấp trước đó vẫn phải nhập của nhà Tống (Trung Quốc). Đầu
năm Canh Thìn (1040), Hoàng đế Lý Thái Tông (1028-1054) đã quyết định dùng gấm vóc lụa là trong
nước để thay cho gấm vóc lụa là nhập của nhà Tống (Trung Quốc). Sử thần lỗi lạc thời Lê là Tiến sĩ
Ngô Sĩ Liên nhận xét rằng, đây là việc làm mà “trong cái tốt lại còn có cái tốt hơn nữa”. Hẳn nhiên,
để dệt được những mặt hàng cao cấp như vậy, các Bà Hoàng cũng phải thức khuya dậy sớm, lao tâm
khổ tứ lắm chứ chẳng phải là “ngồi mát ăn bát vàng” được đâu.
Thời Lý, điều đáng sợ nhất đối với các Bà Hoàng chính là sức khoẻ và tuổi thọ của các vị Hoàng đế,
tức là người chồng chung của họ. Hoàng đế chẳng may “ngọc thể bất an” ư? Các Bà Hoàng có thể bị
đem làm vật tế thần trong một dịp lễ cầu đảo nào đó. Hoàng đế qua đời ư? Các Bà Hoàng có thể bị
đưa lên giàn hoả thiêu hoặc đem đi chôn sống theo thi hài của Hoàng đế. Họ lo sợ cũng phải, bởi vì
xem ra, các bậc Hoàng đế triều Lý chẳng ai trường thọ. Trừ Lý Chiêu Hoàng là nữ hoàng, sau nhường
ngôi cho chồng là Trần Cảnh (tức Hoàng đế Trần Thái Tông: 1226 -1258), tám vị Hoàng đế còn lại
của triều Lý chỉ hưởng dương trung bình là 43,5 tuổi mà thôi. Chuyện bị buộc phải chết theo như thế,
sử cũ của ta thường gọi là tuẫn táng. Tháng 1 năm Nhâm Tí (1072), Hoàng đế Lý Thánh Tông qua đời
thì đến tháng 1 năm Quý Sửu (1073), Hoàng hậu Thượng Dương bị đem chôn sống cùng với 76 thị nữ
ở cạnh lăng Hoàng đế Lý Thánh Tông. Ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1127), Hoàng đế Lý Nhân
Tông mất thì ngày 30 tháng 12 cùng năm đó, một loạt các Bà Hoàng đã bị đưa lên giàn hoả thiêu ở Na
Ngạn (nay thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang)!
Thế mới biết ở đời, cái gì cũng đều có cái giá của nó cả. Bà Hoàng được hưởng đủ mọi thứ ân huệ,
nhưng hãy coi chừng, nếu không cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, nếu không biết nghiêm giữ lễ để mắc
lỗi với hoàng gia thì quả đúng là đại nguy. Tháng 12 năm Nhâm Tí (1132), Thượng thư Lý Nguyên có
con gái là Chương Anh được phong làm Thứ phi của Hoàng đế Lý Thần Tông (1128-1138) chẳng may
bị mắc lỗi, cho nên, Thượng thư Lý Nguyên bị tống giam rồi chết ở trong ngục. Luật nhà Lý quy định
rằng, cha mẹ của các Bà Hoàng phải liên đới chịu trách nhiệm về lỗi lầm của con họ! Biết làm sao
khác hơn được?
Ca dao có câu:
Đói no một vợ một chồng,
Một niêu cơm tấm giàu lòng ăn chơi.
Đây mới quả thật là câu tổng kết chí lí. Khi khó nghèo, đã có không ít người chỉ để tâm đến sự khao
khát được giàu sang, nhưng, khi được hưởng giàu sang rồi, chính họ mới vỡ lẽ ra rằng, ở đời còn có
những thứ ngàn lần thiêng liêng và quý giá hơn sang giàu, đó là tình yêu và hạnh phúc gia đình.Ai đó
chưa khá giả, xin chớ nặng lòng nuôi ước vọng được sống như Bà Hoàng! Vâng, ở đời cái gì cũng đều
có cái giá của nó cả. Mọi thứ mà ta có, nếu không được tạo ra bằng công sức và trí tuệ thì cũng phải
trả bằng nước mắt tủi nhục mà thôi. Sự đắt rẻ ở đời chẳng biết nói thế nào cho hết. Hồn thiêng của các
Bà Hoàng thuở xưa chừng như vẫn còn lẩn quất trong những trang sử đó đây và chừng như còn có ai
đó đang cất lời than rằng: Đau đớn thay, phận…Bà Hoàng! Tất nhiên, thi thoảng trong ngàn xưa cũng
có một vài Bà Hoàng thực sự được…sướng như Bà Hoàng, nhưng, trong muôn Bà Hoàng may ra chỉ
có một, kể cũng như may mắn trúng số độc đắc mà thôi. Song, hưởng phúc dày giữa bao người bất
hạnh, suy cho cùng cũng chẳng đáng gọi là sướng được.
Hình 2: Đền thờ bà Phạm Thị Ngà, thân mẫu của Lý Thái Tổ (ở Bắc Ninh). (Ảnh của tác giả)
CHUYỆN XÉT ÁN ĐẦU NĂM ĐINH TỊ (1317) CỦA HOÀNG
ĐẾ TRẦN MINH TÔNG
Theo ghi chép của bộ Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển VI - Kỉ nhà Trần, tờ 34-a) thì vào tháng
ba năm Đại Khánh thứ tư (tức là năm Đinh Tị − 1317), Hoàng đế Trần Minh Tông (1314 - 1329) đã
cùng một lúc làm lễ thành hôn cho năm nàng Công chúa, đó là: Công chúa Thiên Chân, Công chúa Ý
Trinh, Công chúa Huy Chân, Công chúa Huệ Chân và Công chúa Thánh Chân.
Công chúa Huy Chân do bà Phi của Thượng hoàng Trần Anh Tông (1293 - 1314) tên là Trần Thị Thái
Bình sinh hạ. Trần Thị Thái Bình là người nổi tiếng tham lam, luôn tìm cách mượn uy của hoàng tộc
và đặc biệt là mượn uy của Thượng hoàng Trần Anh Tông để chiếm đoạt ruộng đất của dân, triều thần
và trăm họ ai ai cũng biết, nhưng, trải một thời gian khá dài mà vẫn không thấy ai dám nói gì. Trước
khi con gái làm lễ thành hôn, Trần Thị Thái Bình lại bày kế một lần nữa để tước đoạt thêm đất đai của
dân. Chuyện đó khiến cho dân đương thời rất căm giận, họ bèn cùng nhau làm đơn kiện lên triều đình.
Nhưng, chẳng hiểu vì sao, lá đơn của họ không đến tay các quan trực tiếp trông coi việc xét xử án kiện
mà lại chuyển thẳng đến Trần Minh Tông. Công chúa Huy Chân được đem gả cho Uy Giản Hầu (Uy
Giản Hầu là tước hiệu, còn như tên thật là gì thì chưa rõ). Khi ấy, Thượng hoàng Trần Anh Tông còn
sống, phải đến năm 1320 mới qua đời, cho nên, dẫu muốn hay không thì đụng tới Trần Thị Thái Bình
cũng có nghĩa là đã đụng tới Thượng hoàng Trần Anh Tông rồi vậy. Cân nhắc mãi, Trần Minh Tông
mới gọi Uy Giản Hầu đến, cho Uy Giản Hầu xem đơn kiện của dân rồi nói:
− Trẫm không giao cho Pháp quan xét xử vì như thế sợ làm nhục đến Phi tần của Thượng hoàng.
Ngươi nên tìm cách trả lại ruộng cho dân.
Uy Giản Hầu lo sợ, bèn hứa sẽ cố gắng trả lại. Tuy nhiên, chẳng rõ là vì sợ uy của Thượng hoàng Trần
Anh Tông và bà Trần Thị Thái Bình hay bản thân cũng có chút tham lam mà mãi đến mấy năm sau đó,
Uy Giản Hầu vẫn chưa đả động gì tới chuyện trả lại ruộng đất cho dân. Sau khi Thượng hoàng Trần
Anh Tông tạ thế (ngày 16 tháng 3 năm 1320, hưởng dương 44 tuổi) rồi đến lượt bà Trần Thị Thái Bình
cũng qua đời (sử cũ không cho biết bà mất vào ngày tháng năm cụ thể nào nên không rõ bà được
hưởng thọ bao nhiêu tuổi), Uy Giản Hầu mới đem ruộng trả lại cho dân. Hoàng đế Trần Minh Tông
nghe được tin đó, lòng rất lấy làm vui, bèn xuống chiếu ngợi khen Uy Giản Hầu. Các sử gia đương
thời cũng rất tán đồng, vì thế mới cẩn thận chép chuyện này vào quốc sử.
Các nhân vật trong mẩu chuyện nhỏ nói trên là những người như thế nào? Vào thời trai trẻ, cũng có lúc
Trần Anh Tông rượu chè bê tha nên đã khiến cho Thượng hoàng lúc đó là Trần Nhân Tông nổi giận,
suýt nữa là bị truất ngôi, nhưng rồi Trần Anh Tông cũng đã biết sửa lỗi và kết quả là việc nước lại tốt
đẹp. Tiếc thay, đến đây thì không rõ vô tình hay cố ý, khi đã lên ngôi Thượng hoàng, Trần Anh Tông
lại để cho các Phi tần lộng hành, khiến cho dân một thời phải khốn khổ. Bảo rằng Thượng hoàng Trần
Anh Tông chẳng thể có thời gian để mắt tới những chuyện nhỏ, đại loại như thế này chăng. Thật khó có
ai trên cõi đời này tin được. Trần Thị Thái Bình tham lam thì đã quá rõ. Nói theo cách nói của người
xưa thì bà thuộc hạng người sẵn sàng hất tung mâm cơm của thiên hạ để lấy chỗ mà chơi cho thoả thích
đấy thôi. Con gái do bà sinh hạ là Công chúa Huy Chân cũng hoàn toàn không biết gì về chuyện này
chăng? Người vô tâm đến đâu đi chăng nữa cũng chẳng thể nào cả tin mà kết luận như thế được. Uy
Giản Hầu sợ uy của nhạc mẫu hay sợ … phần của hồi môn của Công chúa Huy Chân sẽ giảm bớt đi
mà bề ngoài thì tỏ ra vâng mệnh Hoàng đế Trần Minh Tông nhưng trong lòng thì vẫn cứ cố chần chờ,
để mãi đến mấy năm sau mới trả ruộng cho dân? Xem ra, Hoàng đế Trần Minh Tông rất có tài xử lí
nội bộ. Cổ kim đều thế cả, lúc thường thì nói chung là ai cũng như ai, nhưng khi có chức có quyền thì
cái tâm của người ta không sao có thể giấu kín được nữa, cứ lộ hẳn ra ngoài, khiến cho thiên hạ đều
thấy để rồi vì thế mà nể trọng, kính phục hay ngược lại. Nếu bạn bày tỏ rõ ràng thái độ của mình trước
những hành vi cụ thể của các nhân vật trong mẩu chuyện nhỏ này thì cũng có nghĩa là bạn đã công khai
tự xác định thái độ của bạn trước cuộc đời rồi vậy.
Hình 3: Thợ chạm.
(Kí hoạ đầu thế kỉ XX của H.Oger)
Hình 4: Tượng đá trong đền thờ Họ Trần ở Nam Định.
(Ảnh của tác giả)
TÂY ĐÔ CÒN ĐÓ DẤU XƯA
Cách đây hơn 600 năm, đất An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) đã được chọn làm kinh đô mới của nước
ta.
Thăng Long từ đó được đổi gọi là Đông Đô hay Đông Quan còn như An Tôn thì được mang tên mới là
Tây Đô. Tuy nhiên, dân gian vẫn thường quen gọi Tây Đô là Thành nhà Hồ. Sự kiện dời đô này được
sách Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển 8) ghi chép lại, tuy nhiên, mô tả chi tiết nhất về Tây Đô
dấu cũ thành xưa thì phải là sách Đại Nam nhất thống chí (Thanh Hoá tỉnh, tập thượng). Mục Cổ tích
của sách này chép rằng:
“Thành nhà Hồ tại xã An Tôn, huyện Vĩnh Lộc. Thành này cũng được gọi là Tây Nhai. Dưới thời trị vì
của Hoàng đế Trần Thuận Tông (ở ngôi từ năm 1388 đến năm 1398 − NKT) Hồ Quý Ly rắp tâm cướp
ngôi, bèn bức bách Hoàng đế thiên đô vào đó. (Hồ Quý Ly) cho đắp thành, đào hào, xây đền miếu, lập
phố xá … đặt cho tên gọi là thành Tây Đô. Thành Tây Đô hình vuông, rộng đến hơn hai trăm mẫu. Cửa
thành phía Nam cuốn ba lớp, tương tự như cửa Chu Tước (tức là cửa Nam − NKT) của thành Thăng
Long. Ba cửa phía Tây, phía Đông và phía Bắc thì chỉ cuốn một lớp bằng đá, chân cửa được lát bằng
đá xanh. Đường phố ở đây cũng được lát bằng đá hoa, vì thế mới có hiệu là Hoa Nhai (đường phố hoa
− NKT). Ở ngoài thành có hào sâu, bên phải và bên trái của thành có núi đá, phía trước là sông Mã,
phía sau là sông Bảo.
Phía ngoài thành đá còn có thành đắp bằng đất nhằm bao bọc thêm cho chắc, gọi là La Thành. Thành
đất phía trái thì bắt nguồn từ tổng Cổ Biện, chạy qua các xã Bỉnh Bút và Cổ Điệp rồi lượn theo sông
Bảo, vòng xuống tận Đốn Sơn, còn phía phải thì bắt đầu từ tổng Quan Hoàng của huyện Cẩm Thuỷ,
men theo sông Mã mà sang phía Đông rồi vươn thẳng đến núi An Tôn, tổng cộng dài đến mấy vạn
trượng. Nay, La Thành đã bị đổ nát và bị dân phá ra để lấy đất làm ruộng.”.
Trên danh nghĩa thì trong khoảng vài ba năm đầu khi mới định đô ở An Tôn, ngôi báu vẫn thuộc về họ
Trần, vì thế, Hồ Quý Ly đã cho xây dựng cung thất riêng của mình ở n...
Tên sách: Lần theo dấu xưa
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Thể loại: History
Năm xuất bản: 2012
Tạo và hiệu chỉnh ebook: Hoàng Nghĩa Hạnh
Ngày hoàn thành: 10-04-2012
Thư viện ebook miễn phí SachMoi.Net
LỜI NÓI ĐẦU
Năm 1993, những tập đầu tiên của bộ Việt sử giai thoại (trọn bộ gồm 8 tập) bắt đầu được ấn hành
và ngay sau đó đã rất may mắn được bạn đọc gần xa nồng nhiệt tiếp nhận. Nay, bộ Việt sử giai thoại
đang được Nhà xuất bản Giáo dục chuẩn bị cho tái bản lần thứ tám. Đó thực sự là một hạnh phúc, một
phần thưởng lớn đối với bất cứ một người cầm bút nào.
Gần như đồng thời với bộ Việt sử giai thoại, tác giả còn hứng khởi viết tiếp một số bộ sách khác
cùng có xu hướng chung là khai thác các giai thoại vốn có trong sử cũ như: Giai thoại dã sử Việt Nam
(4 tập)(1), Trông lại ngàn xưa (3 tập), Cha ông ta đùa (1 tập)(2)… và dẫu số lần nhiều ít có khác nhau
nhưng đến nay, tất cả đều đã được tái bản.
Tuy rất vui vì liên tục nhận được sự cổ vũ mạnh mẽ của bạn đọc gần xa, nhưng, mười mấy cuốn
sách được biên soạn theo một xu hướng chung, thì với một tác giả, có lẽ như thế cũng đã là quá nhiều.
Tự đáy lòng mình, tác giả thực sự không muốn gây nên sự nhàm chán cho bạn đọc. Gần đây, sau khi
xem lại toàn bộ các trang bản thảo đã viết từ trước tới nay, tác giả thấy còn chừng vài trăm trang chưa
in thành sách. Thôi thì cứ cho đây là cuốn sau cùng của thể loại khai thác giai thoại vậy, nghĩ thế, tác
giả liền mạnh dạn tập hợp, hệ thống và chỉnh lí rồi trân trọng gửi bản thảo đến Nhà xuất bản Giáo dục
với mong muốn chuyển tải hết những giai thoại quý báu (mà tác giả sưu tầm được) trong kho tàng văn
hoá của người xưa đến bạn đọc.
Người xưa bao giờ cũng có cách diễn đạt theo kiểu của họ: gọn gàng mà súc tích, giản dị mà sâu
sắc đến lạ lùng. Hình như chẳng ai chỉ đọc một lần mà đã có thể hiểu hết được ý của người xưa cả.
Cho nên, nếu bạn bắt gặp trong sách này vài chỗ chưa được rành mạch thì lỗi ấy chính là của kẻ hậu
học kém cỏi này. Và trong trường hợp đó, xin bạn hãy tuỳ nghi giảng giải theo cách hiểu riêng của
mình, bởi vì sách mang tên tôi nhưng những mẩu chuyện trong sách lại vốn dĩ là di sản chung của tổ
tiên chúng ta mà. Tách riêng ra, sách này chỉ gồm toàn những chuyện tản mạn, nhưng nếu gộp chung
lại, tất cả đều là biểu hiện sinh động của những giá trị triết lí và đạo lí mà cổ nhân đã trìu mến để lại
cho các thế hệ con cháu chúng ta. Trên tinh thần đó, tác giả chỉ là người cố gắng chuyển tải các mẩu
chuyện từ nguyên bản chữ Hán hoặc chữ Nôm ra tiếng Việt hiện đại, kèm theo vài lời bàn mộc mạc
của mình, cốt giúp những bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ tuổi, chưa có điều kiện và chưa có khả năng đọc
thư tịch cổ, vẫn có thể tiếp nhận ý tưởng của người xưa một cách dễ dàng. Nếu cố gắng này được bạn
đọc ghi nhận thì tác giả đã lấy làm mãn nguyện lắm. Xin được thân ái bắt tay bạn.
Tác giả
NGUYỄN KHẮC THUẦN
Chú thích:
(1) Nxb Trẻ, 1994 - 1995.
(2) Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.
Tủ sách
Chia sẻ
LÝ THƯỜNG KIỆT VÀ TRẬN ĐẠI THẮNG Ở NHƯ NGUYỆT
NĂM ĐINH TỊ (1077) TRONG TÌNH CẢM CỦA THIỀN SƯ
THÍCH PHÁP BẢO
Lý Thường Kiệt vốn có họ và tên thật là Ngô Tuấn, người làng Bắc Biên, xã Phúc Xá (nay thuộc xã
Ngọc Thuỵ, huyện Gia Lâm cũ, Hà Nội), sau, ông dời nhà về định cư tại phường Thái Hoà (nay thuộc
nội thành Hà Nội). Ngô Tuấn có tên tự là Thường Kiệt, sau nhờ có công lao lớn, được triều đình ban
thưởng rất trọng hậu, lại còn ban cho quốc tính lúc bấy giờ là họ Lý, cho nên, người đương thời cũng
như hậu thế đều nhân đó mà ghép họ được ban với tên tự mà gọi ông là Lý Thường Kiệt, gọi mãi thành
quen, khiến cho không ít hậu sinh quên mất cả họ lẫn tên thật của ông. Lý Thường Kiệt sinh năm Kỉ
Mùi (1019), mất năm Ất Dậu (1105), hưởng thọ 86 tuổi. Trong quân sự, Lý thường Kiệt là bậc đại
danh tướng, là linh hồn của những chiến công lớn nhất lịch sử nước nhà trong thế kỉ thứ XI. Trong
chính trị, Lý Thường Kiệt là đấng đại danh thần, là chỗ dựa tin cậy và vững chắc của nhà Lý, nhất là
dưới thời trị vì của Hoàng đế Lý Nhân Tông (1072 -1127). Trong lịch sử văn học nước nhà, Lý
Thường Kiệt là cây đại bút, tác giả của Nam quốc sơn hà − áng thiên cổ hùng thi có giá trị thiêng
liêng như bản tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của đất nước. Trong bộ bách khoa toàn thư đồ sộ của
mình là Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú viết về Lý Thường Kiệt như sau:
“Ông là người giàu mưu lược lại rất có biệt tài làm tướng suý, từng làm quan trải thờ đến ba đời
Hoàng đế (gồm Lý Thái Tông: 1028 - 1054, Lý Thánh Tông: 1054 -1072 và Lý Nhân Tông: 1072 1127 − NKT), phá Tống, bình Chiêm, công lao đức vọng ngày một lớn, được sủng ái, thật xứng là
người đứng đầu các bậc công hầu vậy.”.
Năm 1069, Lý Thường Kiệt được cùng với Hoàng đế Lý Thánh Tông, đánh thẳng vào Nam, trừng trị
đích đáng hành vi quấy phá của Chiêm Thành và bẻ gãy mưu đồ lợi dụng Chiêm Thành mà nhà Tống
đã công phu chuẩn bị từ nhiều năm trước. Năm 1075, Lý Thường Kiệt là người trực tiếp vạch kế
hoạch, đồng thời cũng là tướng tổng chỉ huy quân đội Đại Việt, bất ngờ tiến như vũ bão sang Trung
Quốc, san bằng ba căn cứ lớn ở Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu, tiêu diệt một phần tiềm năng
quân sự rất quan trọng của nhà Tống. Năm 1077, một lần nữa, Lý Thường Kiệt vừa là người trực tiếp
vạch kế hoạch, lại cũng vừa là tướng tổng chỉ huy quân dân Đại Việt trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ
đại chống quân Tống xâm lăng. Với đại thắng lẫy lừng ở trận quyết chiến chiến lược Như Nguyệt
(tháng 3 năm Đinh Tị - 1077), tên tuổi của Lý Thường Kiệt đã trở nên bất diệt với lịch sử nước nhà.
Dư âm của trận Như Nguyệt vang khắp bốn phương, khiến cho các nhà tu hành Phật giáo lúc bấy giờ
cũng không ngớt lời tán thưởng.
Sau trận đại thắng ở Như Nguyệt, Lý Thường Kiệt được bổ làm Tổng trấn ở Thanh Hoa (đất này, từ
đời Thiệu Trị: 1841- 1847, vì lệ kị huý mới đổi gọi là Thanh Hoá). Bấy giờ, có thầy học của Linh
Nhân Hoàng thái hậu (tức bàỶ Lan, thân mẫu của Hoàng đế Lý Nhân Tông) là Sùng Tín Đại trưởng
lão từ Thăng Long vào chơi, Lý Thường Kiệt liền nhờ Sùng Tín Đại trưởng lão tìm đất để dựng chùa
và Sùng Tín Đại trưởng lão đã chọn khu đất nằm ở phía nam núi Ngưỡng Sơn. Đất này xưa thuộc xã
Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, nay thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá. Chính Lý Thường
Kiệt là người đã trực tiếp trông coi việc xây cất ngôi chùa này. Sau bốn năm (1085-1089) thì khánh
thành, Lý Thường Kiệt đặt cho tên gọi là chùa Linh Xứng. Từ khi có chùa Linh Xứng, Phật tử vốn dĩ
đã rất nể trọng Lý Thường Kiệt lại càng có phần nể trọng hơn. Thiền Sư Thích Pháp Bảo (tức Giác
Tính Hải Chiếu Đại sư) là người có cơ may được chứng kiến sự kiện khá đặc biệt này. Theo ghi chép
của các thư tịch cổ như: Vĩnh Lộc huyện phong thổ chí lược; Ái Châu bi kí; Thanh Hoá tỉnh chí…v.v.
thì sau khi Lý Thường Kiệt qua đời, chính Thích Pháp Bảo là người đã có vinh dự được giao việc
soạn bài văn bia cho chùa Linh Xứng. Khoảng đầu thế kỉ XX, chùa Linh Xứng bị đổ nát hoàn toàn, tuy
nhiên, tấm bia trên đó có khắc bài Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh (bài minh khắc trên bia để tại
chùa Linh Xứng ở Ngưỡng Sơn) do Thích Pháp Bảo soạn thì vẫn còn. Đó thực sự là một trong những
tác phẩm văn học sáng giá của thế kỉ XI. Bài này khá dài, bởi vậy, chỉ xin trích dịch và giới thiệu với
bạn đọc vài đoạn ngắn mà thôi.
Thứ nhất là một trích đoạn kể về việc xây dựng và quy mô của chùa Linh Xứng: “Thế là cùng nhau
phát hết những bụi cỏ rậm, bạt hết những tảng đá to; thầy phong thuỷ thì xét hướng; thợ lành nghề thì vẽ
kiểu; các quan thì góp tiền; sĩ dân khắp nơi cùng nhau kéo tới. Bấy giờ, ai kém sức thì bào hoặc gọt, ai
giỏi nghề thì dựng hoặc xây. Điện thờ Phật thênh thang nằm ở giữa, phòng chay rộng rãi thì ở hai bên.
Phía sau chùa có tháp Chiêu An cao chót vót những chín tầng. Chùa mở cửa bốn bên và cửa nào cũng
có song tiện, phía trong cửa lại có rèm the. Tiếng gió rung chuông bạc quyện với tiếng chim rừng.
Nắng soi tháp báu, sắc vàng điệp lung linh. Quanh lan can trồng đầy hoa cỏ… đúng là cảnh thức tỉnh
hồn mê, xua tan mọi nỗi niềm tục lụy.”.
Thứ hai là vài trích đoạn về những lời ca ngợi công đức của Lý Thường Kiệt, lời lẽ chân thành, thắm
thiết và cũng thật là cảm động: “Lúc còn trẻ Thái uý (chức hàm của Lý Thường Kiệt − NKT) được
chọn vào cấm đình, hầu Thái Tông Hoàng đế chưa đầy một kỉ (tức chưa đầy mười năm − NKT) mà
tiếng thơm đã loan khắp hoàng cung. Đến khi Thánh Tông Hoàng đế nối ngôi trị nước, Thái uý lại hết
lòng phò tá, là người luôn ra sức siêng năng, thật nổi bật trong hàng tả hữu, cho nên mới được gia
phong hàm Kiểm hiệu Thái bảo. Khi nước Phật Thệ (tức là nước Chiêm Thành − NKT) khinh nhờn
phép tắc, chẳng chịu vào chầu, vương sư liền rầm rộ tiến đánh, Thái uý thao lược hơn đời, được vào
cấm cung để nhận mưu chước, ước chế quân luật thật nghiêm để đánh quân thù. Quân của Hoàn Vương
(chỉ Chiêm Thành − NKT) hết đường chạy trốn, đành phải chịu bó tay mà chịu cắt tai”.
“Đầu niên hiệu Thái Ninh (niên hiệu của Lý Nhân Tông, dùng từ năm 1072 đến năm 1076 − NKT)
đức kim thượng Minh Hiếu Hoàng đế (chỉ Lý Nhân Tông − NKT) lên ngôi, Thái uý với tư cách Y
Doãn, Hoắc Quang (hai danh thần của Trung Quốc đời nhà Thương và đời nhà Hán đã có công phò tá
Hoàng đế Trung Quốc lúc còn tuổi ấu thơ, đây chỉ việc Lý Thường Kiệt là Phụ chính Đại thần của Lý
Nhân Tông − NKT) được Hoàng thượng giao quyền nhiếp chính và gửi gắm công việc xã tắc. Bỗng
chốc, quân biên ải của nhà Tống dòm ngó nước ta, Thái uý sẵn mưu chước của triều đình, thống lĩnh
quân sĩ tràn sang diệt hết cả ba châu (chỉ Ung Châu, Khâm Châu và Liêm Châu − NKT) và bốn trại
(chỉ bốn trại lính lớn của nhà Tống ở Ung Châu là Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình và Cổ Vạn −
NKT) dễ dàng như bẻ cành gỗ mục. Chẳng bao lâu sau, giặc lại ồ ạt kéo đến sông Như Nguyệt, sục sôi
quyết chí trả thù cho ba châu, Thái uý liền cầm quân ra chống trả.”.
“Thái uý vào trong thì sáng suốt khoan hoà, ra ngoài thì nhân từ giản dị, đổi dời phong tục nào có
quản công, việc gì cũng siêng năng, sai bảo dân thì ôn tồn, cho nên, đời được cậy nhờ chẳng ít.”.
“Thái uý tuy thân vướng việc đời mà lòng vẫn luôn hướng về Tam Thừa (chỉ Tiểu Thừa, Trung Thừa
và Đại Thừa, tức là Phật giáo nói chung − NKT) có lẽ vì Hoàng thượng và Thái hậu thực tâm tôn sùng
giáo lí nhà Phật chăng? Cho nên, vâng theo ý chỉ của Hoàng thượng và Thái hậu, Thái uý không ngừng
nâng đỡ Phật giáo. Nhân lúc rảnh việc triều đình, thầy của Thái hậu là Sùng Tín Đại trưởng lão mới từ
kinh sư vào mở mang giáo hoá, khơi thông tập tục mới lạ, răn điều ác, trọng việc thiện, dân nào có
khác cây cỏ được nhuần thấm trận mưa rào, cho nên, không ai là không vui tươi hớn hở.”.
Kết thúc Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh là phần văn vần khá dài, lời lẽ giản dị mà hùng tráng, vừa
tỏ được cái tâm khả kính của người tu hành, lại cũng vừa ngời sáng niềm kiêu hãnh của một thần dân
trước sự nghiệp phi thường của Lý Thường Kiệt. Xin được giới thiệu một trích đoạn ngắn (phiên âm
và dịch nghĩa) như sau:
Việt hữu Lý công,
Cổ nhân chuẩn thức.
Mục quận kí ninh,
Chưởng sư tất khắc.
Danh dương hàm hạ,
Thanh chấn hà vực.
Tông giáo quy sùng,
Cảnh phúc thị thực.
Nghĩa là:
Nước Việt có tướng công người họ Lý,
Noi theo đúng thể thức của người xưa.
Trị dân thì dân được yên,
Xuất quân thì tất thắng.
Tên tuổi vang lừng khắp cõi,
Tiếng thơm nức cả bốn phương.
Thuận theo và tôn sùng Phật giáo,
Giữ gìn phúc đức quả là đây.
Trong thư tịch cổ, hình như viết về danh nhân Lý Thường Kiệt, hiếm thấy tác phẩm nào có lời lẽ cảm
động như Ngưỡng Sơn Linh Xứng tự bi minh. Văn bia còn, cái tâm ngời sáng của Thích Pháp Bảo
cũng mãi còn với “vạn cổ thử giang sơn” (muôn đời sông núi này).
Hình 1: Rước nước tắm Phật.
(Kí hoạ đầu thế kỉ XX của H.Oger)
CHUYỆN DUYÊN TÌNH CỦA CÁC NÀNG CÔNG CHÚA THỜI
LÝ
Xưa, chẳng cô gái nào có tuổi thơ tuyệt vời như các nàng Công chúa. Họ được nếm đủ thứ của ngon
vật lạ. Họ xúng xính trong những bộ trang phục lộng lẫy chỉ dành riêng cho ngọc nữ hoàng gia. Họ
được đi du ngoạn khắp đây đó…Nhưng rồi lớn lên, rồi lập gia thất, liệu duyên tình của họ có phải
cũng là đệ nhất thiên hạ hay không? Kẻ hậu học này đã cất công ngồi đọc và hệ thống ghi chép của
từng trang sử cũ, nhưng quả thật là không sao có thể đếm hết được số vợ của các bậc Hoàng đế xưa.
Thôi thì đành vậy. Xưa mà, vợ của Hoàng đế mà còn không đếm nổi, làm sao có thể đếm được con
của Hoàng đế? Tuy nhiên, lác đác đó đây, cũng có khi sử cũ chép vài hàng về các nàng Công chúa.
Thường thì họ chỉ được nhắc tới vào đúng dịp lễ thành hôn của chính họ mà thôi.
Xưa, con gái trong khắp trăm họ mà đi lấy chồng thì gọi là xuất giá. Xuất có nghĩa là ra, chỉ việc các
cô phải rời khỏi nhà cha mẹ đẻ, giá là đi lấy chồng. Nhưng, các nàng Công chúa mà đi lấy chồng thì
sử cũ đều nhất loạt chép là hạ giá. Ở đây hạ có nghĩa là thấp, là nhún nhường. Công chúa là bậc cao
sang, nhà chồng của Công chúa chẳng thể nào sánh được với những cung thất nguy nga của Hoàng đế,
dòng họ nhà chồng có quyền cao chức trọng đến bao nhiêu cũng chẳng thể bì với ngôi chí tôn của
Hoàng đế, cho nên, phải chép là hạ giá để tỏ cái ý Công chúa nhún nhường, hạ mình đi làm dâu người
ngoài hoàng cung vậy. Có đúng là lấy chồng cũng có nghĩa là Công chúa phải chịu nhún nhường, hạ
mình đi làm dâu người ngoài hoàng cung hay không? Xin được lược kê dưới đây vài tư liệu về
chuyện…hạ giá của một số nàng Công chúa thời Lý để bạn tuỳ nghi nhận định theo cách riêng của
mình.
Theo ghi chép của Khâm định Việt sử thông giám cương mục (Chính biên, quyển 2, tờ 32 và 33) và
của Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển 2, tờ 19 - b) thì vào năm Kỉ Tị (1029), nhà Lý đã hạ giá
đến ba Công chúa khác nhau. Một là Công chúa Bình Dương được đem gả cho Châu mục của Lạng
Châu (nay thuộc Lạng Sơn) là Thân Thiệu Thái. Hai là Công chúa Kim Thành được đem gả cho Châu
mục của Phong Châu (nay thuộc Phú Thọ) là Lê Tông Thuận. Và, ba là Công chúa Trường Ninh được
đem gả cho Châu mục của châu Thượng Oai (nay thuộc Hà Tây) là Hà Thiện Lãm. Cả ba Công chúa
đều là con gái của Hoàng đế Lý Thái Tổ (1010 -1028) và là em ruột của Hoàng đế Lý Thái Tông
(1028 - 1054). Cứ theo nhận định của các bộ sử cũ thì: “Từ đấy, việc gả Công chúa cho các Châu
mục trở thành lệ thường của nhà Lý”. Bấy giờ, Châu mục là chức đứng đầu của một châu, đại để cũng
như chức Tri châu của giai đoạn sau, thường được triều đình phong cho những vị Tù trưởng có uy thế
của đồng bào các dân tộc ít người. Trong khoảng 50 năm (từ năm 1030 đến năm 1081), không thấy sử
cũ chép việc Hoàng đế nhà Lý gả Công chúa cho các Châu mục, có lẽ phần lớn các Phò mã lúc này
đều là con của các quan ở vùng đồng bằng chung quanh Thăng Long, chuyện … hạ giá chẳng có gì đặc
biệt đáng bận tâm nên không được các sử gia xưa chép đến. Nhưng, vào năm 1082, lệ cũ lại được tái
lập. Năm này, Công chúa Khâm Thánh, con gái của Hoàng đế Lý Thánh Tông (1054 - 1072) được
đem gả cho Châu mục của châu Vị Long (nay thuộc Tuyên Quang) là Hà Di Khánh. Cuối cùng, hơn
nửa thế kỉ sau, vào năm 1144, Công chúa Thiều Dung, con gái của Hoàng đế Lý Nhân Tông (1072 1127) được đem gả cho Châu mục của châu Quảng Nguyên là Dương Tự Minh. Dương Tự Minh vốn
là Tù trưởng có uy thế của đất Phú Lương (nay thuộc Thái Nguyên), nhờ có công đi đánh dẹp nên
được phong làm Châu mục, còn như đất Quảng Nguyên thì nay thuộc Cao Bằng. Chuyện…hạ giá của
các Công chúa thời Lý hẳn nhiên là không phải chỉ bấy nhiêu.
Có những chuyện chính sử tuy không chép nhưng các bộ dã sử và tộc phả lại chép, ví như tộc phả của
họ Hồ ở Hưng Nguyên (Nghệ An) cho hay, họ Hồ cũng có người được kết duyên với Công chúa nhà
Lý, chỉ tiếc là tộc phả này không nói rõ người họ Hồ đó là ai, Công chúa tên gì, con của Hoàng đế nào
và kết hôn vào năm nào. Cuối thời Lý, Lý Huệ Tông (1210 -1224) có hai Công chúa là Thuận Thiên
và Phật Kim. Thuận Thiên được gả cho Trần Liễu (thân sinh của Trần Hưng Đạo nhưng Trần Hưng
Đạo không phải là con do bà Thuận Thiên sinh hạ), còn Phật Kim sau được truyền ngôi, đó là nữ
Hoàng đế Lý Chiêu Hoàng (1224 -1225). Chẳng bao l4Cảnh. Đây không phải là những chuyện… hạ
giá theo đúng nghĩa của từ này, nhưng, duyên tình của cả hai Công chúa Thuận Thiên và Phật Kim
cũng chẳng vì thế mà bớt phần éo le, tội nghiệp. Thời còn trai trẻ, mỗi khi lật lại những trang sử cũ, kẻ
hậu học này thường chú tâm trước hết đến những biến cố lớn, những sự kiện rung trời chuyển đất,
những mẩu chuyện huyền bí và li kì, ít khi xao lòng trước những câu ghi chép ngắn ngủi về chuyện
duyên tình của các nàng Công chúa như vừa kể ở trên. Nhưng rồi tuổi trẻ đi qua, tuổi già ập đến, nhìn
lớp lớp nữ thanh niên thuộc thế hệ con cháu mình phơi phới tuổi xuân và tràn trề ước vọng, kẻ hậu học
này mới bắt đầu thực sự thấy cảm thương các nàng Công chúa thuở nào. Giá thử duyên tình đẩy đưa
khiến họ phải lòng một người khốn khó nào đó như Công chúa Tiên Dung gặp Chử Đồng Tử chẳng
hạn, thì thiên tình sử của họ lại đậm đà chất thơ, đàng này, họ phải vâng mệnh phụ hoàng và triều đình
mà rời nhung lụa cung thất để lên miền sơn cước, ra đi không dám hẹn ngày trở về viếng thăm. Cứ như
ghi chép của sử cũ thì họ đi làm vợ các vị Tù trưởng chỉ hoàn toàn vì Hoàng đế và triều đình nhà Lý
muốn thông qua mối quan hệ hôn nhân để củng cố khối đại đoàn kết gắn bó giữa đồng bào các dân tộc
ít người ở vùng biên ải xa xôi với chính quyền thống nhất của nhà Lý. Có khối đại đoàn kết này, nhà
Lý mới đủ khả năng đưa Đại Việt lên vị trí của một cường quốc ở Đông NamÁ, đủ sức mạnh để giữ
vững độc lập và chủ quyền quốc gia. Thế ra, không ít nàng Công chúa đã lấy chồng trước hết vì nghĩa
lớn đối với xã tắc non sông. Dân gian có câu:
Con vua lấy thằng bán than,
Nó bắt lên ngàn cũng phải lên theo.
Lời dân gian có thể chỉ mới phản ánh một tổng kết chưa hoàn hảo, nhưng, xét riêng thân phận của các
nàng Công chúa đã đành lòng… hạ giá ra biên ải, nghĩ mà thương, mà trọng biết ngần nào. Dựng nên
non sông gấm vóc này, giữ vững lãnh thổ thiêng liêng này, ngoài các danh thần và võ tướng để lại
tiếng thơm cho muôn thuở, còn có các nàng Công chúa biết quên mình vì sự an vui của trăm họ, kính
thay!
ĐAU ĐỚN THAY, PHẬN... BÀ HOÀNG!
Để diễn đạt sự tột đỉnh sung túc của một người phụ nữ may mắn nào đó, dân gian thuở xưa thường nói:
“sướng như Bà Hoàng”. Nhưng, làm Bà Hoàng liệu có sung sướng thực sự hay không? Cứ như ghi
chép của sử cũ về các Bà Hoàng thời Lý (1010 -1225) thì chừng như chưa hẳn đã là vậy. Các vị
Hoàng đế xưa thường có rất nhiều vợ. Những người vợ của Hoàng đế thường được chia làm chín bậc
cao thấp khác nhau, mỗi bậc lại còn có thứ tự hơn kém trước sau nữa. Làm Bà Hoàng cũng có nghĩa là
phải chịu cảnh chăn đơn gối chiếc, có muốn cất tiếng than thân trách phận đầy ai oán như nữ sĩ Hồ
Xuân Hương rằng: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” cũng chẳng dám mà nếu dám thì cũng chẳng
ích lợi gì cả. Thôi thì đành ngậm bồ hòn làm ngọt vậy.
Cao nhất trong chín bậc của vợ Hoàng đế là Hoàng hậu, nhưng, ngay cả bậc Hoàng hậu, các Hoàng đế
nhà Lý cũng sách phong cho nhiều bà chứ không phải lúc nào cũng là một bà như phần lớn Hoàng đế
của các triều đại sau. Thế ra, nếu có cơ may được sách phong làm Hoàng hậu thì vinh hiển ấy cũng
nào có phải là của riêng một bà, huống chi là chỉ được sách phong làm Bà Hoàng ở các thứ bậc thấp
hơn. Nói nghe có vẻ lạ tai chớ con gái các nhà quyền quý thời Lý rất sợ bị tuyển vào Hậu cung để
được làm Bà Hoàng. Bản thân triều đình nhà Lý cũng rất am hiểu điều này cho nên mới ban hành
những quy định khá chặt chẽ. Sách Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển III, tờ 35-a) viết rằng, vào
tháng giêng năm Canh Tuất (1130), Hoàng đế Lý Thần Tông (1128-1138) đã xuống chiếu nói rõ: “Con
gái các quan không được lấy chồng trước, đợi đến khi nào triều đình tuyển chọn để sung vào Hậu
cung, chỉ những người nào không trúng tuyển mới được đi lấy chồng”. Về việc này sử thần kiệt xuất
thời Trần là Bảng nhãn Lê Văn Hưu (1230 -1322) đã có lời phê rất nghiêm khắc, đại để nói rằng: đó
là sự ép buộc trăm họ phải cung phụng cho mình, không xứng đáng với danh vị của bậc cha mẹ dân.
Làm Bà Hoàng cũng có nghĩa là làm kẻ cô đơn giữa chốn đông người. Họ được ăn ngon, mặc đẹp,
nhưng, sự sung túc vật chất chẳng đủ để khoả lấp cho sự trống vắng của đời sống tinh thần. Và, không
ít Bà Hoàng đoan trang đã tìm niềm vui tao nhã bằng lao động. Chẳng biết ai là người khởi xướng đầu
tiên, nhưng, công việc được nhiều Bà Hoàng ưa thích nhất vẫn là theo học nghề dệt. Họ đã dệt được
nhiều loại gấm vóc lụa là rất đẹp, có thể dùng để may triều phục cho Hoàng đế và bá quan văn võ của
triều đình, thay cho gấm vóc lụa là cao cấp trước đó vẫn phải nhập của nhà Tống (Trung Quốc). Đầu
năm Canh Thìn (1040), Hoàng đế Lý Thái Tông (1028-1054) đã quyết định dùng gấm vóc lụa là trong
nước để thay cho gấm vóc lụa là nhập của nhà Tống (Trung Quốc). Sử thần lỗi lạc thời Lê là Tiến sĩ
Ngô Sĩ Liên nhận xét rằng, đây là việc làm mà “trong cái tốt lại còn có cái tốt hơn nữa”. Hẳn nhiên,
để dệt được những mặt hàng cao cấp như vậy, các Bà Hoàng cũng phải thức khuya dậy sớm, lao tâm
khổ tứ lắm chứ chẳng phải là “ngồi mát ăn bát vàng” được đâu.
Thời Lý, điều đáng sợ nhất đối với các Bà Hoàng chính là sức khoẻ và tuổi thọ của các vị Hoàng đế,
tức là người chồng chung của họ. Hoàng đế chẳng may “ngọc thể bất an” ư? Các Bà Hoàng có thể bị
đem làm vật tế thần trong một dịp lễ cầu đảo nào đó. Hoàng đế qua đời ư? Các Bà Hoàng có thể bị
đưa lên giàn hoả thiêu hoặc đem đi chôn sống theo thi hài của Hoàng đế. Họ lo sợ cũng phải, bởi vì
xem ra, các bậc Hoàng đế triều Lý chẳng ai trường thọ. Trừ Lý Chiêu Hoàng là nữ hoàng, sau nhường
ngôi cho chồng là Trần Cảnh (tức Hoàng đế Trần Thái Tông: 1226 -1258), tám vị Hoàng đế còn lại
của triều Lý chỉ hưởng dương trung bình là 43,5 tuổi mà thôi. Chuyện bị buộc phải chết theo như thế,
sử cũ của ta thường gọi là tuẫn táng. Tháng 1 năm Nhâm Tí (1072), Hoàng đế Lý Thánh Tông qua đời
thì đến tháng 1 năm Quý Sửu (1073), Hoàng hậu Thượng Dương bị đem chôn sống cùng với 76 thị nữ
ở cạnh lăng Hoàng đế Lý Thánh Tông. Ngày 12 tháng 12 năm Đinh Mùi (1127), Hoàng đế Lý Nhân
Tông mất thì ngày 30 tháng 12 cùng năm đó, một loạt các Bà Hoàng đã bị đưa lên giàn hoả thiêu ở Na
Ngạn (nay thuộc huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang)!
Thế mới biết ở đời, cái gì cũng đều có cái giá của nó cả. Bà Hoàng được hưởng đủ mọi thứ ân huệ,
nhưng hãy coi chừng, nếu không cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, nếu không biết nghiêm giữ lễ để mắc
lỗi với hoàng gia thì quả đúng là đại nguy. Tháng 12 năm Nhâm Tí (1132), Thượng thư Lý Nguyên có
con gái là Chương Anh được phong làm Thứ phi của Hoàng đế Lý Thần Tông (1128-1138) chẳng may
bị mắc lỗi, cho nên, Thượng thư Lý Nguyên bị tống giam rồi chết ở trong ngục. Luật nhà Lý quy định
rằng, cha mẹ của các Bà Hoàng phải liên đới chịu trách nhiệm về lỗi lầm của con họ! Biết làm sao
khác hơn được?
Ca dao có câu:
Đói no một vợ một chồng,
Một niêu cơm tấm giàu lòng ăn chơi.
Đây mới quả thật là câu tổng kết chí lí. Khi khó nghèo, đã có không ít người chỉ để tâm đến sự khao
khát được giàu sang, nhưng, khi được hưởng giàu sang rồi, chính họ mới vỡ lẽ ra rằng, ở đời còn có
những thứ ngàn lần thiêng liêng và quý giá hơn sang giàu, đó là tình yêu và hạnh phúc gia đình.Ai đó
chưa khá giả, xin chớ nặng lòng nuôi ước vọng được sống như Bà Hoàng! Vâng, ở đời cái gì cũng đều
có cái giá của nó cả. Mọi thứ mà ta có, nếu không được tạo ra bằng công sức và trí tuệ thì cũng phải
trả bằng nước mắt tủi nhục mà thôi. Sự đắt rẻ ở đời chẳng biết nói thế nào cho hết. Hồn thiêng của các
Bà Hoàng thuở xưa chừng như vẫn còn lẩn quất trong những trang sử đó đây và chừng như còn có ai
đó đang cất lời than rằng: Đau đớn thay, phận…Bà Hoàng! Tất nhiên, thi thoảng trong ngàn xưa cũng
có một vài Bà Hoàng thực sự được…sướng như Bà Hoàng, nhưng, trong muôn Bà Hoàng may ra chỉ
có một, kể cũng như may mắn trúng số độc đắc mà thôi. Song, hưởng phúc dày giữa bao người bất
hạnh, suy cho cùng cũng chẳng đáng gọi là sướng được.
Hình 2: Đền thờ bà Phạm Thị Ngà, thân mẫu của Lý Thái Tổ (ở Bắc Ninh). (Ảnh của tác giả)
CHUYỆN XÉT ÁN ĐẦU NĂM ĐINH TỊ (1317) CỦA HOÀNG
ĐẾ TRẦN MINH TÔNG
Theo ghi chép của bộ Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển VI - Kỉ nhà Trần, tờ 34-a) thì vào tháng
ba năm Đại Khánh thứ tư (tức là năm Đinh Tị − 1317), Hoàng đế Trần Minh Tông (1314 - 1329) đã
cùng một lúc làm lễ thành hôn cho năm nàng Công chúa, đó là: Công chúa Thiên Chân, Công chúa Ý
Trinh, Công chúa Huy Chân, Công chúa Huệ Chân và Công chúa Thánh Chân.
Công chúa Huy Chân do bà Phi của Thượng hoàng Trần Anh Tông (1293 - 1314) tên là Trần Thị Thái
Bình sinh hạ. Trần Thị Thái Bình là người nổi tiếng tham lam, luôn tìm cách mượn uy của hoàng tộc
và đặc biệt là mượn uy của Thượng hoàng Trần Anh Tông để chiếm đoạt ruộng đất của dân, triều thần
và trăm họ ai ai cũng biết, nhưng, trải một thời gian khá dài mà vẫn không thấy ai dám nói gì. Trước
khi con gái làm lễ thành hôn, Trần Thị Thái Bình lại bày kế một lần nữa để tước đoạt thêm đất đai của
dân. Chuyện đó khiến cho dân đương thời rất căm giận, họ bèn cùng nhau làm đơn kiện lên triều đình.
Nhưng, chẳng hiểu vì sao, lá đơn của họ không đến tay các quan trực tiếp trông coi việc xét xử án kiện
mà lại chuyển thẳng đến Trần Minh Tông. Công chúa Huy Chân được đem gả cho Uy Giản Hầu (Uy
Giản Hầu là tước hiệu, còn như tên thật là gì thì chưa rõ). Khi ấy, Thượng hoàng Trần Anh Tông còn
sống, phải đến năm 1320 mới qua đời, cho nên, dẫu muốn hay không thì đụng tới Trần Thị Thái Bình
cũng có nghĩa là đã đụng tới Thượng hoàng Trần Anh Tông rồi vậy. Cân nhắc mãi, Trần Minh Tông
mới gọi Uy Giản Hầu đến, cho Uy Giản Hầu xem đơn kiện của dân rồi nói:
− Trẫm không giao cho Pháp quan xét xử vì như thế sợ làm nhục đến Phi tần của Thượng hoàng.
Ngươi nên tìm cách trả lại ruộng cho dân.
Uy Giản Hầu lo sợ, bèn hứa sẽ cố gắng trả lại. Tuy nhiên, chẳng rõ là vì sợ uy của Thượng hoàng Trần
Anh Tông và bà Trần Thị Thái Bình hay bản thân cũng có chút tham lam mà mãi đến mấy năm sau đó,
Uy Giản Hầu vẫn chưa đả động gì tới chuyện trả lại ruộng đất cho dân. Sau khi Thượng hoàng Trần
Anh Tông tạ thế (ngày 16 tháng 3 năm 1320, hưởng dương 44 tuổi) rồi đến lượt bà Trần Thị Thái Bình
cũng qua đời (sử cũ không cho biết bà mất vào ngày tháng năm cụ thể nào nên không rõ bà được
hưởng thọ bao nhiêu tuổi), Uy Giản Hầu mới đem ruộng trả lại cho dân. Hoàng đế Trần Minh Tông
nghe được tin đó, lòng rất lấy làm vui, bèn xuống chiếu ngợi khen Uy Giản Hầu. Các sử gia đương
thời cũng rất tán đồng, vì thế mới cẩn thận chép chuyện này vào quốc sử.
Các nhân vật trong mẩu chuyện nhỏ nói trên là những người như thế nào? Vào thời trai trẻ, cũng có lúc
Trần Anh Tông rượu chè bê tha nên đã khiến cho Thượng hoàng lúc đó là Trần Nhân Tông nổi giận,
suýt nữa là bị truất ngôi, nhưng rồi Trần Anh Tông cũng đã biết sửa lỗi và kết quả là việc nước lại tốt
đẹp. Tiếc thay, đến đây thì không rõ vô tình hay cố ý, khi đã lên ngôi Thượng hoàng, Trần Anh Tông
lại để cho các Phi tần lộng hành, khiến cho dân một thời phải khốn khổ. Bảo rằng Thượng hoàng Trần
Anh Tông chẳng thể có thời gian để mắt tới những chuyện nhỏ, đại loại như thế này chăng. Thật khó có
ai trên cõi đời này tin được. Trần Thị Thái Bình tham lam thì đã quá rõ. Nói theo cách nói của người
xưa thì bà thuộc hạng người sẵn sàng hất tung mâm cơm của thiên hạ để lấy chỗ mà chơi cho thoả thích
đấy thôi. Con gái do bà sinh hạ là Công chúa Huy Chân cũng hoàn toàn không biết gì về chuyện này
chăng? Người vô tâm đến đâu đi chăng nữa cũng chẳng thể nào cả tin mà kết luận như thế được. Uy
Giản Hầu sợ uy của nhạc mẫu hay sợ … phần của hồi môn của Công chúa Huy Chân sẽ giảm bớt đi
mà bề ngoài thì tỏ ra vâng mệnh Hoàng đế Trần Minh Tông nhưng trong lòng thì vẫn cứ cố chần chờ,
để mãi đến mấy năm sau mới trả ruộng cho dân? Xem ra, Hoàng đế Trần Minh Tông rất có tài xử lí
nội bộ. Cổ kim đều thế cả, lúc thường thì nói chung là ai cũng như ai, nhưng khi có chức có quyền thì
cái tâm của người ta không sao có thể giấu kín được nữa, cứ lộ hẳn ra ngoài, khiến cho thiên hạ đều
thấy để rồi vì thế mà nể trọng, kính phục hay ngược lại. Nếu bạn bày tỏ rõ ràng thái độ của mình trước
những hành vi cụ thể của các nhân vật trong mẩu chuyện nhỏ này thì cũng có nghĩa là bạn đã công khai
tự xác định thái độ của bạn trước cuộc đời rồi vậy.
Hình 3: Thợ chạm.
(Kí hoạ đầu thế kỉ XX của H.Oger)
Hình 4: Tượng đá trong đền thờ Họ Trần ở Nam Định.
(Ảnh của tác giả)
TÂY ĐÔ CÒN ĐÓ DẤU XƯA
Cách đây hơn 600 năm, đất An Tôn (Vĩnh Lộc, Thanh Hoá) đã được chọn làm kinh đô mới của nước
ta.
Thăng Long từ đó được đổi gọi là Đông Đô hay Đông Quan còn như An Tôn thì được mang tên mới là
Tây Đô. Tuy nhiên, dân gian vẫn thường quen gọi Tây Đô là Thành nhà Hồ. Sự kiện dời đô này được
sách Đại Việt sử kí toàn thư (Bản kỉ, quyển 8) ghi chép lại, tuy nhiên, mô tả chi tiết nhất về Tây Đô
dấu cũ thành xưa thì phải là sách Đại Nam nhất thống chí (Thanh Hoá tỉnh, tập thượng). Mục Cổ tích
của sách này chép rằng:
“Thành nhà Hồ tại xã An Tôn, huyện Vĩnh Lộc. Thành này cũng được gọi là Tây Nhai. Dưới thời trị vì
của Hoàng đế Trần Thuận Tông (ở ngôi từ năm 1388 đến năm 1398 − NKT) Hồ Quý Ly rắp tâm cướp
ngôi, bèn bức bách Hoàng đế thiên đô vào đó. (Hồ Quý Ly) cho đắp thành, đào hào, xây đền miếu, lập
phố xá … đặt cho tên gọi là thành Tây Đô. Thành Tây Đô hình vuông, rộng đến hơn hai trăm mẫu. Cửa
thành phía Nam cuốn ba lớp, tương tự như cửa Chu Tước (tức là cửa Nam − NKT) của thành Thăng
Long. Ba cửa phía Tây, phía Đông và phía Bắc thì chỉ cuốn một lớp bằng đá, chân cửa được lát bằng
đá xanh. Đường phố ở đây cũng được lát bằng đá hoa, vì thế mới có hiệu là Hoa Nhai (đường phố hoa
− NKT). Ở ngoài thành có hào sâu, bên phải và bên trái của thành có núi đá, phía trước là sông Mã,
phía sau là sông Bảo.
Phía ngoài thành đá còn có thành đắp bằng đất nhằm bao bọc thêm cho chắc, gọi là La Thành. Thành
đất phía trái thì bắt nguồn từ tổng Cổ Biện, chạy qua các xã Bỉnh Bút và Cổ Điệp rồi lượn theo sông
Bảo, vòng xuống tận Đốn Sơn, còn phía phải thì bắt đầu từ tổng Quan Hoàng của huyện Cẩm Thuỷ,
men theo sông Mã mà sang phía Đông rồi vươn thẳng đến núi An Tôn, tổng cộng dài đến mấy vạn
trượng. Nay, La Thành đã bị đổ nát và bị dân phá ra để lấy đất làm ruộng.”.
Trên danh nghĩa thì trong khoảng vài ba năm đầu khi mới định đô ở An Tôn, ngôi báu vẫn thuộc về họ
Trần, vì thế, Hồ Quý Ly đã cho xây dựng cung thất riêng của mình ở n...
 





