Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học
Huyền thoại tàu không số

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:18' 06-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 18h:18' 06-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
TÀU KHÔNG SỐ
Tác giả: Đình Kính
Nhà xuất bản Thời Đại
http://appstore.vn
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, để trực tiếp chi
viện vũ khí, trang bị và nhân lực cho cách mạng miền Nam, cùng với con
đường vận tải dọc Trường Sơn, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết
định mở con đường vận chuyển chiến lược trên biển Đông. Cuối năm 1961
đến năm 1975, đã có hàng trăm “tàu không số” của đoàn 759 (tức Đoàn 125
sau này) vượt biển, đưa được nhiều cán bộ, chiến sỹ, chở hàng chục ngàn
tấn vũ khí cung cấp kịp thời và có hiệu quả cho quân dân ta ở Nam Bộ, khu
6, khu 5 và nhiều địa phương khác, những nơi mà vận chuyển bằng đường
bộ khó lòng vươn tới, góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Vận chuyển vũ khí vào chiến trường bằng đường biển trong những năm
chiến tranh khốc liệt là công việc hết sức khó khăn, vô cùng gian truân và
nhiều hy sinh. Thiên nhiên khắc bạc, biển cả mênh mông, sóng to gió lớn;
kẻ thù nham hiểm lắm mưu nhiều kế, trang bị hiện đại, phong tỏa nhiều thủ
đoạn… Song với tinh thần quả cảm, táo bạo, mưu trí và sáng tạo, cán bộ,
chiến sỹ đoàn “tàu không số” đã lập nên nhiều chiến công đặc biệt suất sắc.
Với chiến công đó, đơn vị đã hai lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Đường Hồ Chí Minh trên biển là kỳ tích có một không hai trong lịch sử
chống ngoại xâm của dân tộc, nó thể hiện nghệ thuật quân sự tài tình, sự
độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tôi hoan nghênh Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển đã tổ chức
biên soạn và xuất bản cuốn sách “Huyền thoại tàu không số” nhằm ghi lại
một cách chân thực những kỷ niệm, những câu chuyện của cán bộ chiến sĩ
và nhân dân đã từng tham gia làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí trên biển
trong những năm chiến tranh. Đây là việc làm cần thiết và hữu ích, không
chỉ để người trong cuộc ôn lại kỷ niệm hào hùng của quá khứ mà còn có tác
dụng giáo dục con cháu về truyền thống đánh giặc của cha ông.
Nhân dịp cuốn sách “Huyền thoại tàu không số” ra mắt và kỷ niệm 50 năm
ngày thành lập đoàn 759 - tức đoàn 125 (23-10-1961 - 23-10-2011), tôi gửi
đến cán bộ, chiến sỹ và nhân dân từng làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi
https://thuviensach.vn
viện chiến trường bằng đường biển trong chiến tranh, các đồng chí thương
bệnh binh, các gia đình liệt sỹ của Đoàn lời thăm hỏi ân cần và những tình
cảm thắm thiết. Mong các đồng chí không ngừng phát huy truyền thống vẻ
vang trong những năm kháng chiến giải phóng dân tộc, góp phần xứng đáng
vào sự nghiệp bảo vệ đất nước hôm nay và xây dựng một nước Việt Nam
giầu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
Cám ơn nhà văn Đình Kính đã sưu tầm và viết lại những câu chuyện, những
chuyến đi một cách trung thực, cảm động
Hà Nội, ngày 21 tháng 2 năm 2011
LÊ KHẢ PHIÊU
NGUYÊN TỔNG BÍ THƯ BCH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHÚT DUYÊN NHỎ CỦA NGƯỜI VIẾT
Con đường vận chuyển vũ khí trên biển Đông trong những năm chiến tranh
(vẫn gọi là đường Hồ Chí Minh trên biển), mấy thập niên qua trở nên thân
thiết, gắn bó, là đề tài để tôi viết tiểu thuyết, viết truyện, viết phim tài liệu,
phim truyện và viết báo… Tôi coi đây là chút duyên nhỏ mà số phận ưu ái
định ra cho mình.
Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngày thành lập đoàn 759 - tức đoàn 125 sau
này (1961 - 2011), Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển nhờ tôi
viết một cuốn sách về các sự kiện thật, những người thật nơi con đường vận
chuyển đó, theo phương cách thông qua lời kể của các nhân chứng.
Tôi hồ hởi nhận lời. Nhưng hứa rồi, vừa mừng vừa lo. Mừng vì thêm cơ
may hiểu sâu hơn về con đường và những người một thời vào sinh ra tử,
https://thuviensach.vn
làm nên huyền thoại có một không hai trong lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc. Nhưng lo, bởi chiến tranh qua đã gần 40 năm, đồng đội của chúng
ta ai còn, ai mất? Nếu còn, các anh sống ở đâu? Và đã mất, các anh yên
nghỉ chốn nào? Năm mươi năm là quãng thời gian chẳng phải ngắn, đủ để
thiên nhiên và con người ít ý thức mài mòn, biến dạng những gì nguyên sơ.
Đi tìm lại dấu tích về con đường vận tải chiến lược huyền thoại trên biển là
công việc chẳng mấy dễ dàng… Và cũng hiểu rằng, bốn mươi năm mới tiến
hành cái công việc mà chúng ta dư điều kiện để làm sớm hơn là quá muộn
màng, tệ bạc...
Tôi cùng đại tá Tô Hải Nam, nguyên Tổng biên tập báo Hải quân, lên
đường vào một ngày nắng gắt. Dịp này hoa phượng đang cháy rực trên phố
Hải Phòng. Chúng tôi mang theo sắc đỏ ấy cùng hương vị mấy cân chè xứ
Bắc lên máy bay, làm quà cho anh em, bạn bè.
Và chúng tôi bắt đầu lộ trình bằng cách lần theo nhưng gì cuốn lịch sử “
đoàn tàu không số” đã ghi lại…
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
• Nơi bắt đầu con đường
• Nhân chứng cuối cùng của chuyến đi đầu tiên
• Những người vượt biển ra Bắc
• Chuyện người đi trên tàu gỗ mang tên “Phương Đông”
• Người anh hùng của biển
• Mở bến vào khu V
• Vũ khí cho chiến dịch Bình Giã
• Tàu vào Vũng Rô
• Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn
• Tàu 69 - Bản anh hùng ca trên biển
• Đơn vị có tên 970
• Nỗi đau đọng lại hôm nay
• “Tàu không số” với Mậu Thân năm 1968
• Những chuyến đi trinh sát
• Tàu 69b và thuyền trưởng Phan Xã đã ra đi như thế nào?
• Người bí thư chi bộ
• Tàu hai đáy
• Những người không theo tàu ra biển
• K.15 - Đồ Sơn - Cây số 0
• Quá khứ không nói lên điều gì nếu tương lai không nói lên điều gì
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
NƠI BẮT ĐẦU CON ĐƯỜNG
“... Sau hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, theo chỉ
thị của Bộ chính trị, tháng 5 năm 1959, Tổng quân uỷ quyết định thành lập
một cơ quan nghiên cứu mở đường vận tải trên bộ để đưa lực lượng, vũ khí
chi viện cho chiến trường miền Nam. Tháng 7 năm 1959, Tổng Quân uỷ
quyết định tổ chức đường vận tải trên biển. Đây là một trong những nhiệm
vụ lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền
Nam. Đồng chí thượng tá Võ Bẩm, Phó cục trưởng cục Nông trường quân
đội - người nhiều năm công tác ở chiến trường miền Nam, thông thuộc
đường bộ và đường biển, được giao phụ trách cơ quan nghiên cứu này.
Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị, ngày 19 tháng 5 năm 1959, đoàn
vận tải quân sự 559 được thành lập. Lực lượng nòng cốt đầu tiên của đoàn
gồm 2 tiểu đoàn, tiểu đoàn 301 và tiểu đoàn 603.
Tiểu đoàn 301 vận tải đường bộ gồm 500 cán bộ, chiến sỹ tuyển lựa từ lữ
đoàn 305 do đại uý Chu Đăng Chữ và đại uý Nguyễn Danh chỉ huy có
nhiệm vụ mở đường bộ vào Nam.
Tiểu đoàn 603 gồm 107 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Hồ Văn Xá làm tiểu
đoàn trưởng, đồng chí thượng uý Lưu Đức làm chính trị viên. Tiểu đoàn
đóng quân ở thôn Thanh Khê, xã Thạch Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình), bên
bờ sông Gianh.
Nhiệm vụ của tiểu đoàn 603 là nghiên cứu và thực hiện ý đồ của Tổng quân
uỷ Trung ương, chi viện cho chiến trường bằng đường biển. Song, để giữ bí
mật, tiểu đoàn ẩn dưới cái tên: Tập đoàn đánh cá sông Gianh.
... Cuối năm 1959, mọi sự chuẩn bị cho chuyến vượt biển đầu tiên đã xong.
Cấp trên đã chuẩn y kế hoạch. Chỉ chờ thời cơ, đó là khi có gió mùa đông
bắc tràn về. Gió mùa về, thuyền sẽ gặp nhiều thuận lợi khi xuôi gió, xuôi
sóng.
Theo chủ trương của cấp trên, chuyến thuyền đầu tiên của tiểu đoàn 603
(Tập đoàn đánh cá sông Gianh) sẽ chở 5 tấn vũ khí và thuốc men cho khu
V. Địa điểm cập bến là chân đèo Hải Vân.
https://thuviensach.vn
Sau khi đài tiếng nói Việt Nam thông báo có đợt gió mùa đông bắc lớn sẽ
tràn về, tiểu đoàn 603 quyết định thuyền sẽ nhổ neo vào đêm 27 tháng 1
năm 1960, tức 30 Tết Canh Tý. Đó là chiếc thuyền của đại đội Một. Đi trên
thuyền gồm 6 người. Đúng 18 giờ, con thuyền rời bến, đi về hướng đông
nam. Song vì gió mùa đông bắc, sóng to, con thuyền bị chìm, các thủy thủ
bị bắt...” - (Lịch sử Lữ đoàn 125 - Tức đoàn tầu Không số - Nhà xuất bản
Quân đội Nhân dân - Năm 2001).
Cuốn lịch sử chỉ viết mấy dòng sơ lược vậy. Dẫu thế, hơn chục năm trước,
tôi đã tìm đến đó, sông Gianh, nơi có chiếc thuyền đầu tiên ra đi nhằm khai
mở con đường, khai mở một phương thức vận chuyển.
Sông Gianh những ngày ấy trong và xanh đến lạ! Gió từ thượng nguồn lướt
trên mặt nước hắt lên se se. Tôi thả bộ hai bên bờ, chân lún chìm trong cát.
Tôi men theo những làng chài tanh sặc hơi biển, luồn qua những rặng phi
lao tươm tả vì gió, vì cát... Tôi tìm, tôi quan sát, gắng phát hiện chút dấu
vết, dù mù mờ, những tháng năm lịch sử xưa. Song vô vọng. Sông Gianh và
cả Quảng Bình đã khác trước. Đồng Hới như trong thần thoại vụt trở thành
một đô thị xinh xắn khoẻ khoắn. Khách sạn Hữu Nghị, Cung Văn hoá,
Công ty Xuất nhập khẩu và rất nhiều ngôi nhà bề thế khác đã khiến nơi đây
mang dáng vẻ mới. Đồng Hới trở thành nút kinh tế, du lịch của rẻo đất gió
Lào này... Chứng tích của chiến tranh đã bật rễ biến mất.
Tôi lân la trong các ngõ lưới hỏi chuyện những người có tuổi về một đơn vị
có tên Tập đoàn đánh cá Sông Gianh. Các cụ nhìn nhau, gõ lên trán, lục lại
trí nhớ, nhưng hết thẩy đều lắc đầu. Tôi lần đến Hội văn nghệ, nhờ đồng
nghiệp giúp đỡ. Các anh nhún vai. Nếu có ai đó sốt sắng, cũng chỉ là: “Ờ,
hình như có nghe nói tới... Nhưng lâu quá rồi”. Tôi đành lại ra dòng sông
cầu cứu. Cửa sông về sáng ngái ngủ, sương giăng đầy mặt nước, mông
lung, mờ đục. Chỉ những con sóng thức giấc quyện liếm vào chân vỗ về, an
ủi. Và rặng phi lao rủ rỉ như thể tiếc nuối, giãi bày!... Đâu là nơi tiểu đoàn
603 ẩn danh, ẩn tích? Và đâu nữa là vị trí chiếc thuyền gỗ mỏng mảnh lặc lè
súng đạn cùng sáu con người (do đặc trưng thể loại cuốn lịch sử không viết
được chi tiết) lặng lẽ ra đi trong mưa phùn gió lạnh đêm 30 Tết? Hơn bốn
mươi năm, lâu quá rồi, các anh đang ở đâu, đã về cõi vĩnh hằng hay vẫn tá
túc trần thế này? Thôi thì đành đưa máy ảnh hướng ra nơi con sông gặp
biển, nơi có những con thuyền vô tâm căng buồm, lách mù đi về phía mặt
https://thuviensach.vn
trời mọc, ghi lấy một khuôn hình...
Xong việc, tôi ngược lên xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tận tít phía tây,
để tìm nghĩa trang các chiến sỹ giao thông vận tải trên bộ đã ngã xuống
trong chiến tranh, yên nghỉ. Hẳn đây là nghĩa trang duy nhất có được, chỉ
dành riêng cho những người lính giao thông vận tải xấu số. Tôi lần đến làm
gì ư? Cũng không thật rõ. Hình như có một vô thức nào đó bất chợt thoáng
qua mách bảo rằng phải làm vậy. Thế thôi. Đặt một bó hoa rừng, thắp một
nén nhang để tưởng nhớ đến các chị, các anh nằm lại nơi đây, tôi xót xa
nghĩ, giá có một chốn nào đấy như ở Vạn Ninh này để những người lính
vận tải biển đã hy sinh có đất mà cùng tụ về...
Biển mông lung quá, mà con người thì bé nhỏ. Thác rồi đành lại về với biển
thôi...
https://thuviensach.vn
NHÂN CHỨNG CUỐI CÙNG CỦA CHUYẾN ĐI
ĐẦU TIÊN
Đến Đà Nẵng, như thể linh cảm mách bảo, chưa kịp về nhà khách, tôi và Tô
Hải Nam tuông ngay đến phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu. Nơi đó
có một người, là nhân chứng cuối cùng của chuyến đi đầu tiên mà chúng tôi
không thể không gặp lại.
Cách đây đã lâu lắm, tình cờ tôi nghe ai đấy nhắc đến tên một trong sáu
người đi chuyến đầu tiên chở vũ khí vào miền Nam bằng đường biển từ
những năm 1960, còn sống. Tên anh là Huỳnh Ba, hiện ở dưới chân đèo Hải
Vân. Chuyện đó chìm đi cùng thời gian và sự bận bịu, bỗng trong chuyến
về Đà Nẵng công tác cách đây đã mấy năm, thông tin tơ nhện ấy được chắp
nối, đánh thức. Và tôi, dẫu chẳng mấy hy vọng, cũng quyết định lần tới đó,
lần tới Nam Ô.
Đà Nẵng năm ấy mưa nhiều. Khí hậu trở nên đỏng đảnh. Cũng tại con
người thôi. Môi trường sống đang bị phá vỡ.
Mưa tạnh, tôi vẫy chiếc xe ôm, chạy về Nam Ô.
Nam Ô là mút cùng phía Nam chân đèo Hải Vân. Trước đây vùng này nổi
tiếng về nghề làm pháo và nghề làm mắm. Pháo Nam Ô nổ giòn, khi nổ,
giấy đỏ được nhuộm bung ra rực rỡ như hoa. Mắm Nam Ô đậm, thơm ngọt,
nếm một lần, hương vị đọng mãi nơi đầu lưỡi...
Như kẻ nhàn rỗi dở hơi, tôi lân la vào từng nhà, la cà ngoài bãi biển, gợi ý,
giải thích, dò hỏi. Và trời ạ, chẳng rõ có phải do duyên phận, hay do đồng
đội nằm lại Vạn Ninh phù hộ, cuối cùng kẻ ngu ngơ này đã gặp may. Tôi đã
tìm được anh. Phải, anh Huỳnh Ba, một trong sáu thủy thủ, đêm 30 Tết năm
Canh Tý (1960), cách đây hơn 40 năm vượt biển đi về phía Nam...
Anh Huỳnh Ba quê xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, sinh năm
1925. Gặp tôi hồi đó anh đã bước vào tuổi bảy lăm. Tóc bạc, lông mày bạc.
Tôi ngắm, và chẳng nhận ra ở con người này nét gì đặc biệt. Như nhiều ngư
dân đã có tuổi, người anh quắt hóp, khắc khổ nhưng vẫn nhanh nhẹn. Khác
chăng là e dè, ít nói. Và cũng dễ dàng nhận ra ở con người này khônghttps://thuviensach.vn
một
gợn tủa len lỏi của ý thức, rằng mình là một trong những người mở trang sử
đầu tiên về con đường vận tải đã trở thành huyền thoại.
Tự nhiên, anh ẩn khuất, hòa trộn giữa đời thường với những nhọc nhằn
bươn trải hàng ngày kiếm sống. Quá khứ như một nghĩa vụ hiển nhiên đã
qua, vậy thôi...
... Ngày ấy, đã lâu rồi, quần dài quấn ngang cổ, Huỳnh Ba lội biển tiễn đồng
đội đi tập kết. Khi con tàu chỉ còn một chấm đen nhỏ xíu, xa mờ hướng lên
phía Bắc, anh bì bõm quay lại. Đáng ra cũng đi chuyến này, nhưng phút
cuối, tổ chức cân nhắc và thấy cần anh ở lại nằm vùng. Gây dựng cơ sở ven
biển là chỉ thị huyện ủy Hòa Vang, mật giao cho anh. Dưới cái vỏ một cư
dân an phận, anh là cầu nối giữa Đảng và dân ở vùng biển này. Năm năm
sau, tháng 8 năm 1959, anh được lệnh vượt tuyến, lúc đó con gái anh mới
15 ngày tuổi. Anh và nhiều đồng chí khác nữa được đưa về Quảng Bình. Ở
đây anh nhập vào "tập đoàn đánh cá Sông Gianh".
Đêm 30 tết năm Canh Tý (1960). Mưa phùn. Gió bấc từng cơn từ biển thổi
về. Rét. Cửa sông Gianh đặc quánh, mù mịt. Sáu con người ôm chặt đồng
đội đưa tiễn, rồi lặng lẽ xuống thuyền. Con thuyền chất đầy hòm gỗ. Đó là
súng đạn, thuốc men.
- Thuyền chúng tôi do anh Nguyễn Bất đại đội trưởng đại đội Một làm
thuyền trưởng - anh Huỳnh Ba kể - anh Trần Mức làm thuyền phó, các
thành viên là Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn Nữ và tôi. Theo giấy tờ
hợp pháp của tụi nguỵ mà tổ chức chuẩn bị, tôi có tên là Nguyễn Nữa. Sáu
anh em đều là dân khu V, hồi chống Pháp từng ở trong đội thuyền của anh
Võ Bẩm và anh hùng Nguyễn Á, chuyên bí mật chở vũ khí vào khu 6.
Nhằm che mắt địch, thường lựa lúc sóng to gió lớn để ra khơi. Lần này
cũng vậy, chúng tôi nhổ neo khi hay tin gió mùa Đông Bắc về. Đêm đầu
cho thuyền chạy thẳng ra biển quốc tế, với ý định từ đó sẽ men dần vào
chân đèo Hải Vân. Ngày hôm sau gió dữ quá, sóng chồm qua chồm tới,
thuyền có nguy cơ bị lật. Sáu anh em cố sức chèo chống nhưng không lại
với gió. Thuyền cứ dạt về phía Nam. Đã vậy lại bị gãy mất một lái. Với đà
này không rõ sẽ trôi tới đâu. Nhớ hồi 9 năm, cũng xảy ra trường hợp tương
tự, và đã có anh em mình dạt sang tận Phi Luật Tân. Đến ngày thứ ba, biết
đã lạc vô cù lao Ré (tức đảo Lý Sơn - ĐK) thuộc Quảng Ngãi, chúng tôi hơi
lo. Định cho thuyền ngược lên thì lái thứ hai gãy nốt. Gió bắt đầu lặng,
tàu
https://thuviensach.vn
tuần tra của địch và thuyền đánh cá của dân đổ ra nhiều. Loay hoay ở đây sẽ
lộ. Anh Nguyễn Bất quyết định, để giữ bí mật con đường vận chuyển trên
biển, phải phi tang hàng. Phương án này đã có trong kế hoạch...
Anh Huỳnh Ba ngừng kể, chầm chậm châm điếu thuốc, rít một hơi, mắt vẫn
hướng ra biển, nói tiếp:
- Chiều đó chúng tôi bị bắt. Tuy người và thuyền có giấy tờ hợp pháp, lại
khai rất khớp rằng đi đánh cá bị lạc, dạt vô đây, song vẫn bị chúng tách ra
giam mỗi người một nơi. Tôi bị nhốt ở Đà Nẵng, rồi chuyển vô Sài Gòn. Ở
khám Chí Hòa chẳng khai thác được gì, chúng tống qua Phú Lợi. Rồi từ
Phú Lợi đầy ra Côn Đảo. Vài năm bị giải về đất liền. Không bao lâu, lại ra
Côn Đảo. Cứ vậy, suốt 14 năm, tôi bị chuyển tới chục lần. Năm 1974 được
thả. Lần về đến Nam Ô thì vừa lúc quê hương giải phóng.
- Vậy còn năm người kia, tôi hỏi, các anh ấy quê ở đâu?
Anh Huỳnh Ba rành rẽ:
- Anh Nguyễn Bất, Nguyễn Nữ, người Duy Xuyên; anh Nguyễn Sanh quê
Tam Kỳ; Anh Huỳnh Sơn người Thăng Bình; năm anh em tôi đều quê
Quảng Nam, duy chỉ anh Trần Mức là dân Quảng Ngãi... Các anh đều đã hy
sinh ở chiến trường hoặc đã mất do bệnh tật. Sáu anh em chỉ còn lại một.
Tôi cố nén tiếng thở mạnh, không dám hỏi thêm nữa, e sẽ vô tình chạm tới
một cái gì đó sâu xa, thiêng liêng nơi anh.
Tôi ngước lên nhìn bức ảnh thượng tướng Nguyễn Chơn và anh Huỳnh Ba
tươi cười ôm nhau, treo trên vách, mới chụp gần đây, cảm được sự thú vị
của lịch sử. Cùng chung một nhiệm vụ nhưng mãi gần 40 năm sau, những
người trong cuộc mới có cơ gặp nhau. Thời đó Huỳnh Ba chỉ biết đưa vũ
khí vào chân đèo Hải Vân, còn ai ra đón, đâu rõ. Cũng khoảng thời gian đó,
tỉnh uỷ Quảng Nam nhận được tin từ miền Bắc điện vào: Chờ đón hàng ở
Hồ Chuối (đèo Hải Vân) từ đêm 30 Tết. Đồng chí Nguyễn Chơn, phụ trách
quân sự tỉnh, được cử đi làm việc ấy. Anh đến Hồ Chuối, thức ngóng ra
biển một đêm, hai đêm, không có tín hiệu. Ngóng một tuần cũng không
thấy thuyền. Ngóng một tháng, vẫn bằn bặt. Đành quay về cứ... Anh đâu
hay các thủy thủ trên tàu đã bị bắt!
https://thuviensach.vn
- Bây giờ anh sống thế nào, anh Ba? - Tôi hỏi.
Anh Huỳnh Ba cười nhẹ:
- Vậy vậy... Dân thường...
- Không có chế độ gì sao, anh Ba?
- Người ta đòi giấy chứng nhận của đơn vị cũ. Mình tham gia chở vũ khí
cho Nam Bộ kháng chiến từ những năm 1946. Đi thuyền từ Nghệ An vào
Tam Kỳ, rồi vào cực nam Nam Bộ. Từ 1949 đến 1954 chở cho Phú Yên, Bà
Rịa... Ra, vô nhiều lần. Hồi 1950, thuyền vào đến Đà Nẵng, bị lộ, cũng đã
cho thuyền chìm xuống biển rồi lội bộ ra Nghệ An. Qua hai cuộc kháng
chiến, đơn vị đã giải tán. Năm 1960, đi chuyến đầu tiên, ở giai đoạn đánh
Mỹ, bị bắt cho đến 1974...
- Còn đồng đội cũ?
- Mấy ai sống sót! Với nữa tuổi đã già, kinh tế khó khăn không thể đi lại
được... So với đồng đội, mình còn may mắn hơn...! - Ngừng thoáng chốc,
anh nói tiếp: Mấy năm qua, nhờ có thượng tướng Nguyễn Chơn tìm đến
thăm, lại có cái giấy xác nhận của ông, nhưng địa phương bảo vẫn thiếu thủ
tục chi đó, nên không nghe, chỉ cho cái giấy công nhận thương binh, mỗi
tháng được nhận hơn triệu đồng tiền ưu đãi.
Tôi nhìn Huỳnh Ba, ve áo không quân hàm, trên vai không gánh chức tước
địa vị, chỉ là DÂN và lẫn vào dân, thanh thản ngồi bập từng hơi thuốc, lơ
đãng nhìn ra biển mù sương, chợt nghĩ, tiếng là làm văn làm báo, chắc gì
mình đã thấu thế nào là NHÂN DÂN!
Muốn ở lại Nam Ô lâu nữa, chuyện trò với anh Ba lâu nữa, nhưng còn
nhiều việc phải đi, nhiều chỗ phải đến. Tôi đành chia tay. Rời căn nhà lá
tuềnh toàng dựng trên cát, tôi miên man nhiều điều. Và cứ lẩn thẩn tự vấn
rằng, liệu đã có ai đó đến thắp một nén nhang lên mộ năm chiến sỹ đi
chuyến mở đường đầu tiên? Và đã có những cấp nào để tâm lo cho thân
phận trớ trêu bởi chiến tranh của những người như anh Huỳnh Ba?
…Sau hơn chục năm, lần này có thêm Tô Hải Nam đi cùng, tôi lại đến thăm
anh. Vẫn căn nhà tuềnh toàng dựng trên cát, vẫn úi xùi chiếc bàn, chiếc ghế
https://thuviensach.vn
và đồ dùng cũ nát… Linh cảm của chúng tôi đúng. Chị Ba và các cháu cho
hay, anh Ba đã nhập viện cả tuần nay. Có lẽ vết thương ngày xưa tái phát.
Tôi nhẩm tính, năm Canh Dần này, đã cụng tuổi chín mươi, trong hoàn cảnh
của anh, trụ được vậy, đã là mừng. Chúng tôi ghi vội mấy dòng về anh theo
giấy tờ gia đình cất giữ. Sinh: 12 tháng 9 năm 1925. Nhập ngũ: 17 tháng 4
năm 1946, đơn vị T.08, D.248, vận tải thủy Liên khu Năm. Vào Đảng:
tháng 4 năm 1948. Thời gian làm liên lạc Liên khu V: 10 tháng. Thời gian
tham gia kháng chiến: 8 năm 4 tháng. Thương binh ¾. Quyết định trợ cấp
thương tật ký ngày ngày 27 tháng 10 năm 1994 (sở Lao động và Thương
binh xã hội Quảng Nam - Đà Nẵng). Và một tờ giấy xác nhận của thượng
tướng Nguyễn Chơn.
Cô cháu ngoại đưa chúng tôi đến bênh viện Hòa Khánh. Anh Huỳnh Ba
năm kia, người gầy nhỏ, mặt quắt hóp. Anh nở nụ cười vui khi hay chúng
tôi tới. Nắm bàn tay chỉ da bọc xương, tôi nghe lòng se sắt, không nỡ nhắc
lại chuyện xưa, chỉ loanh quanh hỏi bệnh tình. Anh bình thản cho rằng ở
tuổi như anh, đổ bệnh là chuyện thường. Rồi anh nói:
- Ông Nguyễn Chơn ít tuổi hơn tôi nhưng nghe đâu cũng nhiều bệnh lắm.
Mấy năm trước còn thỉnh thoảng qua lại thăm, nhưng lâu nay thấy vắng.
Chắc sức đã yếu. Ai cũng vậy, thời trai trẻ kham khổ, gian lao, nên khi có
tuổi lãnh đủ!
Tôi biết bệnh tình anh Huỳnh Ba không mấy nặng, nhưng vì không có điều
kiện kinh tế, lại chẳng một “chế độ” kèm theo nên khó chuyển lên tuyến
trên.
Chúng tôi đem băn khoăn đó thưa với các anh trong Ban chỉ huy vùng Ba,
Hải quân, các anh chăm chú nghe, hứa cố gắng giúp đỡ và sẽ báo cáo với
trên để có thể dựng cho anh Huỳnh Ba ngôi nhà tình nghĩa.
Tôi đưa ý kiến của các anh chỉ huy Vùng Ba, Hải quân vào dòng cuối phần
viết này với hy vọng tâm nguyện và tấm lòng của các anh sẽ thành sự thật.
https://thuviensach.vn
NHỮNG NGƯỜI VƯỢT BIỂN RA BẮC
“...Chuyến vượt biển đầu tiên đưa vũ khí vào khu V không thành. Đồng chí
Lưu Đức ra Hà Nội báo cáo với Quân uỷ Trung ương và Bộ quốc phòng về
chuyến đi đó. Quân uỷ Trung ương nhận định: Việc dùng thuyền gỗ, chạy
bằng buồm chở vũ khí vào chiến trường có rất nhiều khó khăn và không an
toàn. Vì vậy Bộ quốc phòng chỉ thị cho tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động
để tìm một phương thức vận chuyển mới. Trong lúc chờ đợi, số anh em tiểu
đoàn 603 được điều sang tiểu đoàn 301, dồn sức mở con đường xuyên
Trường Sơn...
...Ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, Tây
Ninh, mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam được thành lập. Tháng 1 năm
1961, Bộ chính trị chỉ thị: “...tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát
triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên phạm vi
ngày càng rộng lớn... Tạo điều kiện và mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ
chính quyền Mỹ Diệm...”
Thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị, nhiệm vụ vận tải chiến lược phải theo
kịp tình hình phát triển của chiến trường; nếu có điều kiện phải đi trước một
bước. Tuyến đường Trường Sơn chi viện cho miền Nam còn vài ba năm
nữa mới vươn tới miền đông Nam Bộ, còn đồng bằng Nam Bộ thì thật khó
mà vươn tới. Song vũ khí cho chiến trường Nam Bộ đang là đòi hỏi cấp
bách có tính sống còn đối với phong trào cách mạng ở đây. Tiếp tế cho Nam
Bộ, vào thời điểm này, không còn con đường nào khác hơn là con đường
biển. Con đường chi viện trên bộ hiện tại mới tới khu V, song do sử dụng
phương thức vận tải thô sơ nên còn hết sức gian nan, hiệu quả không lớn.
Mỗi chiến sỹ, giỏi cũng chỉ gùi được 20 kg hàng. Muốn chở 10 tấn hàng,
cần có 500 người, ấy là chưa kể ốm đau, địch đánh phá và người phục vụ
cho 500 người gùi hàng trên, và tổn thất do nhiều nguyên nhân khác. Vậy
100 tấn hàng, 1000 tấn hàng và hàng trăm ngàn tấn hàng cho chiến trường
cần bao nhiêu người và phải làm trong bao năm? Nếu thông con đường
biển, 100 tấn vũ khí, chỉ một con tầu và 15 thủy thủ là trong một tuần, hàng
có thể tới cực nam Nam Bộ. Đó là bài tính để tạo quyết tâm.
https://thuviensach.vn
Trong khi chờ đợi một phương thức vận chuyển vũ khí từ miền Bắc đi bằng
đường biển vào miền Nam, Trung ương Đảng chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ
chuẩn bị bến bãi và cho thuyền ra miền Bắc vừa thăm dò, mở đường nghiên
cứu phương tiện vận chuyển trên biển và báo cáo tình hình, nếu có điều
kiện thì chở vũ khí về.
Chỉ thị của Trung ương Đảng phù hợp với lòng mong mỏi của các địa
phương, do vậy trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc
Liêu, Bà Rịa đã gấp rút chuẩn bị, tổ chức các đội tầu, mua sắm thuyền lưới
và chọn người để lên đường, vượt biển ra Bắc...”(Lịch sử lữ đoàn 125 - tức
đoàn tầu Không số-- Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - Năm 2001).
Chuyện của anh Sáu Giáo và anh Sáu Đức.
Nhận được chỉ thị của Trung ương, tỉnh uỷ Bến Tre, quê hương phong trào
đồng khởi, đã giao cho anh Nguyễn Văn Khước (Năm Chung hay còn gọi là
Mười Khước) bí thư tỉnh uỷ và chị Nguyễn Thị Định, người đã vượt biển ra
Bắc xin vũ khí từ năm 1946, lo tổ chức chuyến đi. Trong thời gian ngắn,
Bến Tre tổ chức được hai đội tầu.
Đội tầu thứ nhất do anh Sáu Giáo (tức Đặng Bá Tiên) làm đội trưởng; anh
Nguyễn Văn Kiệm (Năm Tiến), bí thư chi bộ. Các thành viên có: Huỳnh
Văn Mai (tức Nguyễn Văn Giới, tức Mai Đen), Đặng Văn Bê (Hai Thọ), Lê
Văn Nhung (Hai Hùng), và Nguyễn Văn Đức (Sáu Đức).
Đội tầu thứ hai do anh Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách, các thủy thủ
gồm: Nguyễn Văn Hớn (Năm Thanh), Nguyễn Văn Hải (Huỳnh Phước Hải,
Tức Sáu Hải), Văn Công Cưỡng, Bùi Văn Ấn (Năm Thăng), Nguyễn Văn
Luông (Hai Sơn), Huỳnh Văn Tiến (tức Huỳnh Văn Mười, tức Mười Tiến).
Có lẽ nhờ cái duyên với con đường vận chuyển chở vũ khí trên biển nên
cách đây đã chục năm, tôi may mắn gặp được anh Đặng Bá Tiên (Tức Sáu
Giáo), người phụ trách đội thuyền thứ nhất của Bến Tre đã vượt biển ra Bắc
năm 1961. Anh Sáu Giáo nhỏ người, sức khoẻ không mấy tốt, nhưng trí
nhớ chưa hề cùn mòn.
Tôi và anh ngồi nói chuyện trong ngôi nhà số 272 ở đường Minh Phụng,
quận 5, nơi gia đình anh cư ngụ. Phía ngoài, xe máy lào rào. Đặc trưng của
thành phố Hồ Chí Minh là sự ồn ã triền miên của âm thanh động cơ đủhttps://thuviensach.vn
loại;
nó ù ỳ, dai dẳng như thể một dòng chảy, không dứt. Đứng trên lầu cao nhìn
xuống, xe máy đan cài xuôi ngược, hối hả giống kiến lúc vỡ tổ. Cả thành
phố ngồi trên yên xe... Câu chuyện lắm lúc gián đoạn bởi thứ âm thanh kỳ
quái mà chỉ Việt Nam mới có đó.
Đặng Bá Tiên sinh ra trong một gia đình công giáo, bố làm trùm họ, nhưng
anh lại là đảng viên Cộng sản. Một đảng viên trẻ, mười tám tuổi. Năm cuối
cuộc kháng chiến chống Pháp, anh tham gia vận tải quân lương lên Điện
Biên Phủ. Thời đó Thanh Hoá nổi tiếng bởi những chiếc xe đạp thồ. Sau
này, có người nói rằng chúng ta thắng ở lòng chảo Tây Bắc, ấy là nhờ
những chiếc xe đạp. Có lý!
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, giáo dân Miền Bắc, trong đó có giáo dân vùng
Nga Sơn (Thanh Hoá) quê anh, lũ lượt “theo Chúa vào Nam”. Mê muội,
cuồng tín, họ dắt díu, bồng bế nhau, hớt hải xuống tàu.
- Nhìn bà con giáo dân nháo nhác như gà con tìm mẹ, vừa tức, vừa thương Anh Sáu kể - Biết họ ăn phải bùa ngải, bị lừa, mà bất lực. Nhu cầu tâm linh
khi được gợi dậy cũng có sức hút như nam châm đối với vụn sắt… Hồi đó
tôi có tên trong danh sách đi du học nước ngoài. Nhưng cuối cùng, lý lịch
xuất thân trong gia đình công giáo của tôi có lẽ đã gợi mở, loé ra cái gì đó
để những người làm công tác tổ chức dầy kinh nghiệm bắt đầu có quyết
định khác. Một buổi chiều, anh Ngô Thuyền, thời ấy là bí thư Tỉnh uỷ, cho
gọi tôi lên. Đến phòng làm việc của anh, tôi nhận ra vài ba đồng chí cán bộ
cao cấp của Bộ công an. Sau những chào hỏi, các anh mật giao nhiệm vụ
cho tôi: Di cư! Trà trộn vào số giáo dân đi Nam để tính kế lâu dài. Tôi bất
ngờ, ngớ ra. Anh Ngô Thuyền nhìn tôi, nói: “Chú đừng sợ đơn độc, tổ chức
luôn luôn bên cạnh”. Tôi đâu sợ điều ấy, tôi biết tổ chức luôn ở sát mình
chứ, nhưng vẫn có cái gì đó ngỡ ngàng, bối rối. Tôi chưa lường đến tình
huống này… Vậy là, đang làm một cán bộ chống cưỡng ép di cư, đang lớn
tiếng hô hào bà con giáo dân đừng tin những lời dụ dỗ xằng bậy mà bỏ quê
hương bản quán, lại là kẻ trở mặt, chui lủi lặng lẽ ra đi... Lúc đó tôi đã có
vợ, cô ấy cũng đảng viên - Anh Sáu cười - Đảng viên nhưng lúc cưới,
chúng tôi vẫn làm lễ ở nhà thờ đó nghe... Tổ chức gợi ý, nếu cả hai vợ
chồng cùng di cư là thuận nhất. Tôi cũng nghĩ nên như vậy, ngặt nỗi, vào
thời gian ấy, vợ tôi đang mang bầu, nên đành lủi thủi một mình...
Tôi hỏi:
https://thuviensach.vn
- Chị cũng đồng ý để anh “di cư ”?
- Không đồng ý sao được, - Anh Sáu cười vui- đảng viên thì phải chấp hành
lệnh của Đảng chớ...
- Rồi anh xuống tàu?
- Từ Thanh Hoá, theo ô tô đi Hải Phòng. Từ Hải Phòng xô nhau xuống tầu
“há mồm” để ra tầu Mỹ đỗ tít ngoài khơi. Ba ngày sau đến Sài Gòn. Hàng
ngàn người nhếch nha, nhếch nhác đổ xuống cái thành phố xô bô xa lạ ấy.
Những người đón tiếp thông báo, ai có người thân khai báo để đoàn tụ; ai
không có thì lên xe. Tôi thuộc diện thân cô. Hôm sau, ô tô chở tới một khu
thuộc Châu Thành, Mỹ Tho. Tại đây, tôi phát hiện ra điều bất lợi: Có nhiều
người đến trước là dân Nga Sơn. Họ thừa biết tôi từng giữ vai trò gì. Trong
số đó có vị cha xứ, chắc chắn chưa thể quên người con trai ông trùm họ.
Một lần tôi và tổ du kích đã phục kích bắt quả tang vị cha xứ này khi lão
đang ngủ với người đàn bà goá trong nhà thờ. Lúc chúng tôi đạp cửa ập
vào, lão hoảng loạn bật dậy. Tay vơ quần áo, miệng lắp bắp điều gì như thể
cầu nguyện. Còn người đàn bà bản lĩnh hơn, để nguyên cái cơ thể ngồn
ngộn trắng lốp ấy, chị khinh khỉnh bước qua mọi người, ra ngoài. Sau này
nghĩ lại, tôi không khỏi buồn cười về sự ấu trĩ, nông nổi và tự trách mình vớ
vẩn... Cái việc riêng tư vặt vãnh ấy đâu quan trọng tới mức phải huy động
đến súng ống, du kích... Nhưng thời bấy giờ, nó vậy.
Biết khó ở lại Châu Thành, tôi liền lẩn đi nơi khác. Tôi tìm cách sang Đồng
Tâm. Nơi đây cũng đông giáo dân di cư, nhưng toàn người Phát Diệm.
Không một ai quen. Người Phát Diệm nơi đây sống bằng nghề dệt chiếu.
Mình người Nga Sơn, làm chiếu là gia truyền, nên hòa nhập rất nhanh. Tôi
làm công nuôi thân...
- Nhưng anh là cán bộ của Bến Tre...? - Tôi sốt ruột hỏi.
- Chuyện dài lắm... Chừng nửa năm sau, nghe đồn ở Bến Tre đang mộ
người đắp đê, vậy là đi. Ở Bến Tre mấy năm liền, vừa kiếm sống, vừa hoạt
động. Lúc nhận nhiệm vụ ra Bắc, tôi là thành viên của Đoàn chủ tịch mặt
trận tỉnh.
- Anh kể kỹ khúc đó nghe, anh Sáu! - Tôi nói.
https://thuviensach.vn
- Ngày ấy chị Ba Định kêu tôi lên, hỏi: “Anh trở về Bắc được không?”. Tôi
đáp: “Nếu Đảng quyết, thì tôi chấp hành”. “Vậy anh chuẩn bị vượt biển ra
ngoải, nghe. Việc quan trọng đó...”. Nhận chỉ thị rồi, tôi ra Long Hải, mua
được chiếc thuyền cánh dơi của một giáo dân miền Bắc di cư. Về Sài Gòn,
lắp thêm chiếc máy YAMHA 10 sức ngựa, rồi dong về Cồn Lợi. Anh Kiệm,
anh Nhung, anh Hai Bê ra đón. Đó là đầu tháng 5 năm 1961. Tôi tuông lên
Ba Tri (Hồi đó tỉnh uỷ đóng ở đây) để báo cáo. Anh Mười Khước rất vui,
hỏi: “Vậy mấy anh tính lúc nào lên đường?”. Tôi đáp: “Đầu tháng 6 có gió
nam, đi vào dịp ấy thuận. Với nữa cũng cần có thời gian để anh em làm
quen thuyền, thử thuyền, và sắm lưới cụ...”. Anh Mười nhất trí... Đề đạt với
Bí thư tỉnh cho thuyền ra Bắc vào đầu tháng 6 còn lý do nữa. Trong lần sắm
vai một giáo dân đi tìm người nhà từ Bến Tre ra Huế nhằm thăm dò tình
hình địch theo ý kiến chị Ba Định, tôi phát hiện ra, các đơn vị lính nguỵ
đóng ở miền trung, nơi thuyền chúng tôi sẽ đi qua, thường nhận lương vào
khoảng mồng 2 đến mồng 5. Có tiền, chúng hay la cà quán xá nhậu nhẹt,
...
TÀU KHÔNG SỐ
Tác giả: Đình Kính
Nhà xuất bản Thời Đại
http://appstore.vn
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta, để trực tiếp chi
viện vũ khí, trang bị và nhân lực cho cách mạng miền Nam, cùng với con
đường vận tải dọc Trường Sơn, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết
định mở con đường vận chuyển chiến lược trên biển Đông. Cuối năm 1961
đến năm 1975, đã có hàng trăm “tàu không số” của đoàn 759 (tức Đoàn 125
sau này) vượt biển, đưa được nhiều cán bộ, chiến sỹ, chở hàng chục ngàn
tấn vũ khí cung cấp kịp thời và có hiệu quả cho quân dân ta ở Nam Bộ, khu
6, khu 5 và nhiều địa phương khác, những nơi mà vận chuyển bằng đường
bộ khó lòng vươn tới, góp phần to lớn vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Vận chuyển vũ khí vào chiến trường bằng đường biển trong những năm
chiến tranh khốc liệt là công việc hết sức khó khăn, vô cùng gian truân và
nhiều hy sinh. Thiên nhiên khắc bạc, biển cả mênh mông, sóng to gió lớn;
kẻ thù nham hiểm lắm mưu nhiều kế, trang bị hiện đại, phong tỏa nhiều thủ
đoạn… Song với tinh thần quả cảm, táo bạo, mưu trí và sáng tạo, cán bộ,
chiến sỹ đoàn “tàu không số” đã lập nên nhiều chiến công đặc biệt suất sắc.
Với chiến công đó, đơn vị đã hai lần được Nhà nước phong tặng danh hiệu
Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Đường Hồ Chí Minh trên biển là kỳ tích có một không hai trong lịch sử
chống ngoại xâm của dân tộc, nó thể hiện nghệ thuật quân sự tài tình, sự
độc đáo và sáng tạo của chiến tranh nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tôi hoan nghênh Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển đã tổ chức
biên soạn và xuất bản cuốn sách “Huyền thoại tàu không số” nhằm ghi lại
một cách chân thực những kỷ niệm, những câu chuyện của cán bộ chiến sĩ
và nhân dân đã từng tham gia làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí trên biển
trong những năm chiến tranh. Đây là việc làm cần thiết và hữu ích, không
chỉ để người trong cuộc ôn lại kỷ niệm hào hùng của quá khứ mà còn có tác
dụng giáo dục con cháu về truyền thống đánh giặc của cha ông.
Nhân dịp cuốn sách “Huyền thoại tàu không số” ra mắt và kỷ niệm 50 năm
ngày thành lập đoàn 759 - tức đoàn 125 (23-10-1961 - 23-10-2011), tôi gửi
đến cán bộ, chiến sỹ và nhân dân từng làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi
https://thuviensach.vn
viện chiến trường bằng đường biển trong chiến tranh, các đồng chí thương
bệnh binh, các gia đình liệt sỹ của Đoàn lời thăm hỏi ân cần và những tình
cảm thắm thiết. Mong các đồng chí không ngừng phát huy truyền thống vẻ
vang trong những năm kháng chiến giải phóng dân tộc, góp phần xứng đáng
vào sự nghiệp bảo vệ đất nước hôm nay và xây dựng một nước Việt Nam
giầu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
Cám ơn nhà văn Đình Kính đã sưu tầm và viết lại những câu chuyện, những
chuyến đi một cách trung thực, cảm động
Hà Nội, ngày 21 tháng 2 năm 2011
LÊ KHẢ PHIÊU
NGUYÊN TỔNG BÍ THƯ BCH
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CHÚT DUYÊN NHỎ CỦA NGƯỜI VIẾT
Con đường vận chuyển vũ khí trên biển Đông trong những năm chiến tranh
(vẫn gọi là đường Hồ Chí Minh trên biển), mấy thập niên qua trở nên thân
thiết, gắn bó, là đề tài để tôi viết tiểu thuyết, viết truyện, viết phim tài liệu,
phim truyện và viết báo… Tôi coi đây là chút duyên nhỏ mà số phận ưu ái
định ra cho mình.
Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm ngày thành lập đoàn 759 - tức đoàn 125 sau
này (1961 - 2011), Hội truyền thống đường Hồ Chí Minh trên biển nhờ tôi
viết một cuốn sách về các sự kiện thật, những người thật nơi con đường vận
chuyển đó, theo phương cách thông qua lời kể của các nhân chứng.
Tôi hồ hởi nhận lời. Nhưng hứa rồi, vừa mừng vừa lo. Mừng vì thêm cơ
may hiểu sâu hơn về con đường và những người một thời vào sinh ra tử,
https://thuviensach.vn
làm nên huyền thoại có một không hai trong lịch sử chống ngoại xâm của
dân tộc. Nhưng lo, bởi chiến tranh qua đã gần 40 năm, đồng đội của chúng
ta ai còn, ai mất? Nếu còn, các anh sống ở đâu? Và đã mất, các anh yên
nghỉ chốn nào? Năm mươi năm là quãng thời gian chẳng phải ngắn, đủ để
thiên nhiên và con người ít ý thức mài mòn, biến dạng những gì nguyên sơ.
Đi tìm lại dấu tích về con đường vận tải chiến lược huyền thoại trên biển là
công việc chẳng mấy dễ dàng… Và cũng hiểu rằng, bốn mươi năm mới tiến
hành cái công việc mà chúng ta dư điều kiện để làm sớm hơn là quá muộn
màng, tệ bạc...
Tôi cùng đại tá Tô Hải Nam, nguyên Tổng biên tập báo Hải quân, lên
đường vào một ngày nắng gắt. Dịp này hoa phượng đang cháy rực trên phố
Hải Phòng. Chúng tôi mang theo sắc đỏ ấy cùng hương vị mấy cân chè xứ
Bắc lên máy bay, làm quà cho anh em, bạn bè.
Và chúng tôi bắt đầu lộ trình bằng cách lần theo nhưng gì cuốn lịch sử “
đoàn tàu không số” đã ghi lại…
https://thuviensach.vn
MỤC LỤC
• Nơi bắt đầu con đường
• Nhân chứng cuối cùng của chuyến đi đầu tiên
• Những người vượt biển ra Bắc
• Chuyện người đi trên tàu gỗ mang tên “Phương Đông”
• Người anh hùng của biển
• Mở bến vào khu V
• Vũ khí cho chiến dịch Bình Giã
• Tàu vào Vũng Rô
• Vỏ quýt dày đã có móng tay nhọn
• Tàu 69 - Bản anh hùng ca trên biển
• Đơn vị có tên 970
• Nỗi đau đọng lại hôm nay
• “Tàu không số” với Mậu Thân năm 1968
• Những chuyến đi trinh sát
• Tàu 69b và thuyền trưởng Phan Xã đã ra đi như thế nào?
• Người bí thư chi bộ
• Tàu hai đáy
• Những người không theo tàu ra biển
• K.15 - Đồ Sơn - Cây số 0
• Quá khứ không nói lên điều gì nếu tương lai không nói lên điều gì
https://thuviensach.vn
https://thuviensach.vn
NƠI BẮT ĐẦU CON ĐƯỜNG
“... Sau hội nghị lần thứ 15 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, theo chỉ
thị của Bộ chính trị, tháng 5 năm 1959, Tổng quân uỷ quyết định thành lập
một cơ quan nghiên cứu mở đường vận tải trên bộ để đưa lực lượng, vũ khí
chi viện cho chiến trường miền Nam. Tháng 7 năm 1959, Tổng Quân uỷ
quyết định tổ chức đường vận tải trên biển. Đây là một trong những nhiệm
vụ lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng miền
Nam. Đồng chí thượng tá Võ Bẩm, Phó cục trưởng cục Nông trường quân
đội - người nhiều năm công tác ở chiến trường miền Nam, thông thuộc
đường bộ và đường biển, được giao phụ trách cơ quan nghiên cứu này.
Sau một thời gian nghiên cứu và chuẩn bị, ngày 19 tháng 5 năm 1959, đoàn
vận tải quân sự 559 được thành lập. Lực lượng nòng cốt đầu tiên của đoàn
gồm 2 tiểu đoàn, tiểu đoàn 301 và tiểu đoàn 603.
Tiểu đoàn 301 vận tải đường bộ gồm 500 cán bộ, chiến sỹ tuyển lựa từ lữ
đoàn 305 do đại uý Chu Đăng Chữ và đại uý Nguyễn Danh chỉ huy có
nhiệm vụ mở đường bộ vào Nam.
Tiểu đoàn 603 gồm 107 cán bộ, chiến sĩ do đồng chí Hồ Văn Xá làm tiểu
đoàn trưởng, đồng chí thượng uý Lưu Đức làm chính trị viên. Tiểu đoàn
đóng quân ở thôn Thanh Khê, xã Thạch Trạch (Bố Trạch, Quảng Bình), bên
bờ sông Gianh.
Nhiệm vụ của tiểu đoàn 603 là nghiên cứu và thực hiện ý đồ của Tổng quân
uỷ Trung ương, chi viện cho chiến trường bằng đường biển. Song, để giữ bí
mật, tiểu đoàn ẩn dưới cái tên: Tập đoàn đánh cá sông Gianh.
... Cuối năm 1959, mọi sự chuẩn bị cho chuyến vượt biển đầu tiên đã xong.
Cấp trên đã chuẩn y kế hoạch. Chỉ chờ thời cơ, đó là khi có gió mùa đông
bắc tràn về. Gió mùa về, thuyền sẽ gặp nhiều thuận lợi khi xuôi gió, xuôi
sóng.
Theo chủ trương của cấp trên, chuyến thuyền đầu tiên của tiểu đoàn 603
(Tập đoàn đánh cá sông Gianh) sẽ chở 5 tấn vũ khí và thuốc men cho khu
V. Địa điểm cập bến là chân đèo Hải Vân.
https://thuviensach.vn
Sau khi đài tiếng nói Việt Nam thông báo có đợt gió mùa đông bắc lớn sẽ
tràn về, tiểu đoàn 603 quyết định thuyền sẽ nhổ neo vào đêm 27 tháng 1
năm 1960, tức 30 Tết Canh Tý. Đó là chiếc thuyền của đại đội Một. Đi trên
thuyền gồm 6 người. Đúng 18 giờ, con thuyền rời bến, đi về hướng đông
nam. Song vì gió mùa đông bắc, sóng to, con thuyền bị chìm, các thủy thủ
bị bắt...” - (Lịch sử Lữ đoàn 125 - Tức đoàn tầu Không số - Nhà xuất bản
Quân đội Nhân dân - Năm 2001).
Cuốn lịch sử chỉ viết mấy dòng sơ lược vậy. Dẫu thế, hơn chục năm trước,
tôi đã tìm đến đó, sông Gianh, nơi có chiếc thuyền đầu tiên ra đi nhằm khai
mở con đường, khai mở một phương thức vận chuyển.
Sông Gianh những ngày ấy trong và xanh đến lạ! Gió từ thượng nguồn lướt
trên mặt nước hắt lên se se. Tôi thả bộ hai bên bờ, chân lún chìm trong cát.
Tôi men theo những làng chài tanh sặc hơi biển, luồn qua những rặng phi
lao tươm tả vì gió, vì cát... Tôi tìm, tôi quan sát, gắng phát hiện chút dấu
vết, dù mù mờ, những tháng năm lịch sử xưa. Song vô vọng. Sông Gianh và
cả Quảng Bình đã khác trước. Đồng Hới như trong thần thoại vụt trở thành
một đô thị xinh xắn khoẻ khoắn. Khách sạn Hữu Nghị, Cung Văn hoá,
Công ty Xuất nhập khẩu và rất nhiều ngôi nhà bề thế khác đã khiến nơi đây
mang dáng vẻ mới. Đồng Hới trở thành nút kinh tế, du lịch của rẻo đất gió
Lào này... Chứng tích của chiến tranh đã bật rễ biến mất.
Tôi lân la trong các ngõ lưới hỏi chuyện những người có tuổi về một đơn vị
có tên Tập đoàn đánh cá Sông Gianh. Các cụ nhìn nhau, gõ lên trán, lục lại
trí nhớ, nhưng hết thẩy đều lắc đầu. Tôi lần đến Hội văn nghệ, nhờ đồng
nghiệp giúp đỡ. Các anh nhún vai. Nếu có ai đó sốt sắng, cũng chỉ là: “Ờ,
hình như có nghe nói tới... Nhưng lâu quá rồi”. Tôi đành lại ra dòng sông
cầu cứu. Cửa sông về sáng ngái ngủ, sương giăng đầy mặt nước, mông
lung, mờ đục. Chỉ những con sóng thức giấc quyện liếm vào chân vỗ về, an
ủi. Và rặng phi lao rủ rỉ như thể tiếc nuối, giãi bày!... Đâu là nơi tiểu đoàn
603 ẩn danh, ẩn tích? Và đâu nữa là vị trí chiếc thuyền gỗ mỏng mảnh lặc lè
súng đạn cùng sáu con người (do đặc trưng thể loại cuốn lịch sử không viết
được chi tiết) lặng lẽ ra đi trong mưa phùn gió lạnh đêm 30 Tết? Hơn bốn
mươi năm, lâu quá rồi, các anh đang ở đâu, đã về cõi vĩnh hằng hay vẫn tá
túc trần thế này? Thôi thì đành đưa máy ảnh hướng ra nơi con sông gặp
biển, nơi có những con thuyền vô tâm căng buồm, lách mù đi về phía mặt
https://thuviensach.vn
trời mọc, ghi lấy một khuôn hình...
Xong việc, tôi ngược lên xã Vạn Ninh, huyện Quảng Ninh, tận tít phía tây,
để tìm nghĩa trang các chiến sỹ giao thông vận tải trên bộ đã ngã xuống
trong chiến tranh, yên nghỉ. Hẳn đây là nghĩa trang duy nhất có được, chỉ
dành riêng cho những người lính giao thông vận tải xấu số. Tôi lần đến làm
gì ư? Cũng không thật rõ. Hình như có một vô thức nào đó bất chợt thoáng
qua mách bảo rằng phải làm vậy. Thế thôi. Đặt một bó hoa rừng, thắp một
nén nhang để tưởng nhớ đến các chị, các anh nằm lại nơi đây, tôi xót xa
nghĩ, giá có một chốn nào đấy như ở Vạn Ninh này để những người lính
vận tải biển đã hy sinh có đất mà cùng tụ về...
Biển mông lung quá, mà con người thì bé nhỏ. Thác rồi đành lại về với biển
thôi...
https://thuviensach.vn
NHÂN CHỨNG CUỐI CÙNG CỦA CHUYẾN ĐI
ĐẦU TIÊN
Đến Đà Nẵng, như thể linh cảm mách bảo, chưa kịp về nhà khách, tôi và Tô
Hải Nam tuông ngay đến phường Hòa Hiệp Nam, quận Liên Chiểu. Nơi đó
có một người, là nhân chứng cuối cùng của chuyến đi đầu tiên mà chúng tôi
không thể không gặp lại.
Cách đây đã lâu lắm, tình cờ tôi nghe ai đấy nhắc đến tên một trong sáu
người đi chuyến đầu tiên chở vũ khí vào miền Nam bằng đường biển từ
những năm 1960, còn sống. Tên anh là Huỳnh Ba, hiện ở dưới chân đèo Hải
Vân. Chuyện đó chìm đi cùng thời gian và sự bận bịu, bỗng trong chuyến
về Đà Nẵng công tác cách đây đã mấy năm, thông tin tơ nhện ấy được chắp
nối, đánh thức. Và tôi, dẫu chẳng mấy hy vọng, cũng quyết định lần tới đó,
lần tới Nam Ô.
Đà Nẵng năm ấy mưa nhiều. Khí hậu trở nên đỏng đảnh. Cũng tại con
người thôi. Môi trường sống đang bị phá vỡ.
Mưa tạnh, tôi vẫy chiếc xe ôm, chạy về Nam Ô.
Nam Ô là mút cùng phía Nam chân đèo Hải Vân. Trước đây vùng này nổi
tiếng về nghề làm pháo và nghề làm mắm. Pháo Nam Ô nổ giòn, khi nổ,
giấy đỏ được nhuộm bung ra rực rỡ như hoa. Mắm Nam Ô đậm, thơm ngọt,
nếm một lần, hương vị đọng mãi nơi đầu lưỡi...
Như kẻ nhàn rỗi dở hơi, tôi lân la vào từng nhà, la cà ngoài bãi biển, gợi ý,
giải thích, dò hỏi. Và trời ạ, chẳng rõ có phải do duyên phận, hay do đồng
đội nằm lại Vạn Ninh phù hộ, cuối cùng kẻ ngu ngơ này đã gặp may. Tôi đã
tìm được anh. Phải, anh Huỳnh Ba, một trong sáu thủy thủ, đêm 30 Tết năm
Canh Tý (1960), cách đây hơn 40 năm vượt biển đi về phía Nam...
Anh Huỳnh Ba quê xã Duy Hải, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam, sinh năm
1925. Gặp tôi hồi đó anh đã bước vào tuổi bảy lăm. Tóc bạc, lông mày bạc.
Tôi ngắm, và chẳng nhận ra ở con người này nét gì đặc biệt. Như nhiều ngư
dân đã có tuổi, người anh quắt hóp, khắc khổ nhưng vẫn nhanh nhẹn. Khác
chăng là e dè, ít nói. Và cũng dễ dàng nhận ra ở con người này khônghttps://thuviensach.vn
một
gợn tủa len lỏi của ý thức, rằng mình là một trong những người mở trang sử
đầu tiên về con đường vận tải đã trở thành huyền thoại.
Tự nhiên, anh ẩn khuất, hòa trộn giữa đời thường với những nhọc nhằn
bươn trải hàng ngày kiếm sống. Quá khứ như một nghĩa vụ hiển nhiên đã
qua, vậy thôi...
... Ngày ấy, đã lâu rồi, quần dài quấn ngang cổ, Huỳnh Ba lội biển tiễn đồng
đội đi tập kết. Khi con tàu chỉ còn một chấm đen nhỏ xíu, xa mờ hướng lên
phía Bắc, anh bì bõm quay lại. Đáng ra cũng đi chuyến này, nhưng phút
cuối, tổ chức cân nhắc và thấy cần anh ở lại nằm vùng. Gây dựng cơ sở ven
biển là chỉ thị huyện ủy Hòa Vang, mật giao cho anh. Dưới cái vỏ một cư
dân an phận, anh là cầu nối giữa Đảng và dân ở vùng biển này. Năm năm
sau, tháng 8 năm 1959, anh được lệnh vượt tuyến, lúc đó con gái anh mới
15 ngày tuổi. Anh và nhiều đồng chí khác nữa được đưa về Quảng Bình. Ở
đây anh nhập vào "tập đoàn đánh cá Sông Gianh".
Đêm 30 tết năm Canh Tý (1960). Mưa phùn. Gió bấc từng cơn từ biển thổi
về. Rét. Cửa sông Gianh đặc quánh, mù mịt. Sáu con người ôm chặt đồng
đội đưa tiễn, rồi lặng lẽ xuống thuyền. Con thuyền chất đầy hòm gỗ. Đó là
súng đạn, thuốc men.
- Thuyền chúng tôi do anh Nguyễn Bất đại đội trưởng đại đội Một làm
thuyền trưởng - anh Huỳnh Ba kể - anh Trần Mức làm thuyền phó, các
thành viên là Nguyễn Sanh, Huỳnh Sơn, Nguyễn Nữ và tôi. Theo giấy tờ
hợp pháp của tụi nguỵ mà tổ chức chuẩn bị, tôi có tên là Nguyễn Nữa. Sáu
anh em đều là dân khu V, hồi chống Pháp từng ở trong đội thuyền của anh
Võ Bẩm và anh hùng Nguyễn Á, chuyên bí mật chở vũ khí vào khu 6.
Nhằm che mắt địch, thường lựa lúc sóng to gió lớn để ra khơi. Lần này
cũng vậy, chúng tôi nhổ neo khi hay tin gió mùa Đông Bắc về. Đêm đầu
cho thuyền chạy thẳng ra biển quốc tế, với ý định từ đó sẽ men dần vào
chân đèo Hải Vân. Ngày hôm sau gió dữ quá, sóng chồm qua chồm tới,
thuyền có nguy cơ bị lật. Sáu anh em cố sức chèo chống nhưng không lại
với gió. Thuyền cứ dạt về phía Nam. Đã vậy lại bị gãy mất một lái. Với đà
này không rõ sẽ trôi tới đâu. Nhớ hồi 9 năm, cũng xảy ra trường hợp tương
tự, và đã có anh em mình dạt sang tận Phi Luật Tân. Đến ngày thứ ba, biết
đã lạc vô cù lao Ré (tức đảo Lý Sơn - ĐK) thuộc Quảng Ngãi, chúng tôi hơi
lo. Định cho thuyền ngược lên thì lái thứ hai gãy nốt. Gió bắt đầu lặng,
tàu
https://thuviensach.vn
tuần tra của địch và thuyền đánh cá của dân đổ ra nhiều. Loay hoay ở đây sẽ
lộ. Anh Nguyễn Bất quyết định, để giữ bí mật con đường vận chuyển trên
biển, phải phi tang hàng. Phương án này đã có trong kế hoạch...
Anh Huỳnh Ba ngừng kể, chầm chậm châm điếu thuốc, rít một hơi, mắt vẫn
hướng ra biển, nói tiếp:
- Chiều đó chúng tôi bị bắt. Tuy người và thuyền có giấy tờ hợp pháp, lại
khai rất khớp rằng đi đánh cá bị lạc, dạt vô đây, song vẫn bị chúng tách ra
giam mỗi người một nơi. Tôi bị nhốt ở Đà Nẵng, rồi chuyển vô Sài Gòn. Ở
khám Chí Hòa chẳng khai thác được gì, chúng tống qua Phú Lợi. Rồi từ
Phú Lợi đầy ra Côn Đảo. Vài năm bị giải về đất liền. Không bao lâu, lại ra
Côn Đảo. Cứ vậy, suốt 14 năm, tôi bị chuyển tới chục lần. Năm 1974 được
thả. Lần về đến Nam Ô thì vừa lúc quê hương giải phóng.
- Vậy còn năm người kia, tôi hỏi, các anh ấy quê ở đâu?
Anh Huỳnh Ba rành rẽ:
- Anh Nguyễn Bất, Nguyễn Nữ, người Duy Xuyên; anh Nguyễn Sanh quê
Tam Kỳ; Anh Huỳnh Sơn người Thăng Bình; năm anh em tôi đều quê
Quảng Nam, duy chỉ anh Trần Mức là dân Quảng Ngãi... Các anh đều đã hy
sinh ở chiến trường hoặc đã mất do bệnh tật. Sáu anh em chỉ còn lại một.
Tôi cố nén tiếng thở mạnh, không dám hỏi thêm nữa, e sẽ vô tình chạm tới
một cái gì đó sâu xa, thiêng liêng nơi anh.
Tôi ngước lên nhìn bức ảnh thượng tướng Nguyễn Chơn và anh Huỳnh Ba
tươi cười ôm nhau, treo trên vách, mới chụp gần đây, cảm được sự thú vị
của lịch sử. Cùng chung một nhiệm vụ nhưng mãi gần 40 năm sau, những
người trong cuộc mới có cơ gặp nhau. Thời đó Huỳnh Ba chỉ biết đưa vũ
khí vào chân đèo Hải Vân, còn ai ra đón, đâu rõ. Cũng khoảng thời gian đó,
tỉnh uỷ Quảng Nam nhận được tin từ miền Bắc điện vào: Chờ đón hàng ở
Hồ Chuối (đèo Hải Vân) từ đêm 30 Tết. Đồng chí Nguyễn Chơn, phụ trách
quân sự tỉnh, được cử đi làm việc ấy. Anh đến Hồ Chuối, thức ngóng ra
biển một đêm, hai đêm, không có tín hiệu. Ngóng một tuần cũng không
thấy thuyền. Ngóng một tháng, vẫn bằn bặt. Đành quay về cứ... Anh đâu
hay các thủy thủ trên tàu đã bị bắt!
https://thuviensach.vn
- Bây giờ anh sống thế nào, anh Ba? - Tôi hỏi.
Anh Huỳnh Ba cười nhẹ:
- Vậy vậy... Dân thường...
- Không có chế độ gì sao, anh Ba?
- Người ta đòi giấy chứng nhận của đơn vị cũ. Mình tham gia chở vũ khí
cho Nam Bộ kháng chiến từ những năm 1946. Đi thuyền từ Nghệ An vào
Tam Kỳ, rồi vào cực nam Nam Bộ. Từ 1949 đến 1954 chở cho Phú Yên, Bà
Rịa... Ra, vô nhiều lần. Hồi 1950, thuyền vào đến Đà Nẵng, bị lộ, cũng đã
cho thuyền chìm xuống biển rồi lội bộ ra Nghệ An. Qua hai cuộc kháng
chiến, đơn vị đã giải tán. Năm 1960, đi chuyến đầu tiên, ở giai đoạn đánh
Mỹ, bị bắt cho đến 1974...
- Còn đồng đội cũ?
- Mấy ai sống sót! Với nữa tuổi đã già, kinh tế khó khăn không thể đi lại
được... So với đồng đội, mình còn may mắn hơn...! - Ngừng thoáng chốc,
anh nói tiếp: Mấy năm qua, nhờ có thượng tướng Nguyễn Chơn tìm đến
thăm, lại có cái giấy xác nhận của ông, nhưng địa phương bảo vẫn thiếu thủ
tục chi đó, nên không nghe, chỉ cho cái giấy công nhận thương binh, mỗi
tháng được nhận hơn triệu đồng tiền ưu đãi.
Tôi nhìn Huỳnh Ba, ve áo không quân hàm, trên vai không gánh chức tước
địa vị, chỉ là DÂN và lẫn vào dân, thanh thản ngồi bập từng hơi thuốc, lơ
đãng nhìn ra biển mù sương, chợt nghĩ, tiếng là làm văn làm báo, chắc gì
mình đã thấu thế nào là NHÂN DÂN!
Muốn ở lại Nam Ô lâu nữa, chuyện trò với anh Ba lâu nữa, nhưng còn
nhiều việc phải đi, nhiều chỗ phải đến. Tôi đành chia tay. Rời căn nhà lá
tuềnh toàng dựng trên cát, tôi miên man nhiều điều. Và cứ lẩn thẩn tự vấn
rằng, liệu đã có ai đó đến thắp một nén nhang lên mộ năm chiến sỹ đi
chuyến mở đường đầu tiên? Và đã có những cấp nào để tâm lo cho thân
phận trớ trêu bởi chiến tranh của những người như anh Huỳnh Ba?
…Sau hơn chục năm, lần này có thêm Tô Hải Nam đi cùng, tôi lại đến thăm
anh. Vẫn căn nhà tuềnh toàng dựng trên cát, vẫn úi xùi chiếc bàn, chiếc ghế
https://thuviensach.vn
và đồ dùng cũ nát… Linh cảm của chúng tôi đúng. Chị Ba và các cháu cho
hay, anh Ba đã nhập viện cả tuần nay. Có lẽ vết thương ngày xưa tái phát.
Tôi nhẩm tính, năm Canh Dần này, đã cụng tuổi chín mươi, trong hoàn cảnh
của anh, trụ được vậy, đã là mừng. Chúng tôi ghi vội mấy dòng về anh theo
giấy tờ gia đình cất giữ. Sinh: 12 tháng 9 năm 1925. Nhập ngũ: 17 tháng 4
năm 1946, đơn vị T.08, D.248, vận tải thủy Liên khu Năm. Vào Đảng:
tháng 4 năm 1948. Thời gian làm liên lạc Liên khu V: 10 tháng. Thời gian
tham gia kháng chiến: 8 năm 4 tháng. Thương binh ¾. Quyết định trợ cấp
thương tật ký ngày ngày 27 tháng 10 năm 1994 (sở Lao động và Thương
binh xã hội Quảng Nam - Đà Nẵng). Và một tờ giấy xác nhận của thượng
tướng Nguyễn Chơn.
Cô cháu ngoại đưa chúng tôi đến bênh viện Hòa Khánh. Anh Huỳnh Ba
năm kia, người gầy nhỏ, mặt quắt hóp. Anh nở nụ cười vui khi hay chúng
tôi tới. Nắm bàn tay chỉ da bọc xương, tôi nghe lòng se sắt, không nỡ nhắc
lại chuyện xưa, chỉ loanh quanh hỏi bệnh tình. Anh bình thản cho rằng ở
tuổi như anh, đổ bệnh là chuyện thường. Rồi anh nói:
- Ông Nguyễn Chơn ít tuổi hơn tôi nhưng nghe đâu cũng nhiều bệnh lắm.
Mấy năm trước còn thỉnh thoảng qua lại thăm, nhưng lâu nay thấy vắng.
Chắc sức đã yếu. Ai cũng vậy, thời trai trẻ kham khổ, gian lao, nên khi có
tuổi lãnh đủ!
Tôi biết bệnh tình anh Huỳnh Ba không mấy nặng, nhưng vì không có điều
kiện kinh tế, lại chẳng một “chế độ” kèm theo nên khó chuyển lên tuyến
trên.
Chúng tôi đem băn khoăn đó thưa với các anh trong Ban chỉ huy vùng Ba,
Hải quân, các anh chăm chú nghe, hứa cố gắng giúp đỡ và sẽ báo cáo với
trên để có thể dựng cho anh Huỳnh Ba ngôi nhà tình nghĩa.
Tôi đưa ý kiến của các anh chỉ huy Vùng Ba, Hải quân vào dòng cuối phần
viết này với hy vọng tâm nguyện và tấm lòng của các anh sẽ thành sự thật.
https://thuviensach.vn
NHỮNG NGƯỜI VƯỢT BIỂN RA BẮC
“...Chuyến vượt biển đầu tiên đưa vũ khí vào khu V không thành. Đồng chí
Lưu Đức ra Hà Nội báo cáo với Quân uỷ Trung ương và Bộ quốc phòng về
chuyến đi đó. Quân uỷ Trung ương nhận định: Việc dùng thuyền gỗ, chạy
bằng buồm chở vũ khí vào chiến trường có rất nhiều khó khăn và không an
toàn. Vì vậy Bộ quốc phòng chỉ thị cho tiểu đoàn 603 tạm ngừng hoạt động
để tìm một phương thức vận chuyển mới. Trong lúc chờ đợi, số anh em tiểu
đoàn 603 được điều sang tiểu đoàn 301, dồn sức mở con đường xuyên
Trường Sơn...
...Ngày 20 tháng 12 năm 1960 tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, Tây
Ninh, mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam được thành lập. Tháng 1 năm
1961, Bộ chính trị chỉ thị: “...tích cực tiêu diệt sinh lực địch, bảo tồn và phát
triển lực lượng ta, làm tan rã chính quyền và lực lượng địch trên phạm vi
ngày càng rộng lớn... Tạo điều kiện và mọi thời cơ thuận lợi để đánh đổ
chính quyền Mỹ Diệm...”
Thực hiện chỉ thị của Bộ chính trị, nhiệm vụ vận tải chiến lược phải theo
kịp tình hình phát triển của chiến trường; nếu có điều kiện phải đi trước một
bước. Tuyến đường Trường Sơn chi viện cho miền Nam còn vài ba năm
nữa mới vươn tới miền đông Nam Bộ, còn đồng bằng Nam Bộ thì thật khó
mà vươn tới. Song vũ khí cho chiến trường Nam Bộ đang là đòi hỏi cấp
bách có tính sống còn đối với phong trào cách mạng ở đây. Tiếp tế cho Nam
Bộ, vào thời điểm này, không còn con đường nào khác hơn là con đường
biển. Con đường chi viện trên bộ hiện tại mới tới khu V, song do sử dụng
phương thức vận tải thô sơ nên còn hết sức gian nan, hiệu quả không lớn.
Mỗi chiến sỹ, giỏi cũng chỉ gùi được 20 kg hàng. Muốn chở 10 tấn hàng,
cần có 500 người, ấy là chưa kể ốm đau, địch đánh phá và người phục vụ
cho 500 người gùi hàng trên, và tổn thất do nhiều nguyên nhân khác. Vậy
100 tấn hàng, 1000 tấn hàng và hàng trăm ngàn tấn hàng cho chiến trường
cần bao nhiêu người và phải làm trong bao năm? Nếu thông con đường
biển, 100 tấn vũ khí, chỉ một con tầu và 15 thủy thủ là trong một tuần, hàng
có thể tới cực nam Nam Bộ. Đó là bài tính để tạo quyết tâm.
https://thuviensach.vn
Trong khi chờ đợi một phương thức vận chuyển vũ khí từ miền Bắc đi bằng
đường biển vào miền Nam, Trung ương Đảng chỉ thị cho các tỉnh Nam Bộ
chuẩn bị bến bãi và cho thuyền ra miền Bắc vừa thăm dò, mở đường nghiên
cứu phương tiện vận chuyển trên biển và báo cáo tình hình, nếu có điều
kiện thì chở vũ khí về.
Chỉ thị của Trung ương Đảng phù hợp với lòng mong mỏi của các địa
phương, do vậy trong một thời gian ngắn, các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Bạc
Liêu, Bà Rịa đã gấp rút chuẩn bị, tổ chức các đội tầu, mua sắm thuyền lưới
và chọn người để lên đường, vượt biển ra Bắc...”(Lịch sử lữ đoàn 125 - tức
đoàn tầu Không số-- Nhà xuất bản Quân đội nhân dân - Năm 2001).
Chuyện của anh Sáu Giáo và anh Sáu Đức.
Nhận được chỉ thị của Trung ương, tỉnh uỷ Bến Tre, quê hương phong trào
đồng khởi, đã giao cho anh Nguyễn Văn Khước (Năm Chung hay còn gọi là
Mười Khước) bí thư tỉnh uỷ và chị Nguyễn Thị Định, người đã vượt biển ra
Bắc xin vũ khí từ năm 1946, lo tổ chức chuyến đi. Trong thời gian ngắn,
Bến Tre tổ chức được hai đội tầu.
Đội tầu thứ nhất do anh Sáu Giáo (tức Đặng Bá Tiên) làm đội trưởng; anh
Nguyễn Văn Kiệm (Năm Tiến), bí thư chi bộ. Các thành viên có: Huỳnh
Văn Mai (tức Nguyễn Văn Giới, tức Mai Đen), Đặng Văn Bê (Hai Thọ), Lê
Văn Nhung (Hai Hùng), và Nguyễn Văn Đức (Sáu Đức).
Đội tầu thứ hai do anh Lê Công Cẩn (Năm Công) phụ trách, các thủy thủ
gồm: Nguyễn Văn Hớn (Năm Thanh), Nguyễn Văn Hải (Huỳnh Phước Hải,
Tức Sáu Hải), Văn Công Cưỡng, Bùi Văn Ấn (Năm Thăng), Nguyễn Văn
Luông (Hai Sơn), Huỳnh Văn Tiến (tức Huỳnh Văn Mười, tức Mười Tiến).
Có lẽ nhờ cái duyên với con đường vận chuyển chở vũ khí trên biển nên
cách đây đã chục năm, tôi may mắn gặp được anh Đặng Bá Tiên (Tức Sáu
Giáo), người phụ trách đội thuyền thứ nhất của Bến Tre đã vượt biển ra Bắc
năm 1961. Anh Sáu Giáo nhỏ người, sức khoẻ không mấy tốt, nhưng trí
nhớ chưa hề cùn mòn.
Tôi và anh ngồi nói chuyện trong ngôi nhà số 272 ở đường Minh Phụng,
quận 5, nơi gia đình anh cư ngụ. Phía ngoài, xe máy lào rào. Đặc trưng của
thành phố Hồ Chí Minh là sự ồn ã triền miên của âm thanh động cơ đủhttps://thuviensach.vn
loại;
nó ù ỳ, dai dẳng như thể một dòng chảy, không dứt. Đứng trên lầu cao nhìn
xuống, xe máy đan cài xuôi ngược, hối hả giống kiến lúc vỡ tổ. Cả thành
phố ngồi trên yên xe... Câu chuyện lắm lúc gián đoạn bởi thứ âm thanh kỳ
quái mà chỉ Việt Nam mới có đó.
Đặng Bá Tiên sinh ra trong một gia đình công giáo, bố làm trùm họ, nhưng
anh lại là đảng viên Cộng sản. Một đảng viên trẻ, mười tám tuổi. Năm cuối
cuộc kháng chiến chống Pháp, anh tham gia vận tải quân lương lên Điện
Biên Phủ. Thời đó Thanh Hoá nổi tiếng bởi những chiếc xe đạp thồ. Sau
này, có người nói rằng chúng ta thắng ở lòng chảo Tây Bắc, ấy là nhờ
những chiếc xe đạp. Có lý!
Sau hiệp định Giơ-ne-vơ, giáo dân Miền Bắc, trong đó có giáo dân vùng
Nga Sơn (Thanh Hoá) quê anh, lũ lượt “theo Chúa vào Nam”. Mê muội,
cuồng tín, họ dắt díu, bồng bế nhau, hớt hải xuống tàu.
- Nhìn bà con giáo dân nháo nhác như gà con tìm mẹ, vừa tức, vừa thương Anh Sáu kể - Biết họ ăn phải bùa ngải, bị lừa, mà bất lực. Nhu cầu tâm linh
khi được gợi dậy cũng có sức hút như nam châm đối với vụn sắt… Hồi đó
tôi có tên trong danh sách đi du học nước ngoài. Nhưng cuối cùng, lý lịch
xuất thân trong gia đình công giáo của tôi có lẽ đã gợi mở, loé ra cái gì đó
để những người làm công tác tổ chức dầy kinh nghiệm bắt đầu có quyết
định khác. Một buổi chiều, anh Ngô Thuyền, thời ấy là bí thư Tỉnh uỷ, cho
gọi tôi lên. Đến phòng làm việc của anh, tôi nhận ra vài ba đồng chí cán bộ
cao cấp của Bộ công an. Sau những chào hỏi, các anh mật giao nhiệm vụ
cho tôi: Di cư! Trà trộn vào số giáo dân đi Nam để tính kế lâu dài. Tôi bất
ngờ, ngớ ra. Anh Ngô Thuyền nhìn tôi, nói: “Chú đừng sợ đơn độc, tổ chức
luôn luôn bên cạnh”. Tôi đâu sợ điều ấy, tôi biết tổ chức luôn ở sát mình
chứ, nhưng vẫn có cái gì đó ngỡ ngàng, bối rối. Tôi chưa lường đến tình
huống này… Vậy là, đang làm một cán bộ chống cưỡng ép di cư, đang lớn
tiếng hô hào bà con giáo dân đừng tin những lời dụ dỗ xằng bậy mà bỏ quê
hương bản quán, lại là kẻ trở mặt, chui lủi lặng lẽ ra đi... Lúc đó tôi đã có
vợ, cô ấy cũng đảng viên - Anh Sáu cười - Đảng viên nhưng lúc cưới,
chúng tôi vẫn làm lễ ở nhà thờ đó nghe... Tổ chức gợi ý, nếu cả hai vợ
chồng cùng di cư là thuận nhất. Tôi cũng nghĩ nên như vậy, ngặt nỗi, vào
thời gian ấy, vợ tôi đang mang bầu, nên đành lủi thủi một mình...
Tôi hỏi:
https://thuviensach.vn
- Chị cũng đồng ý để anh “di cư ”?
- Không đồng ý sao được, - Anh Sáu cười vui- đảng viên thì phải chấp hành
lệnh của Đảng chớ...
- Rồi anh xuống tàu?
- Từ Thanh Hoá, theo ô tô đi Hải Phòng. Từ Hải Phòng xô nhau xuống tầu
“há mồm” để ra tầu Mỹ đỗ tít ngoài khơi. Ba ngày sau đến Sài Gòn. Hàng
ngàn người nhếch nha, nhếch nhác đổ xuống cái thành phố xô bô xa lạ ấy.
Những người đón tiếp thông báo, ai có người thân khai báo để đoàn tụ; ai
không có thì lên xe. Tôi thuộc diện thân cô. Hôm sau, ô tô chở tới một khu
thuộc Châu Thành, Mỹ Tho. Tại đây, tôi phát hiện ra điều bất lợi: Có nhiều
người đến trước là dân Nga Sơn. Họ thừa biết tôi từng giữ vai trò gì. Trong
số đó có vị cha xứ, chắc chắn chưa thể quên người con trai ông trùm họ.
Một lần tôi và tổ du kích đã phục kích bắt quả tang vị cha xứ này khi lão
đang ngủ với người đàn bà goá trong nhà thờ. Lúc chúng tôi đạp cửa ập
vào, lão hoảng loạn bật dậy. Tay vơ quần áo, miệng lắp bắp điều gì như thể
cầu nguyện. Còn người đàn bà bản lĩnh hơn, để nguyên cái cơ thể ngồn
ngộn trắng lốp ấy, chị khinh khỉnh bước qua mọi người, ra ngoài. Sau này
nghĩ lại, tôi không khỏi buồn cười về sự ấu trĩ, nông nổi và tự trách mình vớ
vẩn... Cái việc riêng tư vặt vãnh ấy đâu quan trọng tới mức phải huy động
đến súng ống, du kích... Nhưng thời bấy giờ, nó vậy.
Biết khó ở lại Châu Thành, tôi liền lẩn đi nơi khác. Tôi tìm cách sang Đồng
Tâm. Nơi đây cũng đông giáo dân di cư, nhưng toàn người Phát Diệm.
Không một ai quen. Người Phát Diệm nơi đây sống bằng nghề dệt chiếu.
Mình người Nga Sơn, làm chiếu là gia truyền, nên hòa nhập rất nhanh. Tôi
làm công nuôi thân...
- Nhưng anh là cán bộ của Bến Tre...? - Tôi sốt ruột hỏi.
- Chuyện dài lắm... Chừng nửa năm sau, nghe đồn ở Bến Tre đang mộ
người đắp đê, vậy là đi. Ở Bến Tre mấy năm liền, vừa kiếm sống, vừa hoạt
động. Lúc nhận nhiệm vụ ra Bắc, tôi là thành viên của Đoàn chủ tịch mặt
trận tỉnh.
- Anh kể kỹ khúc đó nghe, anh Sáu! - Tôi nói.
https://thuviensach.vn
- Ngày ấy chị Ba Định kêu tôi lên, hỏi: “Anh trở về Bắc được không?”. Tôi
đáp: “Nếu Đảng quyết, thì tôi chấp hành”. “Vậy anh chuẩn bị vượt biển ra
ngoải, nghe. Việc quan trọng đó...”. Nhận chỉ thị rồi, tôi ra Long Hải, mua
được chiếc thuyền cánh dơi của một giáo dân miền Bắc di cư. Về Sài Gòn,
lắp thêm chiếc máy YAMHA 10 sức ngựa, rồi dong về Cồn Lợi. Anh Kiệm,
anh Nhung, anh Hai Bê ra đón. Đó là đầu tháng 5 năm 1961. Tôi tuông lên
Ba Tri (Hồi đó tỉnh uỷ đóng ở đây) để báo cáo. Anh Mười Khước rất vui,
hỏi: “Vậy mấy anh tính lúc nào lên đường?”. Tôi đáp: “Đầu tháng 6 có gió
nam, đi vào dịp ấy thuận. Với nữa cũng cần có thời gian để anh em làm
quen thuyền, thử thuyền, và sắm lưới cụ...”. Anh Mười nhất trí... Đề đạt với
Bí thư tỉnh cho thuyền ra Bắc vào đầu tháng 6 còn lý do nữa. Trong lần sắm
vai một giáo dân đi tìm người nhà từ Bến Tre ra Huế nhằm thăm dò tình
hình địch theo ý kiến chị Ba Định, tôi phát hiện ra, các đơn vị lính nguỵ
đóng ở miền trung, nơi thuyền chúng tôi sẽ đi qua, thường nhận lương vào
khoảng mồng 2 đến mồng 5. Có tiền, chúng hay la cà quán xá nhậu nhẹt,
...
 





