BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg

    Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học

    Đề thi học kì 1

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phú Thị Hà
    Ngày gửi: 19h:33' 07-11-2023
    Dung lượng: 25.0 KB
    Số lượt tải: 50
    Số lượt thích: 0 người
    Ngày soạn: 5/11/2023
    Ngày dạy: 6/11/2023
    TIẾT 48,49.
    KIỂM TRA GIỮA KÌ
    I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
    1. Năng lực - Hệ thống được KT cơ bản về cả 3 phân môn
    - Có kĩ năng đọc hiểu, trình bày, diễn đạt trong tạo lập văn bản
    - Bồi dưỡng tính chăm chỉ, trung thực, trách nhiệm với bản thân
    2. Phẩm chất - Biết tự chủ và tự học; giải quyết vấn đề và sáng tạo
    - Có ngôn ngữ và NL văn học (rèn kĩ năng đọc, viết; cảm thụ văn học)
    II. TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
    1.Ổn định
    2.Bài cũ: Không kiểm tra
    3.Bài mới.
    ĐỀ KIỂM TRA
    I. ĐỌC – HIỂU (2,0 ĐIỂM)
    Đọc đoạn văn sau và thực hiện nhiệm vụ nêu bên dưới.
    Mỗi người trên thế giới đều là những người khách bộ hành, mỗi ngày đều
    bước đi một cách chủ động hoặc bị động trên con đường mình đã chọn…..
    Cuộc đời không chỉ là con đường đi khó, đôi khi chúng ta còn gặp phải
    những hố sâu do người khác tạo ra, gặp phải sự tấn công của thú dữ, mưa bão và
    tuyết lạnh. Bất luận gian khổ thế nào, chỉ cần chúng ta còn sống, chúng ta còn
    phải đối mặt. Sống tức là thực hiện một cuộc hành trình không thể trì hoãn….
    Trước muôn vàn lối rẽ, không ai có được bản đồ trong tay, cũng không
    phải ai cũng có kim chỉ nam dẫn đường, tất cả đều phải dựa vào phán đoán và
    lựa chọn của bản thân. Nếu bạn rẽ nhầm lối, khoảng cách với xuất phát điểm sẽ
    bị rút ngắn ngược lại, nếu rẽ đúng, con đường phía trước sẽ bằng phẳng, rộng
    rãi.
    (Trích Bí quyết thành công của Bill Gates, Khẩm Sài Nhân, NXB Hồng
    Đức)
    Câu 1(0.5điểm). Xác định phương thức biểu đạt của đoạn văn bản trên.
    Câu 2(0,5điểm). Chỉ ra hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu:
    Cuộc đời không chỉ là con đường đi khó, đôi khi chúng ta còn gặp phải những
    hố sâu do người khác tạo ra, gặp phải sự tấn công của thú dữ, mưa bão và tuyết
    lạnh.
    Câu 3(0,5điểm). Em hiểu như thế nào về câu nói: Nếu bạn rẽ nhầm lối, khoảng
    cách với xuất phát điểm sẽ bị rút ngắn ngược lại, nếu rẽ đúng, con đường phía
    trước sẽ bằng phẳng, rộng rãi.
    Câu 4(0,5điểm). Thông điệp nào trong đoạn trích có ý nghĩa nhất đối với em?

    II. LÀM VĂN (8,0 ĐIỂM)
    Câu 1: (3,0 điểm)
    Hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ước mơ
    trong cuộc sống.
    Câu 2: (5,0 điểm)
    Cảm nhận vẻ đẹp của Thuý Kiều trong đoạn thơ sau:
    Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
    Tin sương luống những rày trông mai chờ
    Bên trời góc bể bơ vơ
    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai
    Xót người tựa cửa hôm mai
    Quạt nồng ấp lạnh biết ai đó giờ
    Sân Lai cách mấy nắng mưa
    Có khi gốc tử đã vừa người ôm
    (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du – Ngữ văn 9 Tập 1)
    ĐÁP ÁN .
    I.
    ĐỌC HIỂU
    1. Phương thức nghị luận
    2. Các biện pháp tu từ được sử dụng trong câu là:
    + So sánh: Cuộc đời - con đường đi khó
    + Ẩn dụ: những hố sâu do người khác tạo ra/ sự tấn công của thú dữ, mưa bão
    và tuyết lạnh - tượng trưng cho những cạm bẫy do con người tạo ra hoặc khó
    khăn do thiên nhiên gây ra.
    + Liệt kê những cạm bẫy, những khó khăn trên đường đời: những hố sâu do
    người khác tạo ra/ sự tấn công của thú dữ/ mưa bão/ tuyết lạnh
    - Tác dụng: Tạo nên cách diễn đạt hình ảnh, ấn tượng, gợi nhiều suy ngẫm về
    những khó khăn, thách thức trong cuộc sống.
    Lưu ý: Cho điểm học sinh trả lời đúng một trong những biện pháp tu từ
    trên.
    3. Câu nói khẳng định: Trong cuộc đời nếu ta chọn sai hướng thì con đường đi
    đến thành công sẽ rất dài, rất nhiều gian nan, thử thách, ngược lại, nếu có
    những quyết định, lựa chọn đúng đắn sẽ mang đến những kết quả tốt đẹp,
    nhanh chóng đi đến thành công.
    4. Hs có thể rút ra những thông điệp khác nhau, nhưng cần phù hợp với nội
    dung đoạn văn bản. Có thể rút ra một trong các thông điệp sau:
    - Cuộc sống có muôn vàn khó khăn thử thách, chúng ta không thể chọn cách
    trốn tránh mãi được mà cần phải đối mặt, đương đầu để vượt qua.
    - Trước muôn vàn ngã rẽ của cuộc đời, chúng ta cần suy nghĩ chín chắn, thận
    trọng, trách nhiệm và quyết đoán để có những lựa chọn đúng đắn.
    II. LÀM VĂN.

    Câu 1: Hãy viết một bài văn trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ước
    mơ trong cuộc sống.
    a.Đảm bảo cấu trúc: Học sinh viết đúng hình thức bài văn và đảm bảo dung
    lượng , tránh viết quá ngắn hoặc quá dài so với quy định.
    b.Nêu vấn đề nghị luận: Vai trò của ước mơ trong cuộc sống với mỗi người.
    c. Triển khai vấn đề:
    a. Mở bài:
    - Cách 1: Con người chúng ta từ khi sinh ra cho tới lúc trưởng thành, ai cũng có
    một ước mơ, hoài bão của riêng mình.
    - Cách 2: Dân gian ta thường nói “Sống là phải có ước mơ”…
    b. Thân bài:
    * Giải thích:
    Ước mơ chính là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt
    được trong thời gian ngắn hoặc dải. Ước mơ chính là động lực để mỗi chúng ta
    vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ.
    * Bàn luận chứng minh:
    - Vai trò và ý nghĩa của ước mơ trong cuộc sống:
    + Ước mơ chính là ngọn đuốc soi sáng trong tim mỗi chúng ta nó hướng chúng
    ta tới những điều tốt đẹp.
    + Ước mơ cũng chính là mong muốn được cống hiến sức lực của mình cho xã
    hội và khi chúng ta đạt được ước mơ cũng là lúc chúng ta được thừa nhận năng
    lực của mình.
    - Phân tích được con người đi tới ước mơ có dễ dàng không?
    + Con đường dẫn tới ước mơ cũng vô cùng khó khăn, không phải lúc nào cũng
    dễ dàng đạt được, nhưng với những người kiên trì, bền chí, thì ước mơ sẽ giúp
    cho bạn định hướng cho tương lai của mình một cách tốt đẹp nhất.
    * Dẫn chứng cụ thể:
    - Nó là vì sao sáng soi những lối ta đi, khi đi qua những khó khăn nhìn thấy ước
    mơ của mình lấp lánh ở phía xa xa, bạn sẽ nỗ lực bước tiếp.
    - Những ước mơ sẽ đưa con người đi tới những tương lai, không quản ngại
    những chông gai, nghiệt ngã, những khó khăn trên con đường đi của mình.
    - Cuộc sống mà không có ước mơ thì sẽ như thế nào?
    + Ước mơ là điều mà ai cũng nên có và cần có trong cuộc sống bởi nếu không
    có ước mơ cuộc sống của bạn sẽ mất phương hướng vô định. Dẫn chứng cụ thể.
    + Không có ước mơ bạn sẽ không xác định được mục tiêu sống của mình là gì.
    Chính vì không xác định được phương hướng sẽ dẫn tới bạn sẽ sống hoài sống
    phí, và trở thành người tụt hậu bị bạn bè, xã hội bỏ lại phía sau.
    * Bàn luận mở rộng: Phê phán những người không có khát vọng, ước mơ,..
    * Bài học nhận thức và hành động: Là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường
    chúng ta cần phải có ước mơ mục đích sống cho riêng mình.
    c. Kết bài:
    - Để đạt được ước mơ chúng ta cần ra sức rèn luyện học tập, tu dưỡng đạo đức
    để chuẩn bị những tư trang cần thiết cho con đường đi tới ước mơ của mình.
    *Liên hệ bản thân: bài học nhận thức và hành động.

    d. Chính tả, dùng từ, đặt câu : Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng từ đặt câu
    . Sáng tạo: Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn
    đề nghị luận
    Câu 2: Viết bài văn:
    a. Đảm bảo cấu trúc của một bài văn nghị luận
    b. Xác định đúng vấn đề nghị luận:
    c. Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm;
    1. Mở Bài:
    - Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
     Nguyễn Du là một đại thi hào của dân tộc, một danh nhân văn hoá thế
    giới,ông có rất nhiều tác phẩm để lại nhiều tiếng vang với ngồi bút thấm
    đẫm tinh thần nhân đạo.
     Tác phẩm “Truyện Kiều” là một tuyệt phẩm của tác giả Nguyễn Du.
     Đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” là một đoạn trích hay nó đã lột tả
    được tâm trạng của Thúy Kiều.
    - Giới thiệu 8 câu giữa: Nỗi nhớ của Kiều khi đứng trước lầu Ngưng Bích
    2. Thân bài
    * Khái quát về Thúy Kiều và hoàn cảnh đưa đẩy nàng đến như bây giờ
    * Khái quát về đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”: Sau khi biết mình bị lừa
    bán vào chốn lầu xanh Kiều uất ức định tự vẫn. Tú bà vì sợ mất tiền nên đã hứa
    khi nào Kiều bình phục sẽ gả nàng vào nơi tử tế, nhưng lại đưa nàng ra lầu
    Ngưng bích, thực chất là giam lỏng nàng. Thân gái một mình nơi đất khách quê
    người Kiều sống một mình ở lầu ngưng bích với tâm trạng cô đơn buồn tủi
    * Khái quát nội dung tám câu thơ: Là nỗi nhớ thương của Kiều về người yêu
    và cha mẹ
    * Nỗi nhớ về người yêu:
    “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
    Tin sương luống những rày trông mai chờ
    Bên trời góc bể bơ vơ
    Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”
     Chữ "tưởng": hồ tưởng, nhớ lại.
     Nhớ lại đêm thề nguyền dưới trăng: “chén đồng” – chén rượu thề nguyền,
    đồng lòng mà Thúy Kiều và Kim Trọng đã uống dưới ánh trăng.
     Nhớ về Kim Trọng nên đau đớn, chàng không hề hay biết Kiều đã bán
    mình chuộc cha mà vẫn đang mong chờ tin tức và Kiều cảm thấy có lỗi
     Động từ “gột rửa”: diễn tả tấm lòng thủy chung, mối tình đầu đẹp đẽ không
    thể gột rửa được.
    -> Nỗi nhớ người yêu da diết.
    -> tâm trạng của Thúy Kiều khi nhớ về Kim Trọng mối tình đầu của nàng trong
    sự ê chề, bẽ bàng, tủi nhục
    * Nỗi nhớ về cha mẹ
    “Xót người tựa cửa hôm mai
    Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ

    Sân Lai cách mấy nắng mưa
    Có khi gốc tử đã vừa người ôm"
     Thành ngữ “Quạt nồng ấp lạnh” điển cổ ” sân lai” ” gốc tử” đều nói lên
    tâm trạng nhớ thương tấm lòng hiếu thảo của Kiều.
     “Có khi gốc tử đã vừa người ôm” nghĩa là cha mẹ mỗi ngày thêm một già
    yếu nàng thì chẳng thể nào chăm sóc.
     Cụm từ” cách mấy nắng mưa” vừa nói được thời gian xa cách qua bao mùa
    mưa nắng vừa nói lên sự tàn phá của tự nhiên, của nắng mưa đối với con
    người và cảnh vật
    -> Kiều là một con người hiếu thảo.
    * Kiều nhớ đến người yêu trước khi nhớ đến cha mẹ
     Khi đặt chung giữa hai chữ tình và hiếu, Kiều đã tạm yên với chữ hiếu bởi
    khi bán mình chuộc cha, Kiều đã phần nào đền đáp được công ơn sinh
    thành. Còn với Kim Trọng, trước khi về Liêu Dương chịu tang chú, chàng
    đã kỳ vọng rất nhiều vào Kiều. Nhưng giờ đây, tấm thân của Kiều đã hoen
    ố, nên nàng càng ân hận và day dứt hơn.
     Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật tâm lí.
    -> Thể hiện sự tinh tế trong ngòi bút miêu tả tâm lí của Nguyễn Du.
    * Đánh giá: Nghệ thuật:
     Ngôn ngữ độc thoại nội tâm.
     Hình ảnh, từ ngữ tinh tế.
     Nội dung: Nỗi nhớ…. Lòng vị tha đức hi sinh…
     Thái độ trân trọng ngợi ca…
    3. Kết bài
     Tổng kết nội dung.
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN VIỆT - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !