BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg

    Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học

    Đề thi chọn HSG

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Duy Phong
    Ngày gửi: 08h:28' 08-05-2024
    Dung lượng: 156.9 KB
    Số lượt tải: 154
    Số lượt thích: 0 người
    BỘ ĐỀ THI HỌC SINH GIỎI NGỮ VĂN 7 NĂM 2022-2023
    ĐỀ SỐ 1
    Câu 1 (4,0 điểm).
    Câu chuyện ốc sên
    Ốc sên con ngày nọ hỏi mẹ:
    - Mẹ ơi! Tại sao chúng ta từ khi sinh ra phải đeo cái bình vừa nặng vừa cứng trên lưng như thế? Thật
    mệt chết đi được!
    - Vì cơ thể chúng ta không có xương để chống đỡ, chỉ có thể bò, mà bò cũng không nhanh - Ốc sên mẹ
    nói.
    - Chị sâu róm không có xương cũng bò chẳng nhanh, tại sao chị ấy không đeo cái bình vừa nặng vừa
    cứng đó?
    - Vì chị sâu róm sẽ biến thành bướm, bầu trời sẽ bảo vệ chị ấy.
    - Nhưng em giun đất cũng không có xương, cũng bò chẳng nhanh, cũng không biến hóa được, tại sao em
    ấy không đeo cái bình vừa nặng vừa cứng đó?
    - Vì em giun đất sẽ chui xuống đất, lòng đất sẽ bảo vệ em ấy.
    Ốc sên con bật khóc, nói:
    - Chúng ta thật đáng thương, bầu trời không bảo vệ chúng ta, lòng đất cũng không che chở chúng ta.
    - Vì vậy chúng ta có cái bình - Ốc sên mẹ an ủi con. Chúng ta không dựa vào trời, cũng chẳng dựa vào
    đất, chúng ta dựa vào chính bản thân chúng ta.
    (Theo: Quà tặng cuộc sống, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh)
    Suy nghĩ của em về bài học sâu sắc được rút ra từ câu chuyện trên?
    Câu 2 (6,0 điểm). Nhà thơ Bằng Việt cho rằng: “Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc”.
    Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Dựa vào đoạn thơ trích trong bài “Dạ khúc cho vầng trăng” (Duy
    Thông) em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?
    Trăng non ngoài cửa sổ
    Trăng thấp thoáng cành cây
    Mảnh mai như lá lúa
    Tìm con ngoài của sổ
    Thổi nhẹ thôi là bay
    Cửa nhà mình bé quá
    Con ơi ngủ cho say
    Trăng lặn trước mọi nhà
    Để trăng thành chiếc lược
    Vai mẹ thành võng đưa
    Chải nhẹ lên mái tóc
    Theo con vào giấc ngủ
    Để trăng thành lưỡi cày
    Trăng thành con thuyền nhỏ
    Rạch bầu trời khuya nay
    Đến bến bờ tình yêu…

    ( Trích “ Dạ khúc cho vầng trăng” - Duy Thông)
    * Chú thích: Vũ Duy Thông (1944-2021), quê Phúc Yên, Vĩnh Phúc, tốt nghiệp khoa Văn, Đại học
    Tổng hợp Hà Nội, rồi làm báo, từng là biên tập viên, phó phòng, uỷ viên biên tập Bản tin trong nước của
    Thông tấn xã Việt Nam. Ông từng là Tổng biên tập tạp chí Diễn đàn Văn nghệ dù chỉ trong một thời
    gian ngắn. Ông là nhà thơ, nhà báo sắc sảo, một thi sỹ tài hoa và yêu thương tha thiết với cuộc đời.
    Tiếng thơ của ông cất lên từ cuộc sống chiến đấu nóng bỏng của quân và dân ta ở tuyến lửa chống Mỹ.
    Ông được đánh giá là nhà thơ nổi tiếng của thế hệ các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ.
    Họ và tên thí sinh: .......................................................Số báo danh:................
    II. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
    Câu 1 (4,0 điểm)
    Nội dung
    Điểm
    1. Yêu cầu kỹ năng:
    1

    - Biết cách viết bài văn nghị luận xã hội.
    - Bài viết có bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục.
    - Văn viết mạch lạc, sáng tạo, lời văn trong sáng, không mắc lỗi chính tả, dùng từ đặt câu.
    2. Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo
    các ý cơ bản sau:
    a. Mở bài
    - Dẫn dắt vấn đề...
    - Nêu được vấn đề nghị luận: trân trọng những gì mình có, không than vãn số phận; tự
    lập, biết dựa vào chính mình để nỗ lực trong cuộc sống…
    b. Thân bài
    *. Tóm tắt và nêu ý nghĩa câu chuyện:
    - Câu chuyện kể về cuộc trò chuyện của hai mẹ con Ốc sên. Ốc sên con luôn than vãn
    mình kém may mắn phải mang cái bình nặng, còn giun đất và sâu róm luôn được chở che,
    may mắn….(0,25 điểm)
    - Câu chuyện sâu sắc nhắn nhủ bài học: hãy trân trọng những gì mình có, không than vãn
    số phận; tự lập biết dựa vào chính mình để nỗ lực trong cuộc sống…(0,25 điểm)
    *. Bàn luận vấn đề
    - LĐ1: Vì sao mỗi người cần biết trân trọng những gì mình có, không nên than vãn số
    phận?
    + Khi biết trân trọng giá trị bản thân sẽ giúp chúng ta nhận ra điểm mạnh, điểm yếu, để có
    hướng khắc phục điểm yếu, phát huy điểm mạnh, hoàn thiện bản thân... (0,25 điểm)
    + Biết trân trọng những gì mình có, không than vãn số phận giúp con người sống tự tin,
    lạc quan, yêu đời, biết sống hòa đồng với mọi người…(0,25 điểm)
    - LĐ1: Vì sao mỗi người cần sống tự lập, biết dựa chính mình
    + Vì khi biết dựa vào chính mình sẽ giúp ta tự tin vào năng lực của bản thân, vững vàng
    trước mọi tình huống của cuộc sống, đặc biệt giúp mỗi người bản lĩnh chinh phục thử
    thách đạt được thành công... (0,5 điểm)
    + Dựa vào chính mình giúp bồi đắp thêm nhiều phẩm chất quý: dũng cảm, trách nhiệm,
    tự chủ,... -> giúp con người trưởng thành khẳng định giá trị bản thân.... (0,25 điểm)
    + Người biết sống tự lập, dựa vào chính mình sẽ luôn được mọi người quý trọng, gắn kết
    các mối quan hệ trở nên bền chặt. Từ đó góp phần xây dựng xã hội ngày càng phát triển,
    vững mạnh... (0,25 điểm)
    - HS lấy dẫn chứng phù hợp làm sáng tỏ vấn đề nghị luận... (0,5 điểm)
    *. Phê phán mở rộng
    - Phê phán những người sống dựa dẫm, phụ thuộc vào hoàn cảnh, không nỗ lực, phấn
    đấu, sống bi quan… (0,25 điểm)
    - Sống tự lập dựa vào sức mình, tuy nhiên trong cuộc sống cần biết hợp tác, đoàn kết
    tương trợ với mọi người... (0,25 điểm)
    *. Bài học nhận thức và hành động
    - Dựa vào chính mình để sống tích cực vượt qua mọi khó khăn, để sáng tạo và phát
    triển…
    - Không ngừng trau dồi kiến
    thức, kĩ năng để hoàn thiện bản thân...
    - Đấu tranh với biểu hiện của lối sống dựa dẫm, phụ thuộc, thiếu tự tin...
    c. Kết bài
    - Khẳng định, khái quát lại vấn đề.
    - Liên hệ bản thân.
    2

    4,0
    0,25

    0,5

    0,5

    1,0

    0,5
    0,5

    0,5

    0,25

    Câu 2 (6,0 điểm)
    Nội dung

    Điểm

    1.Yêu cầu về kỹ năng:
    + Hiểu đúng yêu cầu của đề, có kỹ năng làm bài nghị luận văn học. biết kết hợp nhuần
    nhuyễn các phép lập luận giải thích, chứng minh đã học.
    + Có kỹ năng xây dựng luận điểm đúng đắn, sáng tỏ, dẫn chứng chọn lọc, lý lẽ thuyết
    phục, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt.
    + Văn viết trong sáng, có cảm xúc, thể hiện được năng lực cảm nhận sâu sắc.
    3.Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách nhưng cần đảm bảo
    các ý cơ bản sau:
    a. Mở bài:
    0,5
    - Dẫn dắt vấn đề nghị luận...
    - Trích dẫn ý kiến của nhà thơ Bằng Việt...
    b. Thân bài:
    0,5
    b.1. Giải thích ý kiến:
    - Thơ: Là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống nghiêng về sự thể hiện tình
    cảm, cảm xúc bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh gợi cảm...
    - Tiêu chuẩn vĩnh cửu: thước đo, chuẩn mực có giá trị bất biến, đúng với mọi thời đại.
    - Cảm xúc: Là những cung bậc tình cảm, tâm trạng con người...
    -> Câu nói của Bằng Việt khẳng định: Thước đo để đánh giá giá trị tác phẩm thơ ca ở
    mọi thời đại là cảm xúc; đề cao vai trò của cảm xúc trong thơ.
    * Lưu ý: Nếu HS không giải thích, cắt nghĩa từ, cụm từ trong nhận định mà chỉ khái quát
    chung ý hiểu của mình về nhận định, có ý đúng, GV chỉ cho tối đa 0,25 điểm
    b.2. Đoạn thơ “Dạ khúc cho vầng trăng” (Vũ Duy Thông) chứa chan cảm xúc về vẻ 0,25
    đẹp của vầng trăng qua lời ru của mẹ và tình mẹ dành cho con:
    * Khái quát chung:
    - Vũ Duy Thông là nhà thơ nổi tiếng của thế hệ các nhà thơ thời kỳ chống Mỹ. Ông được
    đánh giá là một thi sỹ tài hoa và yêu thương tha thiết với cuộc đời...
    - Bài thơ "Dạ khúc cho vầng trăng" mà tiêu biểu là đoạn thơ trong đề bài là khúc ca tha
    thiết, ngọt ngào về vẻ đẹp của vầng trăng non qua lời ru của mẹ và tình yêu thương con vô
    bờ bến của người mẹ.
    * Chứng minh
    + Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của vầng trăng qua lời ru của mẹ
    - Mở đầu bài thơ nhà thơ Duy Thông đã đưa ta đến khúc hát ru con ngọt ngào, êm ái của
    người mẹ. Lời ru ân tình của người mẹ đưa con vào giấc ngủ bình yên. Trăng non theo lời
    hát ru của mẹ đi vào giấc mơ của con một cách nhẹ nhàng, sâu lắng.
    “Trăng non ngoài cửa sổ
    Mảnh mai như lá lúa”
    - Biện pháp so sánh, nhân hóa trăng non với lá lúa – vật gần gũi, quen thuộc với cuộc
    sống thường nhật của mẹ khiến trăng trở nên vô cùng đáng yêu, duyên dáng, thanh khiết.
    Từ đó mẹ muốn ghi dấu trong lòng con về về tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, cái giản dị
    trong cuộc sống...
    “ Để trăng thành chiếc lược
    Chải nhẹ lên mái tóc
    Để trăng thành lưỡi cày
    Rạch bầu trời khuya nay ”
    3

    2,0

    - Phép so sánh, liệt kê kết hợp các động từ “ chải”,“rạch”, trăng non qua lời ru của mẹ
    còn có những hình dạng khác nhau như chiếc lược, lưỡi cày. Trăng non không có gì xa lạ
    mà rất gần gũi thân quen trong cuộc sống của con và mẹ. Mẹ mong con khi lớn lên biết
    yêu thương, biết trân quý những gì bình dị...
    “Trăng thấp thoáng cành cây
    Tìm con ngoài của sổ
    Cửa nhà mình bé quá
    Trăng lặn trước mọi nhà ”
    -> Phép nhân hóa kết hợp với các từ ngữ chỉ hoạt động của con người “tìm con ngoài cửa
    sổ” khiến trăng như một bạn nhỏ rất đáng yêu đang tìm con để bầu bạn, vui chơi, hòa
    nhịp vào thế giới tâm hồn của trẻ thơ.
    - Hình ảnh “ Trăng thành con thuyền nhỏ” có lẽ là hình ảnh đẹp nhất tượng trưng cho
    ước mơ, khát vọng của người con, đồng thời cũng chở đầy tình yêu và niềm tin của người
    mẹ dành cho đứa con bé bỏng đang ngủ say trên đôi vai gầy. Trăng không chỉ là con
    thuyền nhỏ mà còn là nhịp cầu nối giúp cho con và mẹ “ Đến bến bờ tình yêu ”...
    + Luận điểm 2: Cảm xúc của nhà thơ trước tình yêu của mẹ dành cho con
    - Tình yêu của mẹ dành cho con thật lớn lao, vĩ đại không có thứ gì có thể đong đếm
    được. Mẹ luôn cầu mong cho con được yên bình ”Con ơi ngủ cho say ”, mong con được
    hạnh phúc “ Đến bến bờ tình yêu”. Mẹ yêu thương, hi sinh “Vai mẹ thành võng
    đưa./Theo con vào giấc ngủ”, mẹ có thể làm tất cả vì con...
    * Lưu ý: Trong quá trình cảm nhận đoạn thơ, HS biết liên hệ, so sánh với các bài thơ
    khác cùng đề tài: À ơi tay mẹ (Bình Nguyên), Con cò (Chế Lan Viên), Mẹ và quả
    ( Nguyễn Khoa Điềm),Trăng ơi...từ đâu đến (Trần Đăng Khoa), …
    b.3. Để thể hiện được cảm xúc, rung động đoạn thơ rất thành công trong việc sử
    dụng các hình thức nghệ thuật
    + Thể thơ năm chữ với hình ảnh thơ trong sáng, bình dị phù hợp với thế giới tâm hồn trẻ
    thơ, dễ nhớ dễ thuộc.
    + Cấu trúc thơ độc đáo, ngôn ngữ giàu chất nhạc
    + Bên cạnh đó, nhà thơ sử dụng các biện pháp nghệ thuật phép so sánh, nhân hóa, điệp
    ngữ, liệt kê…khiến đoạn thơ trở nên sinh động, diễn tả sâu sắc tình mẫu tử thiêng liêng.
    + Qua đoạn thơ tác giả đã gửi đến bạn đọc thông điệp vô cùng sâu sắc: con lớn lên
    phải biết sống nghĩa tình, biết trân quý những gì bình dị trong cuộc sống; biết yêu
    thương và kính trọng mẹ...
    b.4. Mở rộng, liên hệ, nâng cao
    - Qua đoạn thơ, Bằng Việt đề cao cảm xúc chứ không tuyệt đối hóa cảm xúc, coi nhẹ vai
    trò tài năng người cầm bút. Cần kết hợp tài năng và cảm xúc mới có tác phẩm thành công.
    - Người tiếp nhận và người sáng tác cần có cảm xúc thì mới phản ánh chân thực cuộc
    sống, hiểu hết cái hay cái đẹp của tác phẩm văn học.
    c. Kết bài:
    - Khẳng định lại ý kiến...
    - Liên hệ bản thân

    ĐỀ SỐ 2
    I. PHẦN ĐỌC - HIỂU (6,0 điểm)
    Đọc văn bản sau:
    DẾ MÈN BÊNH VỰC KẺ YẾU
    4

    0,75

    1,0

    0,5

    0,5

    Một hôm, qua một vùng cỏ xước xanh dài, tôi chợt nghe tiếng khóc tỉ tê. Tôi lắng tai, đoán ra
    tiếng khóc quanh quẩn đâu đây. Vài bước nữa, tôi gặp chị Nhà Trò ngồi gục đầu bên tảng đá cuội.
    Chị Nhà Trò này đã bé nhỏ lại gầy gùa, yếu quá, người bự những phấn, như mới lột. Chị mặc áo
    thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh cô nàng mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn.
    {…} Nhà Trò đương khóc.
    Nghe như có điều oan trái chi đây, tôi bèn hỏi:
    - Làm sao mà khóc đường khóc chợ thế kia, em? {…}
    Nhà Trò kể:
    - Năm trước, phải khi trời làm kém đói, mẹ em phải vay lương ăn của Nhện. Sau đấy, không may mẹ em
    mất đi, còn lại thui thủi có mình em. Mà em ốm yếu, kiếm bữa cũng chẳng đủ, làm ăn chả ra thế nào,
    bao năm nghèo túng vẫn hoàn nghèo túng, món nợ cũ chưa trả được, Nhện cứ nhất định bắt trả nợ. Mấy
    bận nhện đã đánh em. Hôm nay bọn Nhện chăng tơ ngang đường đe bắt em, vặt chân vặt cánh ăn thịt
    em.
    Tôi xòe hai càng ra, bảo Nhà Trò:
    - Em đừng sợ. Hãy trở về cùng với tôi đây. Đứa độc ác không thể cậy khỏe hiếp kẻ yếu. Đời này không
    phải như thế.
    Tôi dắt Nhà Trò đi.
    Một quãng, tới chỗ mai phục của bọn Nhện. {…}
    Tôi cất tiếng hỏi lớn:
    -Ai đứng chóp bu bọn mày? Ra đây ta nói chuyện.
    Từ trong hốc đá, một mụ Nhện cái cong chân nhảy ra, hai bên có hai Nhện vách nhảy kèm. Dáng đây là
    vị chúa chùm nhà Nhện. Nom cũng đanh đá, nặc nô lắm. Vậy thì đầu tiên tôi hãy ra cái oai của tôi. Tôi
    quay phắt lưng, phóng càng đạp mạnh vào đầu mụ Nhện cái một đạp. Mụ nọ hoảng hốt, co dúm lại hãi
    ngay. Rồi thế là mụ cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo, tỏ ý hối hận mà sợ hãi một điều gì đó điều gì đó có lẽ mụ ta cũng chưa biết.
    Tôi thét:
    - Cớ sao dám kéo bè kéo cánh ra bắt nạt em Nhà Trò yếu ớt thế kia? Chúng mày có của ăn của để, đứa
    nào cũng béo múp mông đít cả lượt như thế mà cứ cố tình đòi nó có một tí tẹo nợ đã mấy đời rồi, là
    không được. Ta cấm từ giờ không được đòi nợ Nhà Trò nữa. Nó bé bỏng, làm chưa đủ nuôi thân, phải
    thương nó, xúy xóa công nợ cho nó. Ở đời, thù hằn, độc ác làm gì, thử trông đấy, bay bắt nạt nó, nhưng
    còn có ta khỏe hơn, ta mới thử gió mấy cái đá hậu, mà xem ra chúng mày đã thấy đáng nghĩ lắm rồi,
    phải không?
    Bọn Nhện núp phía trong cùng dạ được việc đầu vang và lao xao nói "Nghe rồi ạ" rối rít khe đá.
    Tôi ra lệnh:
    - Phá các vòng vây đi! Đốt hết văn tự nợ di!
    Lũ Nhện nghe ngay lời tôi. Cả bọn nhanh nhẹn chạy ngang chạy dọc, phá các dây tơ chăng lưới. Con
    đường về tổ Nhà Trò trên cành lá mua có một chiếc hoa tím phút chốc đã quang hẳn. Rồi vô số Nhện
    nhấp nhô tung tăng đến, chân nắm chân ả Nhà Trò mà nhảy múa, hát ầm ĩ, rất vui.
    (Trích Dế Mèn phiêu lưu kí - Tô Hoài)
    Thực hiện yêu cầu:
    a)
    Xác định nhân vật chính của văn bản trên là ai?
    b)
    Hãy tìm trạng ngữ của câu được in đậm trong văn bản trên.
    c) Tôi xòe cả hai càng ra, bảo Nhà Trò:
    - Em đừng sợ. Hãy trở về cùng với tôi đây. Đứa độc ác không thể cậy khỏe ăn hiếp kẻ yếu.
    Qua hành động và lời nói của Mèn với Nhà Trò trong những câu trên, em thấy Mèn là người như thế
    nào?
    d) Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu: Chị mặc áo thâm dài, đôi
    5

    chỗ chấm điểm vàng, hai cánh mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn.
    PHẦN II. VIẾT
    Câu 1. (4,0 điểm) Từ nội dung văn bản trên, em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 8 đến 12 câu) bày
    tỏ ý kiến tán thành quan điểm: Tình yêu thương là món quà vô giá của cuộc sống.
    Câu 2. (10,0 điểm)
    Viết bài văn phân tích nhân vật Dế Mèn trong văn bản Dế Mèn bênh vực kẻ yếu (trích Dế Mèn
    phiêu lưu kí) của nhà văn Tô Hoài.
    II. Hướng dẫn chấm cụ thể:
    Phần/
    Nội dung
    Điể
    câu
    m
    I
    ĐỌC – HIỂU
    6,0
    Đọc văn bản.
    Thực hiện yêu cầu:
    a) Xác định nhân vật chính của văn bản trên là ai?
    b) Hãy tìm trạng ngữ của câu được in đậm trong văn bản trên.
    c) Tôi xòe cả hai càng ra, bảo Nhà Trò:
    - Em đừng sợ. Hãy trở về cùng với tôi đây. Đứa độc ác không thể cậy
    khỏe ăn hiếp kẻ yếu.
    Qua hành động và lời nói của Mèn với Nhà Trò trong những câu trên,
    em thấy Mèn là người như thế nào?
    d) Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu:
    Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh mỏng như cánh bướm
    non, lại ngắn chùn chùn.
    a)Nhân vật chính của văn bản trên là Dế Mèn.
    0,5
    b) Trạng ngữ trong câu in đậm:
    -Một hôm,
    -qua một vùng cỏ xước xanh dài,
    c)
    Tôi xòe cả hai càng ra, bảo Nhà Trò:
    - Em đừng sợ. Hãy trở về cùng với tôi đây. Đứa độc ác không thể cậy khỏe
    ăn hiếp kẻ yếu.
    Qua hành động và lời nói của Mèn với Nhà Trò trong những câu trên, em
    thấy Mèn là người: rất mạnh mẽ, dũng cảm, thương người, hào hiệp, sẵn sáng bênh
    vực kẻ yếu…
    Hướng dẫn chấm:
    HS nêu được từ 3 phẩm chất trở lên, đạt điểm tối đa.
    HS nêu được 2 phẩm chất trên, đạt 0,5 điểm.
    HS nêu được 1 phẩm chất trên, đạt 0,25 điểm.
    d) Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh mỏng như cánh bướm
    non, lại ngắn chùn chùn.
    -Biện pháp tu từ:
    +Nhân hóa: Nhà Trò được gọi bằng cách gọi và hành động của con người: Chị,
    mặc.
    + So sánh: hai cánh mỏng như cánh bướm non.
    -Tác dụng:
    +Tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.
    +Khiến con vật trở nên gần gũi, sinh động, có hồn…
    +Khắc họa hình ảnh Nhà Trò nhỏ bé, yếu ớt, đáng thương, tội nghiệp, cần được
    6

    0,5
    0,5

    1,0

    0 ,75
    0,75

    0,25
    0,25
    1,0

    che chở…
    +Qua đó cho thấy tài năng quan sát và tình cảm của tác giả dành cho thế giới nhân
    vật của mình cũng như thiếu nhi…
    HS có cách diễn đạt tương đương vẫn đạt điểm tối đa.
    II

    2

    0,5

    VIẾT
    Từ nội dung văn bản trên, em hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 8
    đến 12 câu) bày tỏ ý kiến tán thành quan điểm: Tình yêu thương là món quà
    vô giá của cuộc sống.
    I. Yêu cầu hình thức:
    -Viết đúng hình thức đoạn văn có bố cục rõ ràng, trình bày sạch sẽ, dung lượng
    khoảng 8 – 12 câu.
    II. Yêu cầu cụ thể:
    - Nêu được vấn đề và ý kiến cần bàn luận.
    - Trình bày được sự tán thành đối với ý kiến cần bàn luận.
    - Đưa ra được những lí lẽ rõ ràng, bằng chứng đa dạng để chứng tỏ sự tán
    thành là có căn cứ. Làm nổi bật ý sau:
    1.Nêu được vấn đề cần bàn luận: Tình yêu thương là món quà vô giá của cuộc
    sống.
    2. Nêu ý kiến đáng quan tâm về vấn đề: Tình yêu thương có ý nghĩa và giá trị
    lớn lao trong cuộc sống.
    - Thể hiện thái độ tán thành ý kiến vừa nêu bằng các ý:
    + Tình yêu thương là một khái niệm chỉ một phẩm chất tình cảm, vẻ đẹp tâm hồn
    của con người. Đó là tình cảm thương yêu, chia sẻ và đùm bọc, quan tâm, giúp đỡ,
    làm những điều tốt đẹp với những người xung quanh…Món quà vô giá là khẳng
    định ý nghĩa và giá trị lớn lao. Như vậy tình yêu thương có ý nghĩa và giá trị lớn
    lao.
    +Tình yêu thương là món quà vô giá trong cuộc sống con người. Bởi nó: sưởi ấm
    tâm hồn những con người cô đơn, đau khổ, bất hạnh, truyền cho họ sức mạnh, nghị
    lực để vượt lên hoàn cảnh; giúp con người học cách quan tâm đến người khác,
    sống bao dung và tích cực hơn trong cuộc đời; biết trân trọng cuộc sống, trân trọng
    những người xung quanh; tạo sức mạnh cảm hoá kì diệu đối với những người “lầm
    đường lạc lối”; mang lại niềm hạnh phúc, niềm tin và cơ hội để có cuộc sống tốt
    đẹp hơn; là cơ sở xây dựng một xã hội tốt đẹp, có văn hóa…
    HS lấy bằng chứng tiêu biểu phù hợp.
    +Phê phán những người trong xã hội sống thiếu tình thương, vô cảm, dửng dưng
    trước nỗi đau chung của đồng loại; những kẻ ích kỉ, chỉ biết lo cho cuộc sống của
    bản thân mình mà không quan tâm đến bất cứ ai…

    14

    3. Khẳng định lại sự tán thành ý kiến, ý nghĩa, bài học về giá trị lớn lao của tình
    yêu thương- món quà vô giá…
    HS có cách diễn đạt tương đương vẫn đạt điểm tối đa
    HS không viết theo cấu trúc đoạn văn đủ 3 phần nhưng vẫn đảm bảo hình thức cấu
    trúc một đoạn văn và đảm bảo đủ ý vẫn đạt điểm tối đa.
    Viết bài văn phân tích nhân vật Dế Mèn trong văn bản Dế Mèn bênh vực kẻ
    yếu (trích Dế Mèn phưu lưu kí) của nhà văn Tô Hoài.
    I. Yêu cầu chung

    0,5

    7

    4,0

    0,25

    0,5
    0,5

    0,5

    1,0

    0,5
    0,25

    10,0
    0,5

    - Xác định đúng kiểu phân tích đặc điểm nhân vật.
    - Đưa ra được những bằng chứng để làm rõ đặc điểm của nhân vật.
    - Bài viết có bố cục rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
    II. Yêu cầu cụ thể
    1. Mở bài:
    - Giới thiệu đặc điểm nổi bật của nhân vật Dế Mèn trong văn bản truyện Dế Mèn
    bênh vực kẻ yếu (trích Dế Mèn phưu lưu kí) của nhà văn Tô Hoài: thương người
    (nhân hậu), hào hiệp, hết lòng bênh vực kẻ yếu…
    - Ấn tượng chung về nhân vật Dế Mèn.
    2. Thân bài:
    Lần lượt phân tích và làm sáng tỏ từng đặc điểm của nhân vật Dế Mèn thông qua
    các chi tiết cụ thể trong tác phẩm (hoàn cảnh, cử chỉ, hành động, lời nói…).
    Gợi ý:
    a) Hoàn cảnh: gặp chị Nhà Trò bé nhỏ, gầy yếu, có cảnh ngộ tội nghiệp đáng
    thương; cuộc sống và tính mạng chị Nhà Trò đang bị uy hiếp nghiêm trọng…
    b) Đặc điểm của nhân vật Dế Mèn:
    *Dế Mèn rất giàu tình thương người:
    - Thái độ, tình cảm:
    + Đi qua đám cỏ xước xanh dài, nghe tiếng khóc tỉ tê và nhìn thấy chị Nhà Trò
    đang gục đầu bên tảng đá cuội, Mèn rất quan tâm và thương cảm đến gần con
    người bất hạnh gặng hỏi mãi…
    +Hình ảnh chị Nhà Trò đã bé nhỏ lại gầy yếu quá, đôi cánh mỏng… ngắn chùn
    chùn khiến Mèn thương tâm lắm…
    + Chú xúc động, đồng cảm trước cảnh ngộ đau khổ của chị ta: mẹ mất, sống thui
    thủi, ốm yếu quá nên làm không đủ ăn, lại đang bị bọn nhện đòi nợ, đánh đập…
    - Cử chỉ, hành động: Xoè hai càng như muốn che chở, trấn an chị Nhà Trò, muốn
    chị Nhà Trò hãy yên tâm và tin tưởng Mèn…
    - Lời nói: an ủi, sẻ chia với Nhà Trò: Em đừng sợ.
    *Mèn còn là người hào hiệp, sẵn sàng bênh vực kẻ yếu:
    - Sau khi nghe chị Nhà Trò kể lại câu chuyện:
    + Lời nói: của Dế Mèn vang lên như một lời khẳng định sức mạnh của chính nghĩa,
    tuyên chiến với lũ nhện quen thói cạy thế, áp bức đè nén người khác: Em đừng sợ.
    Hãy trở về cùng với tôi đây. Đứa độc ác không thể cậy khỏe ăn hiếp kẻ yếu.
    + Cử chỉ, hành động: dắt chị Nhà Trò đi là hành động dũng cảm, hào hiệp, đi đòi
    lại công bằng, bảo vệ bênh vực kẻ yếu.
    -Khi gặp bọn Nhện:
    +Hành động: Tôi quay phắt lưng, phóng càng đạp mạnh vào đầu mụ Nhện cái một
    đạp là hành động ra oai, thể hiện sức mạnh, dũng cảm dám đương đầu với bọn
    Nhện bảo vệ kẻ yếu.
    +Lời nói: Xưng ta của Dế Mèn cất lên rất đàng hoàng, đĩnh đạc và hào hùng: Ai
    đứng chóp bu bọn này? Ra đây ta nói chuyện. Đanh thép hạch tội bọn Nhện của ăn
    của để, béo múp mà lại tham lam cố tình đòi một tí tẹo nợ đã mấy đời rồi? cấm bọn
    nhện từ giờ không được đòi nợ chị Nhà Trò nữa; nghiêm khắc bắt bọn nhện: Hãy
    phá các vòng vây đi! Đốt hết văn tự nợ đi!
    +Kết quả: Tức thì quân tướng lũ nhện sợ hãi cùng dạ ran, chúng vội vàng phá hết
    các dây tơ chăng lối. Và con đường về tổ Nhà Trò quang hẳn. Chị Nhà Trò đã
    thoát nạn tai ương.
    8

    1,0

    0,5
    2,5

    2,5

    *Nêu nhận xét về nhân vật Dế Mèn: một chàng trai có phẩm chất tốt đẹp: có võ
    nghệ tài giỏi, rất dũng cảm, thương người, hào hiệp, căm ghét mọi bất công giúp
    đỡ, bênh vực người yếu ớt, khó khăn, hoạn nạn…
    c) Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật:
    -Nghệ thuật miêu tả loài vật rất đặc sắc của nhà văn Tô Hoài. Tô Hoài miêu tả rất
    kỹ và rất am hiểu tập tính, hình dáng của loài vật.
    -Hệ thống ngôn từ tự nhiên, giàu chất gợi hình, gợi cảm đặc biệt sử dụng thành
    công nghệ thuật nhân hóa, so sánh …
    HS có thể phân tích theo sự việc rồi khí quát đặc điểm nhân vật vẫn đạ điểm tối đa.
    3. Kết bài:
    Qua việc phân tích đặc điểm nhân vật Dế Mèn, nêu lên ý nghĩa hoặc bài
    học sâu sắc…
    Tổng

    1,0

    1,0
    1,0

    20,0

    ĐỀ SỐ 3
    Câu 1: ( 6 điểm).
    Đọc bài thơ sau và trả lời các câu hỏi bên dưới:
    Đôi làn môi con
    Nghiêng về vú mẹ
    Như cây lúa nhỏ
    Nghiêng về phù sa
    Như hương hoa thơm
    Nghiêng về ngọn gió

    Sữa mẹ trắng trong
    Con ơi hãy uống
    Rồi mai con lớn
    Con ơi hãy nghĩ
    Những điều trắng trong.
    ( Trắng trong- Lâm Thị Mỹ Dạ)

    Đôi làn môi con
    Ngậm bầu vú mẹ
    Như búp hoa huệ
    Ngậm tia nắng trời.
    a.
    Ai là người bày tỏ cảm xúc, suy nghĩ trong bài thơ ?
    b. Từ “nghiêng” trong bài được hiểu theo nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Giải thích nghĩa của từ
    “nghiêng” ?
    c. Trong bài thơ tác giả đã sử dụng những cặp hình ảnh nào để tạo nên giá trị và thông điệp của bài thơ?
    d. Qua lời nhân vật trữ tình, “những điều trắng trong” mà tác giả muốn nói đến là gì? Bản thân em sẽ
    làm gì để gìn giữ “những điều trắng trong” đó?
    Câu 2: (4 điểm) Cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh chiều xuân qua đoạn thơ sau:
    Mưa đổ bụi êm đềm trên bến vắng,
    Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;
    Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
    Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
    ...
    (Anh Thơ, Chiều xuân)
    Câu 3: (10 điểm)
    9

    Em hãy viết bài văn biểu cảm bày tỏ tình cảm của mình với quê hương.
    ..................................Hết.............................................
    A. HƯỚNG DẪN CHI TIẾT
    Câu 1: (6 điểm).
    a
    Người bày tỏ cảm xúc suy nghĩ trong bài thơ: Người mẹ
    b
    - Từ “nghiêng” được hiểu theo nghĩa chuyển.
    - Nghĩa của từ “ nghiêng”trong bài thơ được hiểu là : hướng về(con hướng về mẹ
    để tìm về cội nguồn của sự sống và nhận được sự che chở yêu thương trong đời)
    c
    -Cặp hình ảnh tác giả sử dụng để tạo nên giá trị và thông điệp của bài thơ: “ môi
    con- vú mẹ”, “ cây lúa- phù sa”, “ hương hoa- ngọn gió”, “ búp hoa- tia nắng”
    d
    -“ Những điều trắng trong” mà tác giả muốn nói đến là: mỗi con người hãy biết
    uống vào hồn mình những ngọt ngào, trắng trong từ dòng sữa mẹ, đó cũng chính
    là cội nguồn của lòng yêu thương và lẽ sống, là hạnh phúc của mỗi người, là ước
    nguyện tốt đẹp nhất mà người mẹ luôn dành cho con. Như vậy “ trắng trong”
    không chỉ là dòng sữa trắng trong ngọt ngào của mẹ mà còn tượng trưng cho
    những điều tốt đẹp, thiện lương. Người mẹ không những nuôi dưỡng con về thể
    chất mà còn bồi dưỡng cho con tâm hồn đẹp đẽ.
    - Liên hệ: Hs tự do liên hệ những việc làm của bản thân nhưng cần phù hợp đạo
    đức, văn hóa( Ví dụ: Là đứa con hiếu thảo, có ý thức vươn lên trong cuộc sống
    để trở thành người tử tế, thành đạt...)
    Câu 2
    * Mở đoạn: giới thiệu ngắn gọn về đoạn thơ, tác giả và cảm xúc chung về
    (4
    đoạn thơ.
    điểm)
    * Thân đoạn: Trình bày cảm xúc về đoạn thơ:
    - Nêu ấn tượng chung khi đọc đoạn thơ (yêu thích, cuốn hút,…)
    - Cảm nhận về nội dung của đoạn thơ: Bức tranh chiều xuân với những đặc
    điểm:
    + Bức tranh thuỷ mặc chấm phá những nét đầy thi vị về một buổi chiều quê
    mưa xuân.
    + Cảnh đẹp, bình yên nhưng gợi buồn.
    + Bức tranh thiên nhiên gợi ra bao cảm xúc xao xuyến, nhớ nhung quê
    hương trong lòng bạn đọc.
    - Cảm nhận về những đặc sắc nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ:
    Biện pháp tu từ nhân hóa: “đò-biếng lười- nằm mặc”, “quán tranh- đứng
    im lìm”. Tác dụng biện pháp tu từ:
    + Biến những vật vô tri, vô giác thành sống động có hồn, gợi hình, gợi
    cảm.
    + Góp phần khắc họa hình ảnh thiên nhiên, làng quê vắng lặng, im lìm,
    bình yên nhưng cũng đượm buồn.
    Sử dụng nhiều từ láy giàu sức gợi: êm đềm, im lìm, tơi bời-> gợi vẻ bình
    yên, tĩnh lặng của cảnh vật, tạo nhịp điệu nhẹ nhàng cho các câu thơ.
    - Cảm nhận về tâm hồn, tình cảm của tác giả: Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế
    trước vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời buổi chiều xuân.Tấm lòng yêu thiên
    nhiên, quê hương sâu sắc.
    * Kết đoạn: Khái quát lại những ấn tượng, cảm xúc chung về đoạn thơ.
    Câu

    a.Đảm bảo cấu trúc một bài văn: Có đầy đủ các phần: Mở bài, Thân bài,
    10

    1,0
    0,5
    0,5
    1
    1

    1

    1
    0,25
    0,5
    1,25

    1.25

    0,5

    0,25

    3
    ( 10
    điểm)

    Kết bài.
    b. Xác định đúng yêu cầu của đề
    - Bài văn biểu cảm về sự vật. Xác định được đối tượng biểu cảm
    - Thể hiện, biểu lộ được thái độ, tình cảm, cảm xúc sâu sắc, chân thành của
    bản thân dành cho sự vật được biểu cảm.
    - Có những phát hiện mới mẻ, sâu sắc về đối tượng biểu cảm
    - Nêu được vai trò của sự vật được biểu cảm với bản thân.
    c. Triển khai vấn đề rõ ràng, đầy đủ; thể hiện sự nhận thức sâu sắc và vận
    dụng tốt các kiến thức viết văn đã học để làm bài hiệu quả. Có thể viết theo
    định hướng sau:
    *Mở bài:
    - Dẫn dắt, giới thiệu về quê hương.
    - Khái quát tình cảm của bản thân với quê hương
    * Thân bài:
    - Khái quát quê hương là gì?( là tất cả nắng, mưa, là đất, là hương vị của
    chợ quê... là nềm vui, nỗi buồn, là tuổi thơ êm đẹp... là tình yêu của bố mẹ,
    của bạn bè, thầy cô.
    - Quê hương trong trái tim tôi
    + Thiên nhiên của quê hương trong trái tim tôi: dòng sông, cánh đồng, đầm
    sen, con đường, hàng cây, mái đình...( ghi dấu ấn trong trái tim tôi như thế
    nào?)
    + Con người quê hương, những nét văn hóa truyền thống ghi dấu ấn trong
    trái tim tôi như thế nào?
    *Kết bài:
    - Khẳng định lại tình cảm với quê hương
    - Liên hệ với bản thân và mọi người.
    d. Sáng tạo: Cách diễn đạt độc đáo, có suy nghĩ riêng, suy nghĩ mới mẻ,
    phù hợp với vấn đề yêu cầu
    e. Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn xác chính tả, ngữ pháp,
    ngữ nghĩa Tiếng Việt.

    1

    1

    3

    3,5

    1
    0,5

    ĐỀ SỐ 4
    I. ĐỌC – HIỂU (6,0 điểm)
    Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
    QUÀ CỦA YÊU THƯƠNG
    (Trần Văn Thiên)
    (1) Sống ở nơi thị thành chộn rộn lo toan, thỉnh thoảng mẹ vẫn thường lấp đầy nỗi nhớ nhà trong
    tôi bằng những thứ quà quê giản dị. Chuyến xe khách chật ních người và hàng hóa xuất bến ở quê nhà,
    nhịp nhàng lăn bánh chở theo bao yêu thương mà mẹ đã tỉ mẩn gói ghém. Khi là mớ cá đồng mẹ phơi
    khô qua mấy bận nắng, lúc là hũ tép nhỏ mà cha thu được từ mấy cái lưới đặt ở con mương gần nhà,
    hay vài chiếc bánh gói lá mà ở thị thành không thể mua được.
    (2) Mùa nào thức nấy mẹ luôn dành cho đứa con xa quê những bó rau, chùm quả tươi ngon nhất
    11

    từ mảnh vườn nhà. Đến mùa xoài chín, cha dùng cây vợt dài hái những trái xoài cát vàng ươm, ngọt
    lịm, rồi mẹ lót rơm khô dưới đáy thùng giấy khéo léo đặt xoài vào đó để gửi cho tôi. Mẹ chọn những trái
    xoài hườm mới ửng nắng xếp thành một lớp phía dưới, ở giữa là loại xoài vừa chín tới, và trên cùng là
    những quả chín mọng. Mẹ xếp đều như vậy để quả xoài không bị dập, ruột xoài giữ được vị ngọt thanh,
    đượm hương nắng gió quê nhà. Cầm quả xoài cát thơm thảo, lòng lại nhớ những tinh sương mẹ lụi cụi
    quét lá xoài khô. Nhớ ngày thơ ấu, chị em tôi xách rổ lom khom dưới gốc mấy cây xoài nhặt quả rụng.
    Những mùa xoài trong kí ức đã qua giờ chỉ còn lại trong lòng người đau đáu những thước phim kỉ
    niệm…
    (3) Ở nơi phố thị ngược xuôi, khi niềm tin dần ngủ quên và người ta nhắc nhiều đến vấn đề vệ
    sinh thực phẩm, lại càng thấy trân quý, nâng niu những cọng rau, hoa quả quê nhà. Cầm trên tay món
    quà quê, đôi khi tôi quên mất khái niệm thời gian. Chỉ có kí ức bỗng tỉnh dậy sau cơn mê dài và những
    mảnh nhớ rời rạc ghép lại thành con đò ngày xưa, đưa tôi ngược dòng về bến bờ thơ ấu, thấy vị ngọt
    của bình yên thấm đượm trong từng giác quan và ngọn lửa của tình yêu quê hương nồng đượm sưởi ấm
    tâm hồn. Tôi biết những món quà quê đâu chỉ đơn thuần rau xanh, quả sạch, là bánh trái thảo thơm, mà
    đó là kết tinh của lòng yêu thương quyện cùng những giọt mồ hôi của sự hi sinh lặng thầm. Hũ chuối
    khô ngào đường của mẹ, lọ mắm cá đồng mà cha bắt dưới ao, mớ rau chùm quả hái ở vườn nhà - những
    thức quà quê bình dị, quý hơn tất cả những món đồ xa xỉ ở nơi phồn hoa thị thành…
    (Nguồn: baodaknong.org.vn/van-hoc-nghe-thuat)
    Câu 1 (2,0 điểm): Ở đoạn văn (1) người mẹ đã gửi cho con những món quà quê nào? Ý nghĩa của
    những món quà quê ấy?
    Câu 2 (2,0 điểm): Xác định và nêu tác dụng của 01 biện pháp tu từ trong câu văn sau: Hũ chuối
    khô ngào đường của mẹ, lọ mắm cá đồng mà cha bắt dưới ao, mớ rau chùm quả hái ở vườn nhà - những
    thức quà quê bình dị, quý hơn tất cả những món đồ xa xỉ ở nơi phồn hoa thị thành…
    Câu 3 (2,0 điểm): Thông điệp tác giả muốn gửi cho chúng ta qua văn bản?
    II. VIẾT (14,0 điểm)
    Câu 1 (4,0 điểm): Viết đoạn văn (6-8 câu) bày tỏ cảm xúc của em về đoạn thơ sau:
    Bà ơi! Thương mấy là thương
    Vắng con, xa cháu tóc sương da mồi
    Bà như quả ngọt chín rồi
    Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng.
    (Võ Thanh An, Quả ngọt cuối mùa)
    Câu 2 (10,0 điểm): Viết bài văn phân tích đặc điểm của nhân vật người mẹ trong văn bản “Quà
    của yêu thương” của tác giả Trần Văn Thiên.
    ---------------Hết---------------HƯỚNG DẪN CHẤM THI HỌC SINH GIỎI LỚP 6,7,8
    CẤP HUYỆN NĂM HỌC 2022- 2023
    Môn: NGỮ VĂN 7
    I. ĐỌC - HIỂU (6,0 điểm)
    Câu
    1

    Nội dung
    - Đoạn văn (1) người mẹ đã gửi cho con những món quà quê: mớ cá đồng mẹ
    phơi khô qua mấy bận nắng, hũ tép nhỏ mà cha thu được từ mấy cái lưới ...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN VIỆT - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !