Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học
55 ngày chế độ Sài Gòn xụp đổ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 19h:19' 12-04-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 19h:19' 12-04-2024
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
55 ngày chế độ Sài Gòn sụp đổ
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Vài lời của tác giả
Quyển sách này viết dựa trên sự việc thật. Cách giải thích sự kiện là của riêng tôi.
Tôi đã tự tiện trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là cách dùng tên. Nhiều người Nam
Việt Nam trong phe chiến bại yêu cầu tôi đừng dùng tên thật của họ trong các bản tin sau
“ngày giải phóng”. Điều ấy tôi không làm ở đây. Các viên chức và chiến sĩ cộng sản và viên chức
cao cấp Sài Gòn đều được ghi bằng tên thật của họ.
Trường hợp tự tiện thứ hai là trong mọt số hoàn cảnh cần phải cô lại các sự kiện đã diên ra ở
một nơi nào đó và phải cho chúng diễn ra với một nhân vật. Binh nhì Đức của thuỷ quân lục
chiến là trường hợp điển hình. Mọi sự kiện, thời gian đều đúng nhưng đôi khi không diễn ra với
Đức.
Sẽ có những người trong chính quyền mới ở Nam Việt Nam tức giận về những từ ngữ dùng
trong sách. Tôi đã sử dụng cách nói thông thường của báo chí. Tôi biết từ Việt Cộng, cộng sản…
làm họ khó chịu. Nhưng đấy là cách mà thế giới hiểu về họ.
…
Alan Dawson
Hoả tốc…
Chính phủ Sài Gòn đầu hàng
Trong nghề đưa tin, một bức điện hoả tốc là lời thỉnh cầu hành động. Nó cắt ngang bất kỳ một
bản tin nào đang chyển trên máy têlêtip. Chuông của máy reo mười lần, một dấu hiệu làm thót
bụng phòng nhận tin ở bất cứ nước nào trên thế giới. Điện hoả tốc không phải là một bản tin.
Nó là một đầu đề, chỉ có vài chữ báo hiệu một sự kiện trọng đại. Cuộc ám sát một tổng thống
Mỹ được xếp loại tin hoả tốc. Và lúc kết thúc chiến tranh Việt Nam cũng vậy.
Khi Dương Văn Minh đang nói, phóng viên UPI đánh máy ngay một điện hoả tốc và trao nó cho
nhân viên điều khiển máy têlêtíp. 40 giây sau, chuông của 7.500 máy têlêtip vòng quanh thế
giới reo lên 10 lần. Đám đông tụ tập lại trước mỗi máy và đây là cái họ đọc được:
“ZCZC VHAO 25 NXI
Hoả tốc…
Sài Gòn-Chính phủ Sài Gòn đầu hàng.
NTL 1021 Sáng”.
Một điện hoả tốc luôn luôn được lặp lại để tránh trường hợp bị nhẫm lẫn hoặc giả mạo. Sau đó
60 giây là một bản tin, như sau:
“ZCZ NNN
Bản tin…
Hoà bình-30/4
của Alan Dawson
Sài Gòn-30 tháng 4 (UPI) Tổng thống Dương Văn Minh hôm nay ra thông báo Nam Việt Nam
đầu hàng và ra lệnh binh sĩ thuộc chính quyền ngừng chiến đấu.
NTL 1022 Sáng”.
Nỗi kinh hoàng bị kiềm chế trong bản tin giật gân nhất của thập kỷ... Lẽ tất nhiên hầu hết phản
ứng ở Sài Gòn khác nhau khi dân chúng chuẩn bị sẵn sàng để đón sự kết thúc. Trong vòng 30
phút tiếng súng lẻ tẻ trên đường phố biến mất. Phần lớn tiếng súng ở khu phố trung tâm là bắn
chỉ thiên của kẻ cướp uy hiếp nạn nhân hoặc của những người đuổi theo bọn cướp giật. Bản
thân bọn cướp cũng phải vét mẻ cuối cùng và đi thẳng về nhà.
Các cửa thường và cửa sắt đều được khóa lại. Ngay cả những chủ tiệm và chủ nhà hàng người
Pháp ở Sài Gòn cũng đem bàn ghế vào nhà. Im lặng bao trùm thành phố.
Tại Cần Thơ, tướng ba sao Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4 và đồng bằng sông Cửu
Long cuối cùng phải nhận và mất hết cả rồi khi ông ta nghe bản tin phát thanh của Minh. Chiến
trường vùng châu thổ ít sôi động trong suốt cuộc tiến công. Bắc Việt Nam chọn lối đánh chớp
nhoáng từ Tây sang Đông và tiến từ Bắc xuống Nam, tới tận Sài Gòn. Trong vòng 30 phút sau
bài diễn văn của Minh và lệnh đầu hàng, Nam đã đưa khẩu súng ngắn “côn 45” vào miệng rồi
bóp cò và chết ngay tức khắc.
Những người lính dù, biệt động quân chiến bại, cay đắng từ phía Bắc và phía Tây vào thành
phố. Họ nổi giận, dù không tỏ vẻ kinh hoàng, sẵn sàng cướp giật và trong nhiều trường hợp,
sẵn sàng giết người nước ngoài. Thái độ họ bắt đầu thay đổi, phần lớn muốn vứt bỏ tất cả dấu
vết có dính líu đến quân đội. Trên một phố chính của Sài Gòn, đường Tự Do nơi mà trong nhiều
năm qua lính Mỹ đã chật ních trong các quán rượu và tiệm ăn, binh sĩ cởi quân phục và lập tức
trở thành thường dân. Nửa tá lính nhảy dù cởi bộ đồ trận rằn ri của họ, ném súng và đạn xuống
đất rồi chạy trốn đến nơi nào chẳng ai biết được. Quần áo dân sự bấy nay cất kín trong ba lô,
lúc này là thời điểm dùng đến. Cho nên, khi đến nơi, quân đội Bắc Việt Nam đã nhận thấy ít
binh sĩ mặc quân phục ra đầu hàng.
Như thường lệ, cảnh sát vẫn đi trước binh sĩ trong việc bỏ nhiệm sở. Tại một số bót cảnh sát
đã có cờ trắng. Sĩ quan cảnh sát hút xăng ra khỏi các xe Jeeps đổ vào xe gắn máy của họ, rồi về
nhà. Cảnh sát luôn luôn có áo quần dân sự để thay đổi.
Trong im lặng, Sài Gòn chờ đợi những người cầm quyền mới, trừ một bộ phận dân chúng và
Việt Cộng nằm vùng đang sung sướng tưởng có thể phát điên.
Tại “Dinh Độc Lập”, trong lúc chờ đợi đầu hàng, Minh lớn có vẻ ủ rũ, trầm ngâm và hai má hóp
lại. Những người thân tín của Minh cũng thế. Những chiếc xe tăng Bắc Việt Nam xuất hiện và
phá toang cổng dinh. Mấy người lính cộng sản tìm thấy cầu thang lên bao lơn sân thượng,lột bỏ
lá cờ vàng sọc đỏ của “Việt Nam Cộng hoà” và kéo lên thay bằng lá cờ xanh đỏ sao vàng của
Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Họ kéo vào văn phòng mà ngày trước Thiệu sử dụng. Họ ngồi
xuống ghế. Một người trong số đó đặt hai chân lên bàn làm việc của người tổng thống cũ-dấu
hiệu tột cùng của sự khinh bỉ-và để một nhà nhiếp ảnh chụp hình.
Tướng Hạnh cũng bàn giao Bộ tổng tham mưu và dẫn lấy người đại uý Việt Cộng đến “giải
phóng” toà nhà. Khoảng ba tá lính bảo vệ còn lại ở dinh được lệnh sắp hàng bên trong đội hình
của xe tăng Bắc Việt Nam. Họ được chỉ dẫn đưa vũ khí lên không trung, kéo khoá an toàn và
bóp cò. Một cách tượng trung, đó là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam.
Chương 1 : Mở màn
Trụ sở cơ quan tình báo trung ương Nam Việt Nam được đặt tại bờ sông Sài Gòn, cùng một
phía với Bộ tư lệnh hải quân. Từ các cửa sở của nó, người ta có thể nhìn thấy một quảng
trường lớn, với một pho tượng đồ sộ, tượng Trần Hưng Đạo, “Thành tổ” của hải quân Nam Việt
Nam.
Trong 5 năm, trung sĩ lục quân Lê Tăng đã làm việc tại một số phòng thuộc loại bí mật nhất
của phủ đặc uỷ trung ương tình báo. Những phòng này được canh giữ nghiêm mật bởi những
lính quân cảnh hoàn toàn tin cậy.
Một trong những công việc của trung sĩ Tăng là chọn lọc báo cáo của các nhân viên tình báo
chiến trường và các đội quân dã chiến. Anh ta cùng với một số ít chuyên viên tình báo khác
chọn lọc báo cáo, cố gắng phân biệt tin thật với tin giả, nhận ra những cuộc chuyển quân của
VC và Bắc Việt Nam qua lại trong 44 tỉnh của Nam Việt Nam. Có giá trị hơn hết bất cứ loại tin
tình báo nào khác mà các viên chức Sài Gòn nắm trong tay, những tin tức chuyển quân chính là
dấu hiệu để đoán xem CS sẽ tấn công ở nơi nào và đôi khi đoán được cả vào lúc nào.
Phạm vi chuyên môn của trung sĩ Tăng là vùng Sài Gòn, nhưng đến cuối tháng 1-1975, anh ta
nắm luôn công việc đánh dấu trên sơ đồ sự chuyển quân của Bắc Việt Nam ở vùng Tây Nguyên,
cách Sài Gòn hơn 200 dặm.
Tăng và các nhà phân tích báo cáo từ nhiều nguồn tin khác nhau trên nguyên tắc-và ngay cả
cấp trên họ-không được biết xuất xứ. Giống như tình báo CIA Mỹ, tình báo Nam Việt Nam cũng
chỉ phân phối tin tức một cách rất hạn chế. Tăng có được báo cáo và không cần biết nguồn tin.
Nhưng trải qua nhiều năm, anh ta đã đoán được xuất xứ của báo cáo, bằng cách học được lối
nhận ra một số mật danh, mật hiệu và cách hành văn, đoán xem báo cáo là của nhân viên tình
báo hay của những người chỉ huy các toán quân.
Một việc không bình thường đã xảy ra trong bộ phận của Tăng vào đầu tháng 2-1975 là trên
bàn làm việc của anh ta bắt đầu xuất hiện những báo cáo tình báo không đi qua hệ thống
chuyển tin thường lệ. Lần lượt, nội dung những báo cáo này đã được dùng để thiết lập bản đồ
tác chiến trong phủ tình báo rồi sau đó ở Bộ tổng tham mưu, dinh tổng thống, các cơ sở chỉ
huy quân đoàn, đại sứ quán Mỹ và sở chỉ huy quân đội Hoa Kỳ. Người ta còn nói rằng cả ở Lầu
Năm Góc và Nhà Trắng nữa.
Những bản đồ ấy mà chúng ta có thể gọi là bản đồ của Tăng, bởi vì chúng hoàn toàn là sản
phẩm của Tăng, cho thấy CS tập trung số quân khổng lồ xung quanh Pleiku và Kontum, hai
thành phố cách nhau 20 dặm và cách Sài Gòn 250 dặm về phía Bắc trên vùng Tây Nguyên.
Không ai đặt vấn đề với những bản đồ của Tăng. Anh ta là một chuyên viên và là nhà phân tích
có uy tín cao. Xét cho cùng, Tăng chỉ lập bản đồ theo các tài liệu trên bàn làm việc của mình và
theo những hồ sơ mật vốn xuất xứ từ báo cáo ở chiến trường.
Trong cách cư xử, trung sĩ Tăng chẳng qua chỉ là một binh sĩ Sài Gòn như mọi người khác,
chống + một cách ôn hoà, một người không đặc biệt nổi bật trừ công việc anh ta làm và năng
lực trí tuệ trên mức trung bình. Do sự thông minh ấy, Tăng được trọng dụng. Không có hoạt
động quân sự nào lớn xung quanh Kontum và Pleiku vào đầu năm 1975. Nó tập trung xa hẳn về
phía Nam, xung quanh thị xã Buôn Ma Thuột. Những báo cáo của trung sĩ Tăng và các bản đồ
từ đó mà vẽ ra đều là tài liệu giả.
Ngày 28-4, trung sĩ Tăng không đến làm việc tại phủ đặc uỷ. Cấp trên của anh ta cũng đang lo
sợ trong giờ phút Sài Gòn hấp hối, không chú ý đến sự vắng mặt này. Thực tế phần lớn trong
bọn họ cũng không ngồi tại bàn làm việc hôm ấy, mà đã ở Guam hoặc Philippin.
Tăng xuất hiện trở lại táig trong buổi sáng 30-4-“ngày giải phóng”. Suốt 72 giờ sau đó, anh ta
đã hướng dẫn các đơn vị quân đội Bắc Việt Nam, chỉ cho họ thấy các cơ sở chủ chốt, các khu cư
xá cần được lục soát hoặc cần được canh giữ. Ngày 3-5, đại uý Lê Tăng của lực lượng vũ trang
giải phóng nhân dân thuộc Cộng hoà miền Nam Việt Nam lên nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn
tình báo quân cảnh mà anh đã bí mật làm việc với họ trong hơn 3 năm qua.
Trong khi đó, quân đội Sài Gòn tan rã từng mảng. Có nhiều người nói rằng nó chưa bao giờ
được kết lại thành một khối vững chắc cả. Người Mỹ cũng tranh cãi với nhau xem ai là kẻ chịu
trách nhiệm về sự tồi tệ của quân đội ấy? Cốt lõi của quân đội Sài Gòn vào năm 1954 là lực
lượng Việt Nam thân Pháp được gom lại ở Nam Việt Nam khi lực lượng của ông Hồ Chí Minh
tiếp quản Hà Nội. Lúc ấy có những người Mỹ-nổi bật là đại tá E.Lansdale-một bóng ma trọn
vẹn-vẫn nghĩ rằng quân đội Sài Gòn phân nhỏ và cơ động. Họ lập luận rằng, quân đội này nên
được huấn luyện kỹ về chiến thuật chống du kích, chống nổi dậy, bởi vì đối thủ của họ-ít ra cho
đến thập kỷ 60-vẫn gồm phần lớn là du kích Việt Minh và cán bộ chính trị nằm lại ở Nam Việt
Nam.
Nhưng vì những lý do sai lầm, quân đội Sài Gòn buộc phải trở thành một đội quân lớn, thiếu cơ
động và huấn luyện tồi. Nó được trang bị loại vũ khí đúng là tốt nhất ở Đông Nam Á, đặc biệt từ
ngày Mỹ bắt đầu rút quân-ngày 10-7-1969, nhưng các sĩ quan của nó thường không thể sử
dụng những vũ khí này, còn các binh sĩ thì không đủ sức bảo quản chúng.
Khi mỹ nắm lấy các nỗ lực chiến tranh tại Việt Nam và bắt đầu “cố vấn” trực tiếp quân đội Sài
Gòn thì những người chủ trương một quân đội nhỏ, được huấn luyện cao về kỹ thuật chống du
kích đã đi vào lãng
quên và phần lớn không được đả động đến. Với họ, cái cần thiết là một đội quân lớn được trang
bị đầy đủ đối phó với sự xâm lược ào ạt qua khu phi quân sự như từng diễn ra ở Triều Tiên
năm 1950.
Thế là quân đội Sài Gòn ngày càng trở nên to lớn hơn. Đến năm 1975, trên giấy tờ, đội quân đã
tới hơn 1 triệu người. Nó tỏ ra hoàn toàn không có khả năng đối phó với quân du kích của thời
kỳ 12 và 15 năm trước. Không ai chịu nhìn nhận một sự thật nữa là nó còn bất lực trong việc
đối phó với những cuộc tấn công bằng quân chủ lực. Chính những sĩ quan Mỹ cho rằng chỉ có
không lực Hoa Kỳ mới cứu nổi Nam Việt Nam khỏi thất bại năm 1972 lại thường nói rằng quân
đội Sài Gòn đã chuyển mình một cách mầu nhiệm và bí hiểm thành một lực lượng chiến đấu có
hiệu quả.
Điều rõ ràng là quân đội Sài Gòn trở thành bộ phận chính trong hệ thống cấp bậc của chính
quyền Nam Việt Nam. Trừ Diệm không phải là tướng, khi Thiệu lên nắm chính quyền thì đã là
tướng ba sao. Bề ngoài Thiệu bỏ cấp bậc của mình nhưng cơ cấu quyền lực và hậu thuẫn cho
Thiệu đều bắt nguồn trực tiếp từ quân đội.
Điều mà ít người Mỹ và Nam Việt Nam phát hiện được vào tháng 3-1975 là tinh thần quân đội
Sài Gòn đang tan rã. Đội quân này chiến sĩ có vũ khí tốt hơn bất kỳ nước châu Á nào khác, có
nhiều máy bay chiến đấu hơn bất kỳ chính quyền chư hầu nào khác trên thế giới, có nhiều đạn
dược, xăng dầu, quân cụ, xe cộ và lương thực hơn hầu hết các quân đội trên thế giới. Nó chỉ
thiếu mỗi một điều thôi. Một người Mỹ nói với một binh sĩ Sài Gòn rằng: “Chúng tôi đã cho anh
mọi thứ anh cần, trừ sự dũng cảm. Chỉ tại anh không có thứ ấy”. Không có thứ ấy vì binh lính
thiếu ý muốn chiến đấu.
Việc người lính biết họ chiến đấu chống lại cái gì là rất quan trọng. Người lính Nam Việt Nam
đều nói là họ “chống cộng” nhưng điều ấy lại không phải là niềm tin. Từ trong tiềm thức, họ đã
tự hỏi mình chiến đấu cho cái gì đây? Câu trả lời là cho sự tiếp tục tồn tại của chế độ hiện tạimột chế độ ngày càng tham nhũng, ngày càng có sự cách biệt giữa kẻ giàu và người nghèo và
nạn lạm phát. Một số ít muốn chiến đấu để sống khá hơn. Những kẻ sống khá giả thì lại hướng
về cuộc sống không chiến đấu. Con trai, con gái và con rể của Thiệu đều ra nước ngoài du học.
Nếu có viên tướng Nam Việt Nam nào lại có con trong quân đội thì điều đó không được biết
công khai.
Ngược lại, người lính cộng sản biết họ đang chiến đấu cho cái gì: để “giải phóng” đồng bào bị
áp bức ở miền Nam và để xây dựng sự nghiệp cách mạng. Hỏi một chiến sĩ Bắc Việt Nam sau
khi chuộc chiến tranh chấm dứt:
-“Anh có mừng khi chiến tranh chấm dứt để giờ đây anh có thể trở về nhà được không?'
-“Tôi rất mừng khi chiến tranh chấm dứt!-Anh ta trả lời-Nhưng đây mới chỉ là một giai đoạn
cách mạng. Chúng tôi còn nhiều công việc trước mắt khi có thể trở về nhà!”. Người Bắc Việt
Nam được uốn nắn bằng những mục tiêu quyện vào nhau chặt chẽ: “Giải phóng miền Nam,
đuổi Mỹ khỏi đất nước, xây dựng Việt Nam thành một nước cộng sản thống nhất”.
Tháng 1-1975, một bước phát triển không được làm rùm beng ở nước ngoài, nhưng lại được
truyền miệng trong khắp hàng ngũ cấp dưới của quân đội Sài Gòn lúc bấy giờ. Nó chính là một
trong những cái đinh cuối cùng đóng lên chiếc quan tài của quân đội Sài Gòn. Việc đó xảy ra ở
thị trấn Phước Bình, thành phố chính của tỉnh Phước Long, nơi được CS chọn làm chỗ thử cho
cuộc tiến công năm 1975 của họ. Phước Bình rơi vào tay CS thành cái chìa khóa mở ra sự sụp
đổ cuối cùng của Nam Việt Nam không đầy 4 tháng sau đó.
Phước Bình không có lính chính quy đóng giữ. Khi bị tấn công, các tướng của quân đội Sài Gòn
chờ đợi cùng với Thiệu, con người luôn đòi cho được tiếng nói sau cùng trong bất kỳ cuộc giao
tranh quân sự quan trọng nào. Người ta chẳng làm vì cả. Đấy là một sự thật khó tin, nhưng đã
làm suy sụp toàn bộ tinh thần quân đội Sài Gòn.
Phản ứng của Mỹ là đáng kinh ngạc. Trên thực tế người Mỹ chẳng làm gì khi mất Phước Bình.
Chính quyền Mỹ bị buộc phải nói công khai rằng người Mỹ sẽ không bao giờ trở lại cuộc chiến
ở Nam Việt Nam dù trên đất liền, trên biển, trên không, trong bất cứ tình huống nào. Khi Hoa
Kỳ chỉ chấp nhận chiến đấu ở Việt Nam năm 1975 bằng lời nói chứ không phải bằng súng đạn
thì niềm vui tràn ngập ở Hà Nội.
Nguyễn Văn Thiệu theo dõi diễn biến trận đánh Buôn Ma Thuột từ văn phòng mình trong dinh
Độc Lập, một toà nhà hình hộp nằm trên một nền đất rộng lớn, cách toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn
hai khu phố. Dinh do Ngô Đình Diệm xây vào những năm 60 bằng tiền của Mỹ, nhưng Diệm
không sống nổi đến lúc dinh được hoàn thành.
Nằm gần trên cùng trong đống hồ sơ “lưu” của Thiệu là một kế hoạch được các nhà vạch kế
hoạch trong Bộ tổng tham mưu trình lên vào tháng giêng để đối phó với những bất ngờ. Về
thực chất, nó kêu gọi rút quân trên phần lớn đất nước để đội quân trên 1 triệu người của Sài
Gòn có thể bảo vệ những khu vực đông dân.
Thiệu có thể quan sát biến cố Buôn Ma Thuột. Kế hoạch kêu gọi một cuộc rút lui toàn bộ ra
khỏi hầu hết Tây Nguyên, một khu vực từ Bắc Buôn Ma Thuột trùm lên phía Tây của Nam Việt
Nam. Các đại tá vạch kế hoạch và các tướng lĩnh phê chuẩn nó nói rằng trong địa thế hiểm trở,
không thể nào phòng thủ được trước bất kỳ cuộc tập trung quy mô lớn nào của quân CS. Cuộc
tập trung ấy rõ ràng đang được tiến hành vào đầu năm 1975.
Theo các nhà vạch kế hoạch, phải rút khỏi những vùng thưa dân. Nếu cuộc rút lui được tổ chức
tốt, được giữ bí mật để trong vài ngày có thể di chuyển cả quân đội lẫn dân chúng cư ngụ trong
thành phố thì có thể chyển sang ngăn chặn bước tiến của CS vào các vùng đồng bằng duyên hải
quan trọng hơn.
Khi kế hoạch trình lên hồi tháng giêng. Thiệu đã xem xét một cách nghiêm chỉnh, xếp nó vào
hồ sơ vì lập trường không lay chuyển của Thiệu là không bỏ một tấc đất đã chiếm giữ. Nhưng
kế hoạch lại có lý đến nỗi Thiệu không thể bác bỏ thẳng thừng được, nên đã giữ nó trong tay
theo đúng tính chất của nó-một kế hoạch để đối phó với những sự bất ngờ. Vấn đề là khi sự bất
ngờ đã xảy ra thì Thiệu chẳng còn đủ sức thực hiện kế hoạch như đã vạch ra nữa.
Nhờ vào hệ thống thông tin liên lạc tương đối tinh vi được lắp đặt trong dinh Độc Lập. Đại tá
E.Lansdale, con người của Bộ quốc phòng-CIA-Bộ ngoại giao Mỹ đã cho lắp đặt hệ thống này từ
năm 1955. Nó đi song song nhưng không lệ thuộc vào hệ thống truyền tin quân sự Nam Việt
Nam. Trải qua nhiều năm, hệ thống thông tin liên lạc được hoàn chỉnh, cải tiến càng hiện đại.
Cho đến khi mất Buôn Ma Thuột, Thiệu vẫn có thể nói chuyện thẳng với các sĩ quan chiến
trường. Trong khi các quân sư của tổng thống tung tin rằng CS đang bị đẩy lùi bởi những cuộc
phản công thì Thiệu lại biết những điều khác hẳn. Trong hoàn cảnh khó khăn, Thiệu quan sát
bản đồ tình huống trong văn phòng của mình và không thích gì những điều đang diễn ra trước
mặt. Thậm chí Thiệu cũng chẳng biết rằng, các bản đồ đang lừa dối mình, vì lực lượng tình báo
Sài Gòn đã không biết và hiểu biết sai lạc do trung sĩ Tăng và những VC xâm nhập khác đánh
lừa.
Cái mà Thiệu không biết và do đó nước cờ sắp tới của tổng thống trở thành quyết định
trọng yếu và độc nhất dẫn tới việc mất toàn bộ Nam Việt Nam là: bộ đội CS không thực sự ở tại
nơi mà bản đồ chỉ ra nó. Những người lính Bắc Việt Nam mà người ta tưởng rằng đang ở xung
quanh Pleiku, trên thực tế lại đang chiến đấu hay chờ lệnh tấn công ở nam Buôn Ma Thuột.
Một lý do chính về sự đổ vỡ trong hệ thống tình báo là quân đội Sài Gòn chẳng còn chú ý gì đến
công tác thu lượm tin tức tình báo. Dù thế nào thì họ vẫn chưa bao giờ làm đủ các cuộc do
thám tầm xa. Khi các toán trinh sát của Mỹ ra đi trong những năm 1969-1970, quân đội Sài
Gòn không đủ sức lấp lỗ trông sinh tử này.
Vào khoảng thời gian mà những lá cờ xanh đỏ sao vàng được kéo lên trong các vùng VC vừa
chiếm được ở Buôn Ma Thuột ngày 12-3, thì Thiệu đang quyết định nước cờ định mệnh. Theo
như người ta được biết, Thiệu không thảo luận với ai cả và cũng đã không trao đổi ý kiến cả với
người Mỹ.
Đại sứ Hoa Kỳ G.Martin lúc ấy lại không ở tại Sài Gòn. Ông ta đang kéo dài kỳ nghỉ vốn đã quá
dài nằm tại nhà ở bang Bắc Carolina trong lúc Thiệu muốn nói chuyện với ông ta. Vì Thiệu
không tin người Mỹ nào khác ngoài Martin lúc đó,thành ra khi Thiệu cần một cái vai Mỹ để dựa
thì đạidiện của Washington lại không ở cạnh đó.
W.Lehmann ngồi làm việc khuya tại văn phòng của mình ở Sài Gòn, tạm thay thế cho đại sứ
Martin đang vắng mặt quá lâu trong kỳ nghỉ phép, đang gặp rắc rối về vụ một viên chức Mỹ là
Struharick đang bị mắc kẹt ở Buôn Ma Thuột. Một viên chức Mỹ bị bắt sẽ gây rắc rối thế nào
cho Hoa Kỳ ? Đáng lẽ Mỹ đã phải nằm ngoài cuộc chiến tranh Việt Nam. Các bức điện ngắn đầy
hốt hoảng từ Bộ ngoại giao và Nhà Trắng thông báo cho Lehmann rằng không được từ một nỗ
lực nào trong việc giải cứu Struharick ra khỏi Buôn Ma Thuột là một vấn đề khó xử mà
Lehmann vẫn phải vật lộn với nó.
Lehmann ước ao Martin có mặt ở Sài Gòn để chính ông ta tự quyết định lấy. Lehmann biết, nếu
Struharick bị bỏ lại, rõ ràng Martin sẽ nối cáu với ông ta. Lehmann không biết khi nào Martin
mới có thể trở lại Sài Gòn, vì Martin đã cắt liên lạc với sứ quán như ông ta vẫn làm trong mùa
hè vừa qua, khi vắng mặt lâu dài khỏi nhiệm sở ở Sài Gòn. Thậm chí không ai biết Martin đã đi
đâu trong thời gian tạm rời khỏi Sài Gòn, trừ việc ông ta viếng thăm nông trại của mình ở Italia
và về thăm nhà ở Bắc Carolina.
Lehmann không hy vọng cứu Struharick ra khỏi Buôn Ma Thuột bằng phương viện phụ thuộc
vào người Nam Việt Nam. Không hy vọng Sài Gòn sẽ biệt phái-dù chỉ một người lính rời trận
đánh để giúp việc đưa một người Mỹ ra khỏi thị xã. Hy vọng giải pháp duy nhất do các nhân
viên sứ quán đề nghị là cho một trực thăng của Air America, hàng không của CIA do sứ quán
Mỹ “thuê” đến hạ cánh ở Buôn Ma Thuột để chộp lấy Struharick. Một chiếc trực thăng đã thử
làm đúng như thế vào buổi chiều hôm ấy, nhưng hoả lực tên lửa đất đối không tì vào vai để bắn
{ A -72 } đã có mặt ở đây khiến cho chiếc trực thăng UH-1 phải quay về sở chỉ huy Nha Trang.
Thế là Lehmann bị bó tay.
Vì mục đích tuyên truyền, người phát ngôn của Bộ tư lệnh ở Sài Gòn, trung tá Lê Trung Hiền
đã nói với các nhà báo vào ngày 11-3, cuộc tấn công Buôn Ma Thuột là một phần của cuộc tấn
công trên toàn quốc. Nhưng hành động và phản ứng của Sài Gòn cho thấy Hiền chỉ hô khẩu
hiệu mà thôi.
Thật ra, có một số rất ít người thực sự nghĩ rằng CS có cơ hội chiến thắng bằng quân sự trong
cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng cái thiểu số đó bị cười nhạo báng nhiều đến nỗi họ rất ít khi
dám nói dài dòng để bảo vệ lập luận của mình. Trong khi đóng tại Sài Gòn, trung sĩ Tăng và
những người của ông ta làm việc của họ với những bản đồ giả, tin tức tình báo giả và dữ kiện
sai lạc. Việc đánh lừa thành công. Trong khi lực lượng chiến đấu của Bắc Việt Nam di chuyển
đến Buôn Ma Thuột một cách bí mật thì bộ chỉ huy Sài Gòn lại điều lực lượng của họ khỏi Buôn
Ma Thuột để chống lại sự uy hiếp tưởng tượng ở Pleiku.
Một câu hỏi xác đáng là tại sao người Mỹ lại không di tản trước ra khỏi Buôn Ma Thuột? Hình
như có một niềm tin quá đáng của người Mỹ với quân đội Sài Gòn, cho rằng quân đội này hoàn
toàn đủ sức bảo vệ bất kỳ thị xã nào như Buôn Ma Thuột.
Nguyễn Văn Mười khôg phải là một người lính may mắn. Anh ta bị bắt lính vào quân đội Sài
Gòn lúc đang ở nhà tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vào năm 19 tuổi, cách đó hơn 4 năm về
trước. Tên của Mười là con số “10” trong tiếng Việt, và ngoài việc không thích quân đội, Mười
còn ghét cách chơi chữ thường xuyên của bạn đồng ngũ đối với tên anh ta. Tục danh của anh ta
là “năm-bơ ten” (number ten), tiếng lóng của lính Mỹ để chỉ cái gì “tồi tệ nhất”.
Mười không thích thú gì với cách khôi hài dai dẳng ấy, chẳng khác nào một người điều khiển
thang máy chán ngấy cái cảnh phải nghe người ta than phiền về những lúc lên lúc xuống trong
cuộc sống. Mười đã đảo ngũ một lần, bị quân cảnh bắt lại và bị đổi đến sư đoàn 23 ở Buôn Ma
Thuột như là một hình phạt. Sư đoàn 23 là nơi an trí cho nhiều lính quân dịch Nam Việt Nam
bất mãn và vì thế, nó là một trong những đơn vị yếu nhất trong số 13 sư đoàn chiến đấu của
Sài Gòn.
Sáng ngày hôm ấy, Mười nhận ra mình đang nằm trong hố cá nhân ở tường ngoài của văn
phòng ngôi nhà tỉnh trưởng, con người thế lực nhất tại Buôn Ma Thuột. Anh ta nghe thấy cuộc
giao tranh tiến gần trong 31 giờ qua khi anh ta quan sát từ hố cá nhân của mình.
Cũng như khoảng một tá lính khác ở trong và chung quanh ngôi nhà tỉnh trưởng, Mười không
biết rằng viên tỉnh trưởng đã trốn chạy mất rồi. Ông ta đã tìm nơi trú chân tại sở chỉ huy sư
đoàn 23. Thực ra cũng chẳng sao, chỉ có điều là Mười không biết rằng mình đang bảo vệ một
ngôi nhà trống.
Một chiếc xe tăng Bắc Việt Nam do Liên Xô chế tạo nghiến xích trên đường phố tiến đến
ngôi nhà viên tỉnh trưởng, tháp pháo đậy lại và trông có vẻ dữ tợn. Mười lặng người đi. Chiếc
tăng bắt đầu tiến vào nhà tỉnh trưởng. Khẩu đại bác 100 ly ở mặt trước của nó từ vị trí bắn bắt
đầu hạ xuống. Mười thình lình nhận ra rằng nó sắp sửa phá vỡ văn phòng tỉnh trưởng bằng lối
bắn thẳng. Trong tay Mười chỉ có súng M.16. Anh ta nằm úp sấp và nhắm mắt lại… lắng nghe
tiếng xe trườn trên lưng anh ta để xông vào nhà viên tỉnh trưởng. Hình như chiếc xe tăng
không định nghiến nát Mười dưới hàng xích của nó. Đến khi Mười mở mắt thì đã thấy lá cờ
xanh đỏ sao vàng của VC bay trên sở chỉ huy tiểu khu. CS đã có thể tuyên bố chiến thắng ở
Buôn Ma Thuột.
Phước Long là một đòn thử. Buôn Ma Thuột là kế hoạch. Kế hoạch đã xong được bước đầu.
Không có gì ngăn cản cộng sản đi các bước tiếp.
Chương 2 : Lỗi lầm chí tử
Không có dấu hiệu nào cho thấy Martin lại muốn hoặc có thể khuyên giải Thiệu đừng đi nước
cờ tai hoạ ngày 12-3. Ngày Thiệu đi nước cờ ấy, người Mỹ đã khen ngợi “đấy là giải pháp duy
nhất có thể được”. Nó chứng tỏ người Mỹ quá thiếu hiểu biết đối với người lính Sài Gòn mà họ
đang làm cố vấn. Một lý do khác biện hộ cho quyết định của Thiệu được đưa ra bởi tay phụ tá
quân sự cao cấp là Đặng Văn Quang. Theo lời tố cáo của phóng viên hãng truyền hình NBC
(1971) thì Quang là tay buôn lậu thuốc phiện lớn nhất nước và là kẻ chèo lái cho Thiệu trong
các vụ tham nhũng khác. Quang tuyên bố VC đã bắn tin đến dinh Độc Lập là hoặc phải rút sạch
khỏi Tây Nguyên hoặc là các thành phố này bị san thành bình địa. Câu chuyện hoàn toàn mang
tính chất tự bào chữa.
Đến ngày 15-3, quyết định của Thiệu rút bỏ Tây Nguyên đã thành hình. Buổi sáng thứ bảy hôm
ấy, Thiệu lên chiếc máy bay DC6 riêng của tổng thống và bảo phi công đi thẳng đến vịnh Cam
Ranh. Thiệu chọn Cam Ranh cho cuộc so găng với các tư lệnh quân đội bởi vì các tướng lĩnh sẽ
không thể về hùa với nhau để áp đảo Thiệu ở đó được. Căn cứ vốn ít được sử dụng đến và
không phải là sân nhà của bất cứ viên tư lệnh quân đội Sài Gòn nào. Sẽ không có “lợi thế sân
nhà” cho các tướng lĩnh trong phiên họp cãi vã mà Thiệu đoán chắc thế nào cũng xả ra.
Thiệu nghĩ không sai. Các tướng lĩnh Sài Gòn đã đón Thiệu gần cái đường bay dài gần 2 dặm
trên bãi cát Cam Ranh. Mấy phút sau khi đến nơi, Thiệu đã ra lệnh di tản Pleiku và Kontum.
Phạm Văn Phú choáng người. Viên tư lệnh quân đoàn 2 không thể nào chấp nhận một cuộc rút
lui trước khi nhập trận. Phú không đến nỗi bất ngờ trước quyết định đó của Thiệu vì đã nghe
tin đồn đó từ trước khi Thiệu triệu tập họp, nhưng Phú cứ làm ra vẻ kinh ngạc.
Phú đã hỏi Thiệu có nói đùa không? Làm sao có thể rút lui trước khi xảy ra cuộc tấn công? Phú
nói thậm chí không chắc có quân cs ở xung quanh Buôn Ma Thuột. Tiếp đó Phú trở nên giận dữ
khi Thiệu một mực nhắc lại những điều về vấn đề rút lui. Phú cãi lại rằng tất cả sẽ đổ sụp nếu
rút lui. Nhưng Thiệu khăng khăng một mực giữ vững lập luận cho rằng bám trụ Tây Nguyên chỉ
làm phí sinh mạng. Những người ấy có thể được sử dụng tốt hơn trong việc phòng ngự dải đất
duyên hải vốn có giá trị chiến lược và đông dân hơn.
Sau 90 phút, Thiệu nhắc lại lệnh rút bỏ cao nguyên. Thiệu giáp mặt Phú và bảo viên tướng
mắc bệnh lao phổi này rằng, chỉ có hai cách lựa chọn: hoặc là thi hành lệnh, hoặc bị thay thế và
ngồi tù để người khác thi hành lệnh. Thiệu quay gót, lên chiếc DC6 và bay về Sài Gòn. Còn Phú
lấy trực thăng lên sở chỉ huy ở Nha Trang.
Thế rồi cái gì đã xảy ra trong cơn sốt lúc bấy giờ được che phủ trong màn bí mật và những lời
tự bào chữa. Cuộc hành trình đầy nước mắt đã bắt đầu trong đêm chủ nhật 16-3 ấy. Các sĩ quan
Sài Gòn ra lệnh cho binh lính ủi sập thành phố và đốt cháy càng nhiều càng tốt. Trong khi đó,
các căn cứ quân sự lại gần như nguyên vẹn. Tại Pleiku và Kontum, 62 máy bay có khả năng cất
cánh bị bỏ lại. Một đài rada hàng triệu đôla với khả năng theo dõi sự di chuyển trên mặt đất và
trên không cũng như đường bay của tên lửa cũng bị bỏ lại nguyên vẹn.
Các phi công trực thăng thấy cơ hội làm ăn đã đến. Đám phi công do Mỹ huấn luyện ấy đã kiếm
được một số tiền đáng kể trên nỗi lo sợ của đồng bào họ. Giá một vé đi từ Pleiku ra bờ biển là
100 đôla đã nhanh chóng tăng lên đến một lạng vàng. Trong cuộc di tản, thậm chí nó còn lên
cao hơn nữa. Nhiều phi công đã kiếm đủ tiền tiêu xài suốt đời khi họ đến Hoa Kỳ bằng máy bay
chú Sam sau đó một tháng.
Các quân nhân Sài Gòn sớm nhận biết đây không phải là rút lui mà là cuộc rút chạy. Cuộc rút
chạy khỏi Tây Nguyên là dòng binh lính trà trộn vào dân, hoặc là binh lính kinh hoàng thấy dân
trà trộn với mình.
Đến thứ hai, các hãng tin phương Tây đánh đi những bản tin nói về sự bỏ rơi Tây Nguyên và
mặc dù chưa ai đoán chắc lệnh này xuất phát từ đâu nhưng có bằng chứng rõ ràng là cuộc ra đi
của binh lính và dân chúng đang tiến triển. Đến lúc này chính quyền Sài Gòn bị buộc phải nói
láo.
Như thường lệ. Lê Trung Hiền, nhận lấy công việc nói láo cho chính quyền. Trưa ngày chủ nhật,
16-3, Hiền họp báo trong cái phòng ngạt thở ở tầng trên một ngôi nhà ở đường Tự Do và nói
với các nhà báo đang hoang mang trước tin đồn bỏ rơi Pleiku rằng: “Sở chỉ huy quân đoàn 2
vẫn đóng ở Pleiku. Chỉ có bộ phận chỉ huy chiến thuật là đang dời về Nha Trang. Không có lệnh
nào di tản khỏi Pleiku cả…”.
Trưa thứ hai, Hiền lại tiếp tục câu chuyện giả dối này. Tại sao Hiền làm như thế-nói đúng hơn
là tại sao cấp trên lại ra lệnh cho Hiền tiếp tục làm như vậy? Thật khó mà biết được! Chỉ biết
khi bỏ rơi xong xuôi hai thành phố này, Hiền trơ mặt ra, uốn lưỡi nói với các nhà báo: “không
có quyết định bỏ rơi hai thành phố này. Một số đơn vị chúng tôi được chuyển khỏi vùng này,
chỉ vì lý do chiến thuật”.
“Phóng sự của các ông hoặc viết ra theo trí tưởng tượng, hoặc thiếu cơ sở sẽ gây bối rối và
kinh hoàng cho dân chúng Tây Nguyên”. Hiền nói với các nhà báo như vậy.
Khi hàng trăm nghìn người di tản đã chết thì Hiền lại họp báo, trưa thứ ba, có bớt gay gắt một
chút. Trưa thứ tư, 19-3, Hiền lại bọp báo, trình bày cuộc di tản như là “lớn nhất trong lịch sử
dân tộc Việt Nam” nhưng vẫn khăng khăng nói rằng quân đội Sài Gòn còn ở lại phía sau để
phòng thủ thành phố.
Đây là cách nói, cách nhìn của Sài Gòn. May mắn thay, thế giới không nhìn theo cách nhìn ấy.
Trong khi cuộc hành trình đó rời khỏi Pleiku, các đơn vị VC ở ngay sau lưng nó. Trong các đơn
vị ấy, cấp chỉ huy và binh lính đều do Bắc Việt Nam huấn luyện. Khi họ đi vào, thành phố đang
cháy âm ỉ. Bộ đội chiến đấu của họ tiến vào căn cứ không quân với súng ở tư thế sẵn sàng. Họ
chiếm giữ vành đai rộng lớn quanh căn cứ. Không ai đụng chạm đến cái rada trị giá 1 triệu đôla
hoặc bất kỳ thứ trang bị nào khác. Các chuyên viên sẽ đến xem xét các thiết bị do Mỹ chế tạo
mà lí...
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách : Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google :http://bit.ly/downloadsach
Vài lời của tác giả
Quyển sách này viết dựa trên sự việc thật. Cách giải thích sự kiện là của riêng tôi.
Tôi đã tự tiện trong hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là cách dùng tên. Nhiều người Nam
Việt Nam trong phe chiến bại yêu cầu tôi đừng dùng tên thật của họ trong các bản tin sau
“ngày giải phóng”. Điều ấy tôi không làm ở đây. Các viên chức và chiến sĩ cộng sản và viên chức
cao cấp Sài Gòn đều được ghi bằng tên thật của họ.
Trường hợp tự tiện thứ hai là trong mọt số hoàn cảnh cần phải cô lại các sự kiện đã diên ra ở
một nơi nào đó và phải cho chúng diễn ra với một nhân vật. Binh nhì Đức của thuỷ quân lục
chiến là trường hợp điển hình. Mọi sự kiện, thời gian đều đúng nhưng đôi khi không diễn ra với
Đức.
Sẽ có những người trong chính quyền mới ở Nam Việt Nam tức giận về những từ ngữ dùng
trong sách. Tôi đã sử dụng cách nói thông thường của báo chí. Tôi biết từ Việt Cộng, cộng sản…
làm họ khó chịu. Nhưng đấy là cách mà thế giới hiểu về họ.
…
Alan Dawson
Hoả tốc…
Chính phủ Sài Gòn đầu hàng
Trong nghề đưa tin, một bức điện hoả tốc là lời thỉnh cầu hành động. Nó cắt ngang bất kỳ một
bản tin nào đang chyển trên máy têlêtip. Chuông của máy reo mười lần, một dấu hiệu làm thót
bụng phòng nhận tin ở bất cứ nước nào trên thế giới. Điện hoả tốc không phải là một bản tin.
Nó là một đầu đề, chỉ có vài chữ báo hiệu một sự kiện trọng đại. Cuộc ám sát một tổng thống
Mỹ được xếp loại tin hoả tốc. Và lúc kết thúc chiến tranh Việt Nam cũng vậy.
Khi Dương Văn Minh đang nói, phóng viên UPI đánh máy ngay một điện hoả tốc và trao nó cho
nhân viên điều khiển máy têlêtíp. 40 giây sau, chuông của 7.500 máy têlêtip vòng quanh thế
giới reo lên 10 lần. Đám đông tụ tập lại trước mỗi máy và đây là cái họ đọc được:
“ZCZC VHAO 25 NXI
Hoả tốc…
Sài Gòn-Chính phủ Sài Gòn đầu hàng.
NTL 1021 Sáng”.
Một điện hoả tốc luôn luôn được lặp lại để tránh trường hợp bị nhẫm lẫn hoặc giả mạo. Sau đó
60 giây là một bản tin, như sau:
“ZCZ NNN
Bản tin…
Hoà bình-30/4
của Alan Dawson
Sài Gòn-30 tháng 4 (UPI) Tổng thống Dương Văn Minh hôm nay ra thông báo Nam Việt Nam
đầu hàng và ra lệnh binh sĩ thuộc chính quyền ngừng chiến đấu.
NTL 1022 Sáng”.
Nỗi kinh hoàng bị kiềm chế trong bản tin giật gân nhất của thập kỷ... Lẽ tất nhiên hầu hết phản
ứng ở Sài Gòn khác nhau khi dân chúng chuẩn bị sẵn sàng để đón sự kết thúc. Trong vòng 30
phút tiếng súng lẻ tẻ trên đường phố biến mất. Phần lớn tiếng súng ở khu phố trung tâm là bắn
chỉ thiên của kẻ cướp uy hiếp nạn nhân hoặc của những người đuổi theo bọn cướp giật. Bản
thân bọn cướp cũng phải vét mẻ cuối cùng và đi thẳng về nhà.
Các cửa thường và cửa sắt đều được khóa lại. Ngay cả những chủ tiệm và chủ nhà hàng người
Pháp ở Sài Gòn cũng đem bàn ghế vào nhà. Im lặng bao trùm thành phố.
Tại Cần Thơ, tướng ba sao Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh quân đoàn 4 và đồng bằng sông Cửu
Long cuối cùng phải nhận và mất hết cả rồi khi ông ta nghe bản tin phát thanh của Minh. Chiến
trường vùng châu thổ ít sôi động trong suốt cuộc tiến công. Bắc Việt Nam chọn lối đánh chớp
nhoáng từ Tây sang Đông và tiến từ Bắc xuống Nam, tới tận Sài Gòn. Trong vòng 30 phút sau
bài diễn văn của Minh và lệnh đầu hàng, Nam đã đưa khẩu súng ngắn “côn 45” vào miệng rồi
bóp cò và chết ngay tức khắc.
Những người lính dù, biệt động quân chiến bại, cay đắng từ phía Bắc và phía Tây vào thành
phố. Họ nổi giận, dù không tỏ vẻ kinh hoàng, sẵn sàng cướp giật và trong nhiều trường hợp,
sẵn sàng giết người nước ngoài. Thái độ họ bắt đầu thay đổi, phần lớn muốn vứt bỏ tất cả dấu
vết có dính líu đến quân đội. Trên một phố chính của Sài Gòn, đường Tự Do nơi mà trong nhiều
năm qua lính Mỹ đã chật ních trong các quán rượu và tiệm ăn, binh sĩ cởi quân phục và lập tức
trở thành thường dân. Nửa tá lính nhảy dù cởi bộ đồ trận rằn ri của họ, ném súng và đạn xuống
đất rồi chạy trốn đến nơi nào chẳng ai biết được. Quần áo dân sự bấy nay cất kín trong ba lô,
lúc này là thời điểm dùng đến. Cho nên, khi đến nơi, quân đội Bắc Việt Nam đã nhận thấy ít
binh sĩ mặc quân phục ra đầu hàng.
Như thường lệ, cảnh sát vẫn đi trước binh sĩ trong việc bỏ nhiệm sở. Tại một số bót cảnh sát
đã có cờ trắng. Sĩ quan cảnh sát hút xăng ra khỏi các xe Jeeps đổ vào xe gắn máy của họ, rồi về
nhà. Cảnh sát luôn luôn có áo quần dân sự để thay đổi.
Trong im lặng, Sài Gòn chờ đợi những người cầm quyền mới, trừ một bộ phận dân chúng và
Việt Cộng nằm vùng đang sung sướng tưởng có thể phát điên.
Tại “Dinh Độc Lập”, trong lúc chờ đợi đầu hàng, Minh lớn có vẻ ủ rũ, trầm ngâm và hai má hóp
lại. Những người thân tín của Minh cũng thế. Những chiếc xe tăng Bắc Việt Nam xuất hiện và
phá toang cổng dinh. Mấy người lính cộng sản tìm thấy cầu thang lên bao lơn sân thượng,lột bỏ
lá cờ vàng sọc đỏ của “Việt Nam Cộng hoà” và kéo lên thay bằng lá cờ xanh đỏ sao vàng của
Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Họ kéo vào văn phòng mà ngày trước Thiệu sử dụng. Họ ngồi
xuống ghế. Một người trong số đó đặt hai chân lên bàn làm việc của người tổng thống cũ-dấu
hiệu tột cùng của sự khinh bỉ-và để một nhà nhiếp ảnh chụp hình.
Tướng Hạnh cũng bàn giao Bộ tổng tham mưu và dẫn lấy người đại uý Việt Cộng đến “giải
phóng” toà nhà. Khoảng ba tá lính bảo vệ còn lại ở dinh được lệnh sắp hàng bên trong đội hình
của xe tăng Bắc Việt Nam. Họ được chỉ dẫn đưa vũ khí lên không trung, kéo khoá an toàn và
bóp cò. Một cách tượng trung, đó là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam.
Chương 1 : Mở màn
Trụ sở cơ quan tình báo trung ương Nam Việt Nam được đặt tại bờ sông Sài Gòn, cùng một
phía với Bộ tư lệnh hải quân. Từ các cửa sở của nó, người ta có thể nhìn thấy một quảng
trường lớn, với một pho tượng đồ sộ, tượng Trần Hưng Đạo, “Thành tổ” của hải quân Nam Việt
Nam.
Trong 5 năm, trung sĩ lục quân Lê Tăng đã làm việc tại một số phòng thuộc loại bí mật nhất
của phủ đặc uỷ trung ương tình báo. Những phòng này được canh giữ nghiêm mật bởi những
lính quân cảnh hoàn toàn tin cậy.
Một trong những công việc của trung sĩ Tăng là chọn lọc báo cáo của các nhân viên tình báo
chiến trường và các đội quân dã chiến. Anh ta cùng với một số ít chuyên viên tình báo khác
chọn lọc báo cáo, cố gắng phân biệt tin thật với tin giả, nhận ra những cuộc chuyển quân của
VC và Bắc Việt Nam qua lại trong 44 tỉnh của Nam Việt Nam. Có giá trị hơn hết bất cứ loại tin
tình báo nào khác mà các viên chức Sài Gòn nắm trong tay, những tin tức chuyển quân chính là
dấu hiệu để đoán xem CS sẽ tấn công ở nơi nào và đôi khi đoán được cả vào lúc nào.
Phạm vi chuyên môn của trung sĩ Tăng là vùng Sài Gòn, nhưng đến cuối tháng 1-1975, anh ta
nắm luôn công việc đánh dấu trên sơ đồ sự chuyển quân của Bắc Việt Nam ở vùng Tây Nguyên,
cách Sài Gòn hơn 200 dặm.
Tăng và các nhà phân tích báo cáo từ nhiều nguồn tin khác nhau trên nguyên tắc-và ngay cả
cấp trên họ-không được biết xuất xứ. Giống như tình báo CIA Mỹ, tình báo Nam Việt Nam cũng
chỉ phân phối tin tức một cách rất hạn chế. Tăng có được báo cáo và không cần biết nguồn tin.
Nhưng trải qua nhiều năm, anh ta đã đoán được xuất xứ của báo cáo, bằng cách học được lối
nhận ra một số mật danh, mật hiệu và cách hành văn, đoán xem báo cáo là của nhân viên tình
báo hay của những người chỉ huy các toán quân.
Một việc không bình thường đã xảy ra trong bộ phận của Tăng vào đầu tháng 2-1975 là trên
bàn làm việc của anh ta bắt đầu xuất hiện những báo cáo tình báo không đi qua hệ thống
chuyển tin thường lệ. Lần lượt, nội dung những báo cáo này đã được dùng để thiết lập bản đồ
tác chiến trong phủ tình báo rồi sau đó ở Bộ tổng tham mưu, dinh tổng thống, các cơ sở chỉ
huy quân đoàn, đại sứ quán Mỹ và sở chỉ huy quân đội Hoa Kỳ. Người ta còn nói rằng cả ở Lầu
Năm Góc và Nhà Trắng nữa.
Những bản đồ ấy mà chúng ta có thể gọi là bản đồ của Tăng, bởi vì chúng hoàn toàn là sản
phẩm của Tăng, cho thấy CS tập trung số quân khổng lồ xung quanh Pleiku và Kontum, hai
thành phố cách nhau 20 dặm và cách Sài Gòn 250 dặm về phía Bắc trên vùng Tây Nguyên.
Không ai đặt vấn đề với những bản đồ của Tăng. Anh ta là một chuyên viên và là nhà phân tích
có uy tín cao. Xét cho cùng, Tăng chỉ lập bản đồ theo các tài liệu trên bàn làm việc của mình và
theo những hồ sơ mật vốn xuất xứ từ báo cáo ở chiến trường.
Trong cách cư xử, trung sĩ Tăng chẳng qua chỉ là một binh sĩ Sài Gòn như mọi người khác,
chống + một cách ôn hoà, một người không đặc biệt nổi bật trừ công việc anh ta làm và năng
lực trí tuệ trên mức trung bình. Do sự thông minh ấy, Tăng được trọng dụng. Không có hoạt
động quân sự nào lớn xung quanh Kontum và Pleiku vào đầu năm 1975. Nó tập trung xa hẳn về
phía Nam, xung quanh thị xã Buôn Ma Thuột. Những báo cáo của trung sĩ Tăng và các bản đồ
từ đó mà vẽ ra đều là tài liệu giả.
Ngày 28-4, trung sĩ Tăng không đến làm việc tại phủ đặc uỷ. Cấp trên của anh ta cũng đang lo
sợ trong giờ phút Sài Gòn hấp hối, không chú ý đến sự vắng mặt này. Thực tế phần lớn trong
bọn họ cũng không ngồi tại bàn làm việc hôm ấy, mà đã ở Guam hoặc Philippin.
Tăng xuất hiện trở lại táig trong buổi sáng 30-4-“ngày giải phóng”. Suốt 72 giờ sau đó, anh ta
đã hướng dẫn các đơn vị quân đội Bắc Việt Nam, chỉ cho họ thấy các cơ sở chủ chốt, các khu cư
xá cần được lục soát hoặc cần được canh giữ. Ngày 3-5, đại uý Lê Tăng của lực lượng vũ trang
giải phóng nhân dân thuộc Cộng hoà miền Nam Việt Nam lên nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn
tình báo quân cảnh mà anh đã bí mật làm việc với họ trong hơn 3 năm qua.
Trong khi đó, quân đội Sài Gòn tan rã từng mảng. Có nhiều người nói rằng nó chưa bao giờ
được kết lại thành một khối vững chắc cả. Người Mỹ cũng tranh cãi với nhau xem ai là kẻ chịu
trách nhiệm về sự tồi tệ của quân đội ấy? Cốt lõi của quân đội Sài Gòn vào năm 1954 là lực
lượng Việt Nam thân Pháp được gom lại ở Nam Việt Nam khi lực lượng của ông Hồ Chí Minh
tiếp quản Hà Nội. Lúc ấy có những người Mỹ-nổi bật là đại tá E.Lansdale-một bóng ma trọn
vẹn-vẫn nghĩ rằng quân đội Sài Gòn phân nhỏ và cơ động. Họ lập luận rằng, quân đội này nên
được huấn luyện kỹ về chiến thuật chống du kích, chống nổi dậy, bởi vì đối thủ của họ-ít ra cho
đến thập kỷ 60-vẫn gồm phần lớn là du kích Việt Minh và cán bộ chính trị nằm lại ở Nam Việt
Nam.
Nhưng vì những lý do sai lầm, quân đội Sài Gòn buộc phải trở thành một đội quân lớn, thiếu cơ
động và huấn luyện tồi. Nó được trang bị loại vũ khí đúng là tốt nhất ở Đông Nam Á, đặc biệt từ
ngày Mỹ bắt đầu rút quân-ngày 10-7-1969, nhưng các sĩ quan của nó thường không thể sử
dụng những vũ khí này, còn các binh sĩ thì không đủ sức bảo quản chúng.
Khi mỹ nắm lấy các nỗ lực chiến tranh tại Việt Nam và bắt đầu “cố vấn” trực tiếp quân đội Sài
Gòn thì những người chủ trương một quân đội nhỏ, được huấn luyện cao về kỹ thuật chống du
kích đã đi vào lãng
quên và phần lớn không được đả động đến. Với họ, cái cần thiết là một đội quân lớn được trang
bị đầy đủ đối phó với sự xâm lược ào ạt qua khu phi quân sự như từng diễn ra ở Triều Tiên
năm 1950.
Thế là quân đội Sài Gòn ngày càng trở nên to lớn hơn. Đến năm 1975, trên giấy tờ, đội quân đã
tới hơn 1 triệu người. Nó tỏ ra hoàn toàn không có khả năng đối phó với quân du kích của thời
kỳ 12 và 15 năm trước. Không ai chịu nhìn nhận một sự thật nữa là nó còn bất lực trong việc
đối phó với những cuộc tấn công bằng quân chủ lực. Chính những sĩ quan Mỹ cho rằng chỉ có
không lực Hoa Kỳ mới cứu nổi Nam Việt Nam khỏi thất bại năm 1972 lại thường nói rằng quân
đội Sài Gòn đã chuyển mình một cách mầu nhiệm và bí hiểm thành một lực lượng chiến đấu có
hiệu quả.
Điều rõ ràng là quân đội Sài Gòn trở thành bộ phận chính trong hệ thống cấp bậc của chính
quyền Nam Việt Nam. Trừ Diệm không phải là tướng, khi Thiệu lên nắm chính quyền thì đã là
tướng ba sao. Bề ngoài Thiệu bỏ cấp bậc của mình nhưng cơ cấu quyền lực và hậu thuẫn cho
Thiệu đều bắt nguồn trực tiếp từ quân đội.
Điều mà ít người Mỹ và Nam Việt Nam phát hiện được vào tháng 3-1975 là tinh thần quân đội
Sài Gòn đang tan rã. Đội quân này chiến sĩ có vũ khí tốt hơn bất kỳ nước châu Á nào khác, có
nhiều máy bay chiến đấu hơn bất kỳ chính quyền chư hầu nào khác trên thế giới, có nhiều đạn
dược, xăng dầu, quân cụ, xe cộ và lương thực hơn hầu hết các quân đội trên thế giới. Nó chỉ
thiếu mỗi một điều thôi. Một người Mỹ nói với một binh sĩ Sài Gòn rằng: “Chúng tôi đã cho anh
mọi thứ anh cần, trừ sự dũng cảm. Chỉ tại anh không có thứ ấy”. Không có thứ ấy vì binh lính
thiếu ý muốn chiến đấu.
Việc người lính biết họ chiến đấu chống lại cái gì là rất quan trọng. Người lính Nam Việt Nam
đều nói là họ “chống cộng” nhưng điều ấy lại không phải là niềm tin. Từ trong tiềm thức, họ đã
tự hỏi mình chiến đấu cho cái gì đây? Câu trả lời là cho sự tiếp tục tồn tại của chế độ hiện tạimột chế độ ngày càng tham nhũng, ngày càng có sự cách biệt giữa kẻ giàu và người nghèo và
nạn lạm phát. Một số ít muốn chiến đấu để sống khá hơn. Những kẻ sống khá giả thì lại hướng
về cuộc sống không chiến đấu. Con trai, con gái và con rể của Thiệu đều ra nước ngoài du học.
Nếu có viên tướng Nam Việt Nam nào lại có con trong quân đội thì điều đó không được biết
công khai.
Ngược lại, người lính cộng sản biết họ đang chiến đấu cho cái gì: để “giải phóng” đồng bào bị
áp bức ở miền Nam và để xây dựng sự nghiệp cách mạng. Hỏi một chiến sĩ Bắc Việt Nam sau
khi chuộc chiến tranh chấm dứt:
-“Anh có mừng khi chiến tranh chấm dứt để giờ đây anh có thể trở về nhà được không?'
-“Tôi rất mừng khi chiến tranh chấm dứt!-Anh ta trả lời-Nhưng đây mới chỉ là một giai đoạn
cách mạng. Chúng tôi còn nhiều công việc trước mắt khi có thể trở về nhà!”. Người Bắc Việt
Nam được uốn nắn bằng những mục tiêu quyện vào nhau chặt chẽ: “Giải phóng miền Nam,
đuổi Mỹ khỏi đất nước, xây dựng Việt Nam thành một nước cộng sản thống nhất”.
Tháng 1-1975, một bước phát triển không được làm rùm beng ở nước ngoài, nhưng lại được
truyền miệng trong khắp hàng ngũ cấp dưới của quân đội Sài Gòn lúc bấy giờ. Nó chính là một
trong những cái đinh cuối cùng đóng lên chiếc quan tài của quân đội Sài Gòn. Việc đó xảy ra ở
thị trấn Phước Bình, thành phố chính của tỉnh Phước Long, nơi được CS chọn làm chỗ thử cho
cuộc tiến công năm 1975 của họ. Phước Bình rơi vào tay CS thành cái chìa khóa mở ra sự sụp
đổ cuối cùng của Nam Việt Nam không đầy 4 tháng sau đó.
Phước Bình không có lính chính quy đóng giữ. Khi bị tấn công, các tướng của quân đội Sài Gòn
chờ đợi cùng với Thiệu, con người luôn đòi cho được tiếng nói sau cùng trong bất kỳ cuộc giao
tranh quân sự quan trọng nào. Người ta chẳng làm vì cả. Đấy là một sự thật khó tin, nhưng đã
làm suy sụp toàn bộ tinh thần quân đội Sài Gòn.
Phản ứng của Mỹ là đáng kinh ngạc. Trên thực tế người Mỹ chẳng làm gì khi mất Phước Bình.
Chính quyền Mỹ bị buộc phải nói công khai rằng người Mỹ sẽ không bao giờ trở lại cuộc chiến
ở Nam Việt Nam dù trên đất liền, trên biển, trên không, trong bất cứ tình huống nào. Khi Hoa
Kỳ chỉ chấp nhận chiến đấu ở Việt Nam năm 1975 bằng lời nói chứ không phải bằng súng đạn
thì niềm vui tràn ngập ở Hà Nội.
Nguyễn Văn Thiệu theo dõi diễn biến trận đánh Buôn Ma Thuột từ văn phòng mình trong dinh
Độc Lập, một toà nhà hình hộp nằm trên một nền đất rộng lớn, cách toà đại sứ Mỹ ở Sài Gòn
hai khu phố. Dinh do Ngô Đình Diệm xây vào những năm 60 bằng tiền của Mỹ, nhưng Diệm
không sống nổi đến lúc dinh được hoàn thành.
Nằm gần trên cùng trong đống hồ sơ “lưu” của Thiệu là một kế hoạch được các nhà vạch kế
hoạch trong Bộ tổng tham mưu trình lên vào tháng giêng để đối phó với những bất ngờ. Về
thực chất, nó kêu gọi rút quân trên phần lớn đất nước để đội quân trên 1 triệu người của Sài
Gòn có thể bảo vệ những khu vực đông dân.
Thiệu có thể quan sát biến cố Buôn Ma Thuột. Kế hoạch kêu gọi một cuộc rút lui toàn bộ ra
khỏi hầu hết Tây Nguyên, một khu vực từ Bắc Buôn Ma Thuột trùm lên phía Tây của Nam Việt
Nam. Các đại tá vạch kế hoạch và các tướng lĩnh phê chuẩn nó nói rằng trong địa thế hiểm trở,
không thể nào phòng thủ được trước bất kỳ cuộc tập trung quy mô lớn nào của quân CS. Cuộc
tập trung ấy rõ ràng đang được tiến hành vào đầu năm 1975.
Theo các nhà vạch kế hoạch, phải rút khỏi những vùng thưa dân. Nếu cuộc rút lui được tổ chức
tốt, được giữ bí mật để trong vài ngày có thể di chuyển cả quân đội lẫn dân chúng cư ngụ trong
thành phố thì có thể chyển sang ngăn chặn bước tiến của CS vào các vùng đồng bằng duyên hải
quan trọng hơn.
Khi kế hoạch trình lên hồi tháng giêng. Thiệu đã xem xét một cách nghiêm chỉnh, xếp nó vào
hồ sơ vì lập trường không lay chuyển của Thiệu là không bỏ một tấc đất đã chiếm giữ. Nhưng
kế hoạch lại có lý đến nỗi Thiệu không thể bác bỏ thẳng thừng được, nên đã giữ nó trong tay
theo đúng tính chất của nó-một kế hoạch để đối phó với những sự bất ngờ. Vấn đề là khi sự bất
ngờ đã xảy ra thì Thiệu chẳng còn đủ sức thực hiện kế hoạch như đã vạch ra nữa.
Nhờ vào hệ thống thông tin liên lạc tương đối tinh vi được lắp đặt trong dinh Độc Lập. Đại tá
E.Lansdale, con người của Bộ quốc phòng-CIA-Bộ ngoại giao Mỹ đã cho lắp đặt hệ thống này từ
năm 1955. Nó đi song song nhưng không lệ thuộc vào hệ thống truyền tin quân sự Nam Việt
Nam. Trải qua nhiều năm, hệ thống thông tin liên lạc được hoàn chỉnh, cải tiến càng hiện đại.
Cho đến khi mất Buôn Ma Thuột, Thiệu vẫn có thể nói chuyện thẳng với các sĩ quan chiến
trường. Trong khi các quân sư của tổng thống tung tin rằng CS đang bị đẩy lùi bởi những cuộc
phản công thì Thiệu lại biết những điều khác hẳn. Trong hoàn cảnh khó khăn, Thiệu quan sát
bản đồ tình huống trong văn phòng của mình và không thích gì những điều đang diễn ra trước
mặt. Thậm chí Thiệu cũng chẳng biết rằng, các bản đồ đang lừa dối mình, vì lực lượng tình báo
Sài Gòn đã không biết và hiểu biết sai lạc do trung sĩ Tăng và những VC xâm nhập khác đánh
lừa.
Cái mà Thiệu không biết và do đó nước cờ sắp tới của tổng thống trở thành quyết định
trọng yếu và độc nhất dẫn tới việc mất toàn bộ Nam Việt Nam là: bộ đội CS không thực sự ở tại
nơi mà bản đồ chỉ ra nó. Những người lính Bắc Việt Nam mà người ta tưởng rằng đang ở xung
quanh Pleiku, trên thực tế lại đang chiến đấu hay chờ lệnh tấn công ở nam Buôn Ma Thuột.
Một lý do chính về sự đổ vỡ trong hệ thống tình báo là quân đội Sài Gòn chẳng còn chú ý gì đến
công tác thu lượm tin tức tình báo. Dù thế nào thì họ vẫn chưa bao giờ làm đủ các cuộc do
thám tầm xa. Khi các toán trinh sát của Mỹ ra đi trong những năm 1969-1970, quân đội Sài
Gòn không đủ sức lấp lỗ trông sinh tử này.
Vào khoảng thời gian mà những lá cờ xanh đỏ sao vàng được kéo lên trong các vùng VC vừa
chiếm được ở Buôn Ma Thuột ngày 12-3, thì Thiệu đang quyết định nước cờ định mệnh. Theo
như người ta được biết, Thiệu không thảo luận với ai cả và cũng đã không trao đổi ý kiến cả với
người Mỹ.
Đại sứ Hoa Kỳ G.Martin lúc ấy lại không ở tại Sài Gòn. Ông ta đang kéo dài kỳ nghỉ vốn đã quá
dài nằm tại nhà ở bang Bắc Carolina trong lúc Thiệu muốn nói chuyện với ông ta. Vì Thiệu
không tin người Mỹ nào khác ngoài Martin lúc đó,thành ra khi Thiệu cần một cái vai Mỹ để dựa
thì đạidiện của Washington lại không ở cạnh đó.
W.Lehmann ngồi làm việc khuya tại văn phòng của mình ở Sài Gòn, tạm thay thế cho đại sứ
Martin đang vắng mặt quá lâu trong kỳ nghỉ phép, đang gặp rắc rối về vụ một viên chức Mỹ là
Struharick đang bị mắc kẹt ở Buôn Ma Thuột. Một viên chức Mỹ bị bắt sẽ gây rắc rối thế nào
cho Hoa Kỳ ? Đáng lẽ Mỹ đã phải nằm ngoài cuộc chiến tranh Việt Nam. Các bức điện ngắn đầy
hốt hoảng từ Bộ ngoại giao và Nhà Trắng thông báo cho Lehmann rằng không được từ một nỗ
lực nào trong việc giải cứu Struharick ra khỏi Buôn Ma Thuột là một vấn đề khó xử mà
Lehmann vẫn phải vật lộn với nó.
Lehmann ước ao Martin có mặt ở Sài Gòn để chính ông ta tự quyết định lấy. Lehmann biết, nếu
Struharick bị bỏ lại, rõ ràng Martin sẽ nối cáu với ông ta. Lehmann không biết khi nào Martin
mới có thể trở lại Sài Gòn, vì Martin đã cắt liên lạc với sứ quán như ông ta vẫn làm trong mùa
hè vừa qua, khi vắng mặt lâu dài khỏi nhiệm sở ở Sài Gòn. Thậm chí không ai biết Martin đã đi
đâu trong thời gian tạm rời khỏi Sài Gòn, trừ việc ông ta viếng thăm nông trại của mình ở Italia
và về thăm nhà ở Bắc Carolina.
Lehmann không hy vọng cứu Struharick ra khỏi Buôn Ma Thuột bằng phương viện phụ thuộc
vào người Nam Việt Nam. Không hy vọng Sài Gòn sẽ biệt phái-dù chỉ một người lính rời trận
đánh để giúp việc đưa một người Mỹ ra khỏi thị xã. Hy vọng giải pháp duy nhất do các nhân
viên sứ quán đề nghị là cho một trực thăng của Air America, hàng không của CIA do sứ quán
Mỹ “thuê” đến hạ cánh ở Buôn Ma Thuột để chộp lấy Struharick. Một chiếc trực thăng đã thử
làm đúng như thế vào buổi chiều hôm ấy, nhưng hoả lực tên lửa đất đối không tì vào vai để bắn
{ A -72 } đã có mặt ở đây khiến cho chiếc trực thăng UH-1 phải quay về sở chỉ huy Nha Trang.
Thế là Lehmann bị bó tay.
Vì mục đích tuyên truyền, người phát ngôn của Bộ tư lệnh ở Sài Gòn, trung tá Lê Trung Hiền
đã nói với các nhà báo vào ngày 11-3, cuộc tấn công Buôn Ma Thuột là một phần của cuộc tấn
công trên toàn quốc. Nhưng hành động và phản ứng của Sài Gòn cho thấy Hiền chỉ hô khẩu
hiệu mà thôi.
Thật ra, có một số rất ít người thực sự nghĩ rằng CS có cơ hội chiến thắng bằng quân sự trong
cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhưng cái thiểu số đó bị cười nhạo báng nhiều đến nỗi họ rất ít khi
dám nói dài dòng để bảo vệ lập luận của mình. Trong khi đóng tại Sài Gòn, trung sĩ Tăng và
những người của ông ta làm việc của họ với những bản đồ giả, tin tức tình báo giả và dữ kiện
sai lạc. Việc đánh lừa thành công. Trong khi lực lượng chiến đấu của Bắc Việt Nam di chuyển
đến Buôn Ma Thuột một cách bí mật thì bộ chỉ huy Sài Gòn lại điều lực lượng của họ khỏi Buôn
Ma Thuột để chống lại sự uy hiếp tưởng tượng ở Pleiku.
Một câu hỏi xác đáng là tại sao người Mỹ lại không di tản trước ra khỏi Buôn Ma Thuột? Hình
như có một niềm tin quá đáng của người Mỹ với quân đội Sài Gòn, cho rằng quân đội này hoàn
toàn đủ sức bảo vệ bất kỳ thị xã nào như Buôn Ma Thuột.
Nguyễn Văn Mười khôg phải là một người lính may mắn. Anh ta bị bắt lính vào quân đội Sài
Gòn lúc đang ở nhà tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vào năm 19 tuổi, cách đó hơn 4 năm về
trước. Tên của Mười là con số “10” trong tiếng Việt, và ngoài việc không thích quân đội, Mười
còn ghét cách chơi chữ thường xuyên của bạn đồng ngũ đối với tên anh ta. Tục danh của anh ta
là “năm-bơ ten” (number ten), tiếng lóng của lính Mỹ để chỉ cái gì “tồi tệ nhất”.
Mười không thích thú gì với cách khôi hài dai dẳng ấy, chẳng khác nào một người điều khiển
thang máy chán ngấy cái cảnh phải nghe người ta than phiền về những lúc lên lúc xuống trong
cuộc sống. Mười đã đảo ngũ một lần, bị quân cảnh bắt lại và bị đổi đến sư đoàn 23 ở Buôn Ma
Thuột như là một hình phạt. Sư đoàn 23 là nơi an trí cho nhiều lính quân dịch Nam Việt Nam
bất mãn và vì thế, nó là một trong những đơn vị yếu nhất trong số 13 sư đoàn chiến đấu của
Sài Gòn.
Sáng ngày hôm ấy, Mười nhận ra mình đang nằm trong hố cá nhân ở tường ngoài của văn
phòng ngôi nhà tỉnh trưởng, con người thế lực nhất tại Buôn Ma Thuột. Anh ta nghe thấy cuộc
giao tranh tiến gần trong 31 giờ qua khi anh ta quan sát từ hố cá nhân của mình.
Cũng như khoảng một tá lính khác ở trong và chung quanh ngôi nhà tỉnh trưởng, Mười không
biết rằng viên tỉnh trưởng đã trốn chạy mất rồi. Ông ta đã tìm nơi trú chân tại sở chỉ huy sư
đoàn 23. Thực ra cũng chẳng sao, chỉ có điều là Mười không biết rằng mình đang bảo vệ một
ngôi nhà trống.
Một chiếc xe tăng Bắc Việt Nam do Liên Xô chế tạo nghiến xích trên đường phố tiến đến
ngôi nhà viên tỉnh trưởng, tháp pháo đậy lại và trông có vẻ dữ tợn. Mười lặng người đi. Chiếc
tăng bắt đầu tiến vào nhà tỉnh trưởng. Khẩu đại bác 100 ly ở mặt trước của nó từ vị trí bắn bắt
đầu hạ xuống. Mười thình lình nhận ra rằng nó sắp sửa phá vỡ văn phòng tỉnh trưởng bằng lối
bắn thẳng. Trong tay Mười chỉ có súng M.16. Anh ta nằm úp sấp và nhắm mắt lại… lắng nghe
tiếng xe trườn trên lưng anh ta để xông vào nhà viên tỉnh trưởng. Hình như chiếc xe tăng
không định nghiến nát Mười dưới hàng xích của nó. Đến khi Mười mở mắt thì đã thấy lá cờ
xanh đỏ sao vàng của VC bay trên sở chỉ huy tiểu khu. CS đã có thể tuyên bố chiến thắng ở
Buôn Ma Thuột.
Phước Long là một đòn thử. Buôn Ma Thuột là kế hoạch. Kế hoạch đã xong được bước đầu.
Không có gì ngăn cản cộng sản đi các bước tiếp.
Chương 2 : Lỗi lầm chí tử
Không có dấu hiệu nào cho thấy Martin lại muốn hoặc có thể khuyên giải Thiệu đừng đi nước
cờ tai hoạ ngày 12-3. Ngày Thiệu đi nước cờ ấy, người Mỹ đã khen ngợi “đấy là giải pháp duy
nhất có thể được”. Nó chứng tỏ người Mỹ quá thiếu hiểu biết đối với người lính Sài Gòn mà họ
đang làm cố vấn. Một lý do khác biện hộ cho quyết định của Thiệu được đưa ra bởi tay phụ tá
quân sự cao cấp là Đặng Văn Quang. Theo lời tố cáo của phóng viên hãng truyền hình NBC
(1971) thì Quang là tay buôn lậu thuốc phiện lớn nhất nước và là kẻ chèo lái cho Thiệu trong
các vụ tham nhũng khác. Quang tuyên bố VC đã bắn tin đến dinh Độc Lập là hoặc phải rút sạch
khỏi Tây Nguyên hoặc là các thành phố này bị san thành bình địa. Câu chuyện hoàn toàn mang
tính chất tự bào chữa.
Đến ngày 15-3, quyết định của Thiệu rút bỏ Tây Nguyên đã thành hình. Buổi sáng thứ bảy hôm
ấy, Thiệu lên chiếc máy bay DC6 riêng của tổng thống và bảo phi công đi thẳng đến vịnh Cam
Ranh. Thiệu chọn Cam Ranh cho cuộc so găng với các tư lệnh quân đội bởi vì các tướng lĩnh sẽ
không thể về hùa với nhau để áp đảo Thiệu ở đó được. Căn cứ vốn ít được sử dụng đến và
không phải là sân nhà của bất cứ viên tư lệnh quân đội Sài Gòn nào. Sẽ không có “lợi thế sân
nhà” cho các tướng lĩnh trong phiên họp cãi vã mà Thiệu đoán chắc thế nào cũng xả ra.
Thiệu nghĩ không sai. Các tướng lĩnh Sài Gòn đã đón Thiệu gần cái đường bay dài gần 2 dặm
trên bãi cát Cam Ranh. Mấy phút sau khi đến nơi, Thiệu đã ra lệnh di tản Pleiku và Kontum.
Phạm Văn Phú choáng người. Viên tư lệnh quân đoàn 2 không thể nào chấp nhận một cuộc rút
lui trước khi nhập trận. Phú không đến nỗi bất ngờ trước quyết định đó của Thiệu vì đã nghe
tin đồn đó từ trước khi Thiệu triệu tập họp, nhưng Phú cứ làm ra vẻ kinh ngạc.
Phú đã hỏi Thiệu có nói đùa không? Làm sao có thể rút lui trước khi xảy ra cuộc tấn công? Phú
nói thậm chí không chắc có quân cs ở xung quanh Buôn Ma Thuột. Tiếp đó Phú trở nên giận dữ
khi Thiệu một mực nhắc lại những điều về vấn đề rút lui. Phú cãi lại rằng tất cả sẽ đổ sụp nếu
rút lui. Nhưng Thiệu khăng khăng một mực giữ vững lập luận cho rằng bám trụ Tây Nguyên chỉ
làm phí sinh mạng. Những người ấy có thể được sử dụng tốt hơn trong việc phòng ngự dải đất
duyên hải vốn có giá trị chiến lược và đông dân hơn.
Sau 90 phút, Thiệu nhắc lại lệnh rút bỏ cao nguyên. Thiệu giáp mặt Phú và bảo viên tướng
mắc bệnh lao phổi này rằng, chỉ có hai cách lựa chọn: hoặc là thi hành lệnh, hoặc bị thay thế và
ngồi tù để người khác thi hành lệnh. Thiệu quay gót, lên chiếc DC6 và bay về Sài Gòn. Còn Phú
lấy trực thăng lên sở chỉ huy ở Nha Trang.
Thế rồi cái gì đã xảy ra trong cơn sốt lúc bấy giờ được che phủ trong màn bí mật và những lời
tự bào chữa. Cuộc hành trình đầy nước mắt đã bắt đầu trong đêm chủ nhật 16-3 ấy. Các sĩ quan
Sài Gòn ra lệnh cho binh lính ủi sập thành phố và đốt cháy càng nhiều càng tốt. Trong khi đó,
các căn cứ quân sự lại gần như nguyên vẹn. Tại Pleiku và Kontum, 62 máy bay có khả năng cất
cánh bị bỏ lại. Một đài rada hàng triệu đôla với khả năng theo dõi sự di chuyển trên mặt đất và
trên không cũng như đường bay của tên lửa cũng bị bỏ lại nguyên vẹn.
Các phi công trực thăng thấy cơ hội làm ăn đã đến. Đám phi công do Mỹ huấn luyện ấy đã kiếm
được một số tiền đáng kể trên nỗi lo sợ của đồng bào họ. Giá một vé đi từ Pleiku ra bờ biển là
100 đôla đã nhanh chóng tăng lên đến một lạng vàng. Trong cuộc di tản, thậm chí nó còn lên
cao hơn nữa. Nhiều phi công đã kiếm đủ tiền tiêu xài suốt đời khi họ đến Hoa Kỳ bằng máy bay
chú Sam sau đó một tháng.
Các quân nhân Sài Gòn sớm nhận biết đây không phải là rút lui mà là cuộc rút chạy. Cuộc rút
chạy khỏi Tây Nguyên là dòng binh lính trà trộn vào dân, hoặc là binh lính kinh hoàng thấy dân
trà trộn với mình.
Đến thứ hai, các hãng tin phương Tây đánh đi những bản tin nói về sự bỏ rơi Tây Nguyên và
mặc dù chưa ai đoán chắc lệnh này xuất phát từ đâu nhưng có bằng chứng rõ ràng là cuộc ra đi
của binh lính và dân chúng đang tiến triển. Đến lúc này chính quyền Sài Gòn bị buộc phải nói
láo.
Như thường lệ. Lê Trung Hiền, nhận lấy công việc nói láo cho chính quyền. Trưa ngày chủ nhật,
16-3, Hiền họp báo trong cái phòng ngạt thở ở tầng trên một ngôi nhà ở đường Tự Do và nói
với các nhà báo đang hoang mang trước tin đồn bỏ rơi Pleiku rằng: “Sở chỉ huy quân đoàn 2
vẫn đóng ở Pleiku. Chỉ có bộ phận chỉ huy chiến thuật là đang dời về Nha Trang. Không có lệnh
nào di tản khỏi Pleiku cả…”.
Trưa thứ hai, Hiền lại tiếp tục câu chuyện giả dối này. Tại sao Hiền làm như thế-nói đúng hơn
là tại sao cấp trên lại ra lệnh cho Hiền tiếp tục làm như vậy? Thật khó mà biết được! Chỉ biết
khi bỏ rơi xong xuôi hai thành phố này, Hiền trơ mặt ra, uốn lưỡi nói với các nhà báo: “không
có quyết định bỏ rơi hai thành phố này. Một số đơn vị chúng tôi được chuyển khỏi vùng này,
chỉ vì lý do chiến thuật”.
“Phóng sự của các ông hoặc viết ra theo trí tưởng tượng, hoặc thiếu cơ sở sẽ gây bối rối và
kinh hoàng cho dân chúng Tây Nguyên”. Hiền nói với các nhà báo như vậy.
Khi hàng trăm nghìn người di tản đã chết thì Hiền lại họp báo, trưa thứ ba, có bớt gay gắt một
chút. Trưa thứ tư, 19-3, Hiền lại bọp báo, trình bày cuộc di tản như là “lớn nhất trong lịch sử
dân tộc Việt Nam” nhưng vẫn khăng khăng nói rằng quân đội Sài Gòn còn ở lại phía sau để
phòng thủ thành phố.
Đây là cách nói, cách nhìn của Sài Gòn. May mắn thay, thế giới không nhìn theo cách nhìn ấy.
Trong khi cuộc hành trình đó rời khỏi Pleiku, các đơn vị VC ở ngay sau lưng nó. Trong các đơn
vị ấy, cấp chỉ huy và binh lính đều do Bắc Việt Nam huấn luyện. Khi họ đi vào, thành phố đang
cháy âm ỉ. Bộ đội chiến đấu của họ tiến vào căn cứ không quân với súng ở tư thế sẵn sàng. Họ
chiếm giữ vành đai rộng lớn quanh căn cứ. Không ai đụng chạm đến cái rada trị giá 1 triệu đôla
hoặc bất kỳ thứ trang bị nào khác. Các chuyên viên sẽ đến xem xét các thiết bị do Mỹ chế tạo
mà lí...
 





