BẢN TIN THƯ VIỆN

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

CẨM NANG KIẾN THỨC THÚ VỊ

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg CangBien.jpg TG10.jpg

    Sự nỗ lực tạo nên kỳ tích Những Câu chuyện bồi dưỡng năng lực tự chủ và tự học

    10 cố gái ngã ba Đồng Lộc

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 16h:21' 17-04-2024
    Dung lượng: 817.4 KB
    Số lượt tải: 7
    Số lượt thích: 0 người
    Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
    Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
    Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
    Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach

    MỤC LỤC
    Lời Tựa
    1
    2
    3
    5
    6
    7
    8
    Đêm
    NGÀY
    PHẦN III. PHỤ LỤC
    SỐNG LẠI MỘT NGÃ BA ĐỒNG LỘC
    GẶP TÁC GIẢ ĐẦU TIÊN VIẾT TRUYỆN KÝ VỀ MƯỜI CÔ GÁI THANH NIÊN XUNG PHONG HY
    SINH Ở NGÃ BA ĐỒNG LỘC
    THƯ CỦA NGƯỜI NHÀ LIỆT SĨ DƯƠNG THỊ XUÂN GỬI TÁC GIẢ NGHIÊM VĂN TÂN
    MỘT TẬP SÁCH - MỘT ĐỜI VĂN

    Lời Tựa
    Đài Hoa Tím kể chuyện mười cô gái thanh niên xung phong đã hy sinh trong khi đảm bảo huyết
    mạch giao thông ở Ngã Ba Đồng Lộc, trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước.
    Tác giả là một công nhân luyện gang, luyện thép ở Khu Gang thép Thái Nguyên, đồng thời là một
    bạn văn chương. Tôi đã đọc Đài Hoa Tím từ khi sách mới "ra lò", nói theo cách của công nhân gang
    thép, mùi giấy còn thơm. Nhưng đến lần tái bản này, vẫn một Đài Hoa Tím năm nào, tôi đọc với một
    cảm giác khác hẳn.
    Tác phẩm được bổ sung thêm phần hai gồm hai chương Đêm và Ngày và hay hơn hẳn. Đêm không
    kể chuyện các cô gái Tiểu đội Đồng Lộc nữa, mà kể chuyện chính tác giả đi tìm lại cuộc đời các cô ra
    sao, lặn lội bao nhiêu lần, vất vả ra sao, đã hoàn thành tác phẩm như thế nào. Không phải để khoe
    công mà trái lại, để thú nhận sự bất cập của tài văn trước một thực tế chiến trường vĩ đại, trước những
    tấm gương anh hùng còn tiềm ẩn những triết lý sâu xa của những đời thường của một dân tộc đang
    đứng lên tìm lại mình. Hóa ra, sự thú nhận của tác giả lại chính là một nét tiêu biểu của giới văn
    chương hôm nay trước đề tài chiến tranh còn nguyên vẹn những đòi hỏi, những khát vọng được tìm
    hiểu và tái hiện với một tầm cao tương xứng. Tác phẩm toát lên một tấm lòng biết ơn không bờ bến của
    nhân dân ta với những người ngã xuống trên chiến trường. Ngày kể chuyện viễn tưởng vào năm 2018,
    nhân vật Tôi (tác giả) cùng bầu đoàn con cháu của mình trở lại Đồng Lộc và thấy lòng biết ơn đó được
    nâng lên một tầm cao như thế nào. Thật thú vị.
    Từ lâu tôi đã làm bài Hà Lạc cho Nghiêm Văn Tân, khi ấy bạn bè còn gọi anh bằng cái tên quen
    thuộc là Đồng Tâm (chính cái tên này mới nói lên cái mệnh của anh). Có lẽ vì cái mệnh như thế nên
    giời đất xui khiến anh bỏ quê Hà Nội lên Thái Nguyên làm công nhân gang thép. Và khi mơ mộng làm
    văn chương thì chọn cái đề tài vô cùng khó khăn đối với chàng trai Hà Nội - Thái Nguyên miêu tả
    hành động anh hùng (có sức kêu gọi và quy tụ lòng người) của mười cô gái trên đất lửa Đồng Lộc.
    Trong thực tế Nghiêm Văn Tân đã thấy đây là một công việc lớn đối với anh nên anh đã bỏ một phần
    đời của mình, mười năm chứ không ít, để có được gần 200 trang, và nay là gần 300 trang 10 cô gái
    Ngã Ba Đồng Lộc.
    Đọc cuốn sách này ta sẽ thấy anh biến thành một người của Hà Tĩnh. Câu sau đây ta biết anh "thuộc"
    Hà Tĩnh thế nào: Qua cầu Phố Châu đến cầu Kè, cầu Tấn, cầu Sến, cầu Hà Tân. Qua cầu Nan Nhe,
    đến cầu Sài Phố, rồi đến cầu Mãn Châu là đến xã Sơn Hồng.
    Có thể nói đây là tác phẩm "mệnh" của Nghiêm Văn Tân, anh đã viết với tất cả tinh hoa của đời
    mình, mà anh vẫn chưa cho thế là đủ.
    Ngày 8 tháng 12 năm Giáp Thân

    (17 tháng 01 năm 2005)
    Xuân Cang

    1
    Một buổi chiều cuối tháng sáu năm 1968...
    - Đồng chí Võ Thị Tần! - Có tôi.
    - Đồng chí báo cáo việc chuẩn bị cho A4 vào Ngã Ba Đồng Lộc.
    - Báo cáo: Tất cả đã sẵn sàng. - Tần ngập ngừng. - Một số chị em còn ngày nghỉ bù. Cần cho về
    thăm gia đình trước khi vào Đồng Lộc. Rồi đây sẽ... gay go, ít có thời gian...
    Đại đội trưởng C552 Nguyễn Thế Linh gật đầu:
    - Đồng ý. Nên mang bớt tư trang về nhà. Chỉ để lại những thứ gì thật cần thiết! - Rõ.
    - Đồng chí phải chịu trách nhiệm trước đại đội về việc chị em "đi đến nơi, về đến chốn!".
    - Rõ.
    - Các đồng chí về triển khai những công việc đã bàn. Giải tán! Các tiểu đội trưởng thanh niên xung
    phong của C552 nhanh nhẹn đứng dậy, chỉ một loáng đã đi gần hết.
    Tần còn ở lại. Linh vừa cài nắp xà cột, vừa đi đến chỗ Tần đứng. Anh dịu dàng hỏi Tần:
    - Còn việc chi nữa, Tần? - Tôi muốn ra thăm hiện trường mới.
    Linh nhìn lên bầu trời. Trời xanh thăm thẳm... Anh nhìn Tần. Gương mặt Tần bình thản, tự tin. Hai
    gò má hơi cao ửng hồng. Đôi mắt Tần nhìn thẳng, trong veo. Một cái nhìn mạnh mẽ, sâu sắc. Linh hơi
    bối rối:
    - Cũng được. Nhưng phải cẩn thận. Còn thừa thời gian để chúng đánh bom dăm trận. Có lẽ...Tần chỉ
    nên lên Rú Mòi quan sát, cho an toàn. Dứt khoát không được ra Ngã Ba...
    Tần mỉm cười:
    - Anh cứ yên tâm. Tôi sẽ "đi đến nơi, về đến chốn".
    Linh cười:
    - Có thế, người ở chiến trường xa sau này mới được nhờ.
    Tần đỏ mặt, quay ngoắt bước đi nhanh. đôi bím tóc sau lưng đung đưa.
    Tần cầm bó hoa mua vừa hái dọc đường. Những canh hoa phủ đầy bụi đất đỏ.
    Cô băng qua dãy hố bom đỏ quạch còn khét lẹt mùi thuốc đắng, lên đến đỉnh cao nhất của Rú Mòi

    vào lúc mặt trời sắp lặn về phía bên kia dãy núi Mũi Mác.
    Bộ quần áo thanh niên xung phong bạc màu ướt dẫm mồ hôi. Tần đi nhanh đến nỗi chiếc công sự
    tròn có lối thông sang đoạn giao thông hào lát nắp chắc chắn. Mấy tàu lá tro che tạm trên chỗ Tần đứng
    đã xộc xệch, qua kẽ lá lộ ra những mảnh trời xanh.
    Một đài quan sát đơn sơ. Nhưng chính ở nơi đây, La Thị Tám - Thái Văn A của Đồng Lộc - đã đứng
    một trăm mười sáu ngày quan sát máy bay địch, đếm bom rơi, rồi vác bó tiêu kẹp mảnh mo cau trắng
    xuống tìm bom.
    Tám cắm tiêu cạnh những cánh đuôi bom từ trường và những hút bom chưa nổ, đánh dấu cho các tổ
    phá bom của công binh và thanh niên xung phong tìm đến.
    Tám ở Cầu Nhe, Vĩnh Lộc - cùng huyện Can Lộc với Tần. Hai người chưa lần nào gặp nhau. Tần
    vẫn mong có ngày gặp Tám ở Ngã Ba Đồng Lộc, để học hỏi kinh nghiệm chiến đấu. Nhưng Tám lại
    được điều về đường Một gần Thượng Gia. Tần mới nghe tên, chưa gặp người.
    Tần đặt bó hoa mua lên thành công sự rồi nhìn toàn cảnh Đồng Lộc.
    Trước đây, khu vực này cây cối um tùm. Ruộng đồng xanh tốt, mượt mà. Nhà cửa san sát như bát
    úp. Con mương Linh Cảm dẫn nước qua cầu Cây Muỗm, qua xóm Đồng Mỹ, về cánh đồng Trường
    Thành dưới chân Rú Mòi này, là nguồn nước tưới tiêu lớn nhất của Đồng Lộc, đảm bảo cho hai trăm
    năm mươi mẫu lúa chiêm...
    Nhưng giờ đây, trước mặt Tần chỉ còn là một đất đỏ mênh mông. Cả xả bị bom phá sạch, đốt sạch.
    Không còn một nóc nhà. Không còn một mảnh tường nguyên vẹn. Không còn một bóng cây xòe tán lá.
    Hàng vạn cây non mới trồng trên các đồi trọc và đường trục bị bom quét sạch. Hàng nghìn mồ mả từ
    bao đời nay yên nghỉ cũng bị bom Mỹ đào xới tung lên. Hố bom chi chít, chằng chịt trên khắp các
    sườn đồi, trên khắp các cánh đồng. Vài hố bom tròn xoay, còn phần lớn là những hố bom dài, méo mó
    không ra hình thù gì cả. Dòng mương to chảy thẳng tắp dưới chân Rú Mòi bị bom chặt ra từng khúc,
    hất tung đi.
    Đoạn đường Mười Lăm từ Cầu Bạng qua cầu Đôi, cầu Máng, cầu Tùng Cóc, rồi qua ngã ba Khiêm
    Ích, qua cầu Tối về đến Ngã Ba Đồng Lộc bị bom Mỹ đánh nát bét. Mỏm đồi ngay Ngã Ba Đồng Lộc
    bị bom đào xới không biết bao nhiêu lần thấp tẹt hẳn xuống. Đoạn đường từ Ngã Ba Đồng Lộc chạy
    thẳng vào xóm Trường Thành gần như đã biến mất, chỉ còn một vệ lối đi ngoằn ngoèo nhỏ như bờ
    ruộng.
    Cỏ cây còn sống sót đều phủ đầy bụi đất đỏ.
    Tần nhìn đâu cũng chỉ thấy một màu đất mới. Thỉnh thoảng cơn gió Lào bay thốc qua, bụi đất đỏ lại
    lồng lên trong không gian, sặc mùi khói bom khét lẹt. Lần đầu tiên trong đời, Tần nhìn thấy con gió

    Lào cuộn xoáy tròn bay như lửa bóc trên đỉnh núi.
    Còn đâu nữa mấy chục kho thóc, mấy chục kho phân và những sân gạch lớn? Biến đâu rồi những trại
    chăn nuôi trâu bò đàn, những mẫu chè xanh và những vườn ươm hàng vạn cây non? Bay đi đâu hàng
    loạt máy xay, máy xát, máy tuốt lúa, máy bơm nước, trường học các cấp, nhà trẻ, trạm xá và những
    phòng đọc sách của nhân dân Đồng Lộc? Bom Mỹ đã xóa tất cả.
    Tất cả đã biến thành tro bụi, thành những kỷ niệm xé lòng, và những nỗi căm thù nhức nhối trong
    tim...
    Nhìn cảnh Đồng Lộc, Tần không ngăn nổi dòng nước mắt bỗng trào lên khóe măt. Tần nghiến răng
    lại. Hai giọt nước mắt nóng hổi từ từ lăn trên gò má hơi cao. Cặp lông mày thẳng, to và khỏe nhíu lại.
    Đôi mắt Tần nhìn mãi ra xa, như chẳng nhìn vào đâu, nhưng lại thấy tất cả...
    Quê Tần ở xã Thiên Lộc - trước gọi là làng Phù Minh, gần dãy núi Hồng Lĩnh, gần đường số Một.
    Khi máy bay Mỹ ném bom sập cầu Hạ Vàng - gần bến đò Thượng Trụ - tỉnh đã mở con đường vòng
    men theo chân Hồng Lĩnh. Con đường ấy, phải đi qua quê Tần ra đường số Một, chạy về Nam...
    Nhân dân xã Thiên Lộc dời làng ra giữa đồng để làng cũ làm nơi trú ẩn cho những đoàn xe ra trận.
    Bố mẹ Tần và hai em trai Tần cũng bỏ nhà, ra giữa cánh đồng sơ tán. Hàng cây tro trước cửa nhà
    nghiêng bóng trên hàng dậu ruối. Cái giếng nước thành xếp đá vòng có từ ngày xưa - đã là nơi Tần
    thường soi bóng. Cây cam, cây muỗm mới trồng ở góc vườn, không ai chăm sóc. Tất cả đều quạnh
    quẽ... Đột nhiên Tần thấy nao nao trong lòng một nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người yêu đang ở chiến
    trường xa...
    Tần nhìn suốt dọc đường Mười Lăm mãi về phương Nam xa tít tắp. Ở trong ấy, có những đoạn
    đường Tần và các bạn đã bám trụ vững vàng trong mấy năm qua: La Khê, Khe Ác, Cầu Cháy, phà Địa
    Lợi... Tần thuộc từng cái ngầm, từng lối tránh... Còn ở đây, Ngã Ba Đồng Lộc, ngay tong chuyện của
    quê mình Tần rât quen, giờ cũng lạ lẫm biết bao. Tiểu đội Tần sẽ được phân công đảm bảo đoạn
    đường nào? Vào, ra phòng tránh ra sao? Những chuyện gì sẽ đến, và phải giải quyết thế nào? Ở nơi kẻ
    thù ném bom khốc liệt như thế này, chuyện mất mát hy sinh nhất định sẽ xảy ra. Trong tiểu đội Tần ai
    sẽ nằm lại đây mãi mãi? Điều đó không thể nào biết trước được. Gương mặt nào trong tiểu đội 4 của
    Tần cũng đều có một dáng vẻ thân thương riêng. Tần thầm mong không bao giờ xảy ra điều đó với bất
    cứ một ai...
    Tần nhìn đăm đăm xuống đoạn đường ven chân núi Mũi Mác. Ở đó các bạn Tần đang làm việc trên
    mặt đường nóng bỏng. Hai chiếc xe ủi C100 của tổ anh Uông Xuân Lý cần mẫn gạt đất sườn đồi xuống
    hố bom trên mặt đường.
    Tần chợt để ý mấy anh công binh trong tổ Vương Đình Nhỏ đang lúi húi chuẩn bị phá bom từ trường

    ở gần cầu Tối[1]. Một anh vụt đứng thẳng lên, quay tròn lá cờ đỏ mấy vòng. Những tiếng còi lanh lảnh
    rúc lên. Mọi người nhanh chóng xuống hầm. Chỉ một loáng, không còn bóng ai trên mặt đất. Tần nhảy
    xuống công sự tròn theo phản xạ, nhưng vẫn nhìn về phía anh cầm cờ đỏ.
    Đột nhiên, anh vẫy lá cờ rất mạnh rồi nằm ngay xuống. Cột khói và bụi đất đỏ tung lên cao ngất.
    Tiếng nổ rền rĩ bay ra theo đám khói ấy. Có tiếng gió rít chói tai, vút qua đỉnh Rú Mòi. Mấy cánh hoa
    mua bay bay, xáo động. Những hòn đất to đang rơi xuống mỗi lúc một nhanh. Tần lo lắng, nhìn tảng đất
    cứ muốn chụp xuống chỗ anh công binh nằm. Cô nắm chặt bó hoa mua, căng mắt nhìn anh. Tần muốn
    hét lên, báo cho anh biết.
    Nhưng nhanh như cắt, anh công binh đã lăn mấy vòng tránh thoát. Tần thờ phào như chính mình vừa
    thoát nạn. Cô lại học thêm được một kinh nghiệm tránh mảnh bom và đất rơi ở những nơi chưa có hầm.
    Dưới đường Mười Lăm, tiếng máy ủi C100 lại vang lên đều đều. Cả lùm cây lá khố - lẫn trong màu
    đất đỏ - lại tiếp tục di động, cần mẫn san đất.
    Những tốp thanh niên xung phong làm đường lại có mặt ở chỗ cũ nhanh như vừa hiện lên, sau một
    tiếng còi.
    Với kinh nghiệm chiến đấu hơn ba năm qua, Tần phát hiện ngay ra một đoạn đường sơ hở. Đoạn
    đường này ở ngay chân dãy Mũi Mác, từ đó qua cái cống nhỏ, mới tới cầu Truông Kén, đi ra Ngã Ba
    Đồng Lộc mới. Hiện nay đoạn đường này chưa bị đánh phá nhiều vì nó nằm kẹp giữa hai dải Mũi Mác
    và Rú Mòi. Bay tạt ngang hoặc chếch qua ném bom thường ít trúng. Nhưng rồi thằng địch sẽ khôn ra.
    Chúng sẽ bay dọc để ném bom. Mình phải chủ động trước. Ở đây chưa có hầm hố. Lỡ ra khi cần điều
    quân đến đây, nó đánh thì sao? Tần nhìn đoạn đường ven chân núi Mũi Mác khá lâu rồi mới cầm bó
    hoa mua ra khỏi đài quan sát.
    Khoảng trời phía tây sau dãy Mũi Mác đỏ rực ráng chiều như đám cháy dữ dội. Ngôi sao Hôm rực
    rỡ, trong vắt, đột ngột hiện ra trên bầu trời cao thẳm.
    Tần xuống đến chân Rú Mòi, trời chạng vạng, sắp tối.
    - Đoành. Đoành. Đoành.
    Ba tiếng súng trường nổ rất đanh, báo hiệu đường đã thông. Tần đi nhanh về phía đường Mười Lăm
    đón xe ra. Thường thường xe phải làm nhiệm vụ dọn đường. Sau mấy chuyến xe dọn đường an toàn, xe
    chở hàng mới tấp nập kéo nhau qua Đồng Lộc, về Nam.
    Tần đón kịp chuyến xe ra đầu tiên. Thấy Tần vẫy, anh lái Din ba cầu dừng ngay xe lại:
    - O đi mô? Mang hoa đi đám cưới à? Nghe tiếng người khu Ba tập nói giọng Hà Tĩnh, Tần mỉm
    cười:

    - Đúng đó. Cho em đi cùng đến cống Mười Chín.
    - Ở mô? - Ở Phú Lộc.
    - Nhưng đây là chuyến dọn đường. O nên chờ xe sau...
    - Nỏ can chi mô. Em cùng đi dọn cho vui.
    - Thôi được. Lên đây. To gan gớm.
    Tần leo lên xe. Chiếc Din ba cầu không còn cửa. Kính vỡ. Ghế ngồi không có nệm. Anh lái xe nhìn
    Tần:
    - O ngồi tàm, sau này hòa bình sẽ có Von ga đưa o về Hà Nội thăm "Đất thành" để bù lại chuyến đi
    này.
    - Đến xe đạp em còn chưa biết đi nữa là ... đi Von ga! - Thật không? - Dạ. Thật.
    Hai tiếng cười trong trẻo vang lên. Xe chuyển bánh.
    Xe xóc ghê gớm. Tần cố bám chắc lấy ghế ngồi. Im lặng. Trước mặt hai người là con đường đầy
    thương tích vừa "băng" tạm. Một quả bom từ trường nham hiểm nào đó - lọt qua được mắt công binh đang chờ nổ bên đường? Không thể biết chắc được. Dù sao cũng vẫn phải có một chiếc đi mở đường,
    sẵn sàng hy sinh để đồng đội được bình yên. Tần nhìn anh lái xe Din ba cầu. Anh đang chăm chú nhìn
    về phía trước. Đôi mắt sáng và đẹp. Gương mặt thông minh, cương nghị. Tần yên tâm.
    Hà Nội. Thủ đô. "Đất thánh"... với Tần sao nghe xa lắm... Biết bao giờ Tần có thể ra thăm Hà Nội
    được? Kể cũng hay: Trong cuộc chiến tranh này, thanh niên của mọi miền quê đều sát cánh bên nhau
    trên một tuyến đường.
    Ai cũng để lại đằng sau họ hàng đồng đúc, gia đình thân thương, tập thể bạn bè bộn bề kỷ niệm. Một
    người đi, bao nhiêu người thương nhớ, đợi chờ. Còn người đi, phải nhớ đến tất cả, phải chịu trách
    nhiệm với tất cả, phải chịu trách nhiệm với tất cả những người thân ở lại đằng sau...
    Trong cuộc chiến tranh ác liệt này, chúng ta hiểu nhau hơn và thương nhau hơn. Chúng ta không có
    nhiều thời gian để săn sóc nhau, biểu lộ tình cảm với nhau, còn lấy đâu ra một chút thời gian để xoi
    móc hoặc giận hờn nhau nữa? Kẻ thù nham hiểm đang rình chụp những cái chết bất ngờ lên đầu mọi
    người. Phải sống với nhau như thế nào đây, để đến khi tôi hay là anh ngã xuống, chúng ta có thể khóc
    thương nhau một cách chân thành...
    Anh lái xe chợt nhìn thấy đôi mắt Tần tư lự, trang nghiêm. Anh cười:
    - Chắc o đang chờ một tiếng bom bất ngờ...
    - Không. Anh hiểu lầm rồi.

    - Vậy thì... tôi xin lỗi o.
    Tần mỉm cười, nói như reo lên:
    - Còn một tốp "ba sẵn sàng" đang đón mình kia kìa.
    - Ờ nhỉ.
    Xe đến gần một tiểu đội thanh niên xung phong và công binh đang đứng đợi. Một anh công binh giơ
    tay ra hiệu cho xe dừng lại. Anh nói:
    - Hình như còn một quả... trong khu vực trước mặt. Chúng mình đã rà khắp rồi mà không thấy. Dù
    sao cũng phải phòng xa.
    Anh lái xe cười:
    - Cám ơn các đồng chí. Như vậy là an toàn rồi.
    Có tiếng một o thanh niên xung phong nào đó nói trong tiếng cười:
    - Đẹp đôi quá, hầy! Mọi người cười vang.
    Tần cũng cười.
    Anh lái xe vừa cho xe đi, vừa nói:
    - Đường tốt lắm. Cám ơn các đồng chí.
    - Đi an toàn nhé.
    Những bàn tay vẫy chào nhau. Tần giơ bó hoa mua vẫy lại. Chiếc xe từ từ đi vào đoạn đường chưa
    có xe nào đi qua. Im lặng. Những người bạn vừa chia tay vẫn hồi hộp đứng nhìn theo...
    Xe bỗng xóc nẩy người lên. Tần ngã chúi vào bên tay anh. Cả hai cùng cười. Tần ngồi lại vào chỗ
    cũ.
    - Anh cứ khen đường tốt mãi đi! Anh lái xe hóm hình:
    - Đây không phải là đường nhựa... Xóc thế mình mới tỉnh ngủ được. Đã mấy đêm thức trắng rồi.
    Mình chỉ lo ngủ gật, lạng xuống hố bom thì ướt ráo! - Đã ướt lại còn ráo! Ra khỏi Đồng Lộc, anh tha
    hồ ngủ bù.
    - Tha hồ chở bù thì có. Mình đang vây hãm chúng nó ở Khe Sanh. Không chở nhanh đạn với gạo
    vào, thì lính ta đánh đấm thế nào? Tần dè dặt:
    - Em nghe nói: Khe Sanh sẽ là Điện Biên Phủ thứ hai. Có phải thế không anh? - Chưa biết chừng.
    Nhưng thằng Mỹ nó cũng ranh lắm. Chúng đang tìm cách tháo chạy.
    - Hội nghị ở Pa-ri đã họp phiên thứ chín rồi. Hồi ta đánh Điện Biên Phủ, cũng lôi được thằng Pháp

    vào bàn ở Giơnevơ. Lịch sử như cố tình lặp lại.
    Có phải thế không anh? Anh lái xe nhìn Tần:
    - Đồng chí là chính trị viên à? - Vâng. Chính trị viên của một tiểu đội Thanh niên xung phong.
    - Lần đầu tiên tôi nghe nói đến chức danh "chính trị viên tiểu đội" đấy.
    - Ít nhất ai cũng là chính trị viên của chính mình...
    Anh lái xe lại nhìn Tần, rồi im lặng, tiếp tục căn đường cho chuẩn khi đi qua ngã ba Khiêm Ích. Một
    lát sau anh mới nói:
    - Thế là tôi tỉnh ngủ rồi đấy.
    - Em lại bắt đầu buồn ngủ rồi.
    - Đồng chí cứ ngủ đi. Đến cống Mười Chín tôi gọi.
    - Ai lại thế? Trời tối hẳn rồi. Anh bật đèn gầm lên cho dễ đi.
    - Chưa cần thiết. Lát nữa...
    - Sau này hòa bình, nếu anh mang Von ga vào đón khách ra thăm Hà Nội, liệu anh có bật đèn pha đi
    giữa ban ngày, để bù lại những lúc đi đêm như thế này không? Anh lái xe cười. Tần chỉ còn thấy đôi
    hàm răng trắng đều trên gương mặt anh đã nhòa vào bóng tối...
    Anh lái xe thấy Tần im lặng, tưởng Tần muốn ngủ... Anh giảm bớt tốc độ cho đỡ xóc. Tần nói ngay:
    - Anh cứ cho xe chạy như cũ. Càng nhanh càng tốt.
    - Phải. Mình đang giành giật với nó từng phút, từng giờ.
    Tần cười:
    - Anh là chính trị viên rồi đó.
    - Nhưng chỉ là chính trị viện của một mình tôi.
    - Sao lại một mình. Anh được mấy cháu rồi? - Tôi sẽ có vào khoảng hai hoặc ba gì đó.
    - Sao lại sẽ có?...
    - Vì đến bây giờ, tôi vẫn chưa biết mẹ các cháu là ai.
    Tần im lặng. Tần tin là anh ấy nói thật. Nhưng Tần không muốn đi sâu vào chuyện đó. Nó cứ làm
    sao ấy. Mấy anh người khu Ba nói chuyện có duyên quá. Nhưng mà... thôi.
    Nhìn cảnh vật bên đường tan hoang, trơ trụi, mênh mang trong bóng đêm mờ ảo, dầy đặc bụi, Tần
    chỉ thấy buồn, nhưng không sợ chút nào.

    Tần nghĩ đến tập thể chị em do mình phụ trách: phần lớn đều mới vào thanh niên xung phong đợt đầu
    tháng mười một năm ngoái. Đến nay, cuối tháng sáu năm một nghìn chín trăm sáu tám, chị em mới ở
    với nhau chưa đầy tám tháng.
    Ban đầu chỉ có Võ Thị Tần và Hồ Thị Cúc, hai đội viên cũ đã hết hạn ba năm nghĩa vụ, nhưng ở lại
    đơn vị theo yêu cầu của chi bộ Đảng, để phụ trách một số chị em mới ở Đức Thọ vào. Gần đây, đại
    đội bổ sung thêm nguyễn Thị Xuân quê ở Vĩnh Lộc và Võ Thị Hợi cùng quê Thiên Lộc với Tần.
    Cả hai đều làm tròn nghĩa vụ ba năm, sắp chuyển ngành. Chỉ có bốn chị em cũ, còn lại là mười hai
    đội viên mới. Mỗi người một tính một nết. Nhưng Tần và Cúc khéo tổ chức chị em thành một tập thể
    đoàn kết, thương yêu nhau, nên đã hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ của Đại đội giao cho. A4 luôn cho luôn
    là một tập thể tiên tiến ở C2, được cả đại đội thừa nhận vị trí đầu đàn một cách dễ dàng. Nhưng liệu
    rồi đây - tại Ngã Ba Đồng Lộc này - chị em có còn vững vàng để vượt qua mọi khó khăn, làm trọn
    nhiệm vụ được không? Tần rất tin ở chị em mình. Nhưng dù sao Tần cũng vẫn lo lo... Giá như được
    gặp Cúc ngay bây giờ, để bàn bạc với nhau, có phải hay biết bao nhiêu? Xe đã tới cầu Bạng.
    Địch đánh phá cầu này và các đường xe, đường ngầm rất dữ. Tần khẽ nhắc anh lái:
    - Tới cầu Bạng rồi. Qua đây mới gọi là qua bước hiểm nghèo.
    Anh lái xe gật đầu:
    - Tôi đã hút chết ở cái "cửa tử" này hai lần rồi.
    Có tiếng còi xe bên kia ngầm giục giã. Anh lái xe bảo Tần:
    - Các tướng ấy xin đường sang trước. Đành phải nhường đường cho xe mang đạn vào thôi.
    Tần im lặng. Anh lái xe nép sát vào bên đường. Anh bảo Tần:
    - Đồng chí có thể đi bộ qua ngầm, sang bên kia trước đi. Ở lại đây nguy hiểm lắm.
    Tần im lặng, nhìn anh. Anh có vẻ khẩn khoản:
    - O nên sang trước đi. Lỡ đoàn xe vào đông, tôi phải chờ lâu. Ở lại đây nguy hiểm lắm. Cứ đi trước
    đi. Khi nào xe qua, tôi sẽ đón o lên dọc đường.
    Tần lắc đầu, kiên quyết:
    - Không. Em không thể đi như thế được.
    - Tôi nói o đừng giận... Sao lại "đàn bà" như thế? - Thế... Em là đàn ông à? Một chiếc xe phủ bạt
    kín mít, nặng nề đi qua... Anh lái xe cười:
    - Nhưng mà... lỡ ra... không cần thiết.
    - Ở vào địa vị em, anh có đành tâm thoát thân lấy một mình không? Một chiếc xe phủ bạt nữa đi

    qua...
    Anh lái xe hơi lúng túng:
    - Thôi được. Chờ một lát xem sao. Hình như nhiều xe vào lắm. Chúng mình xuống xe một lúc cho
    thoải mái.
    Tần cài bó hoa mua lên cửa kính vỡ, rồi nhảy xuống đường. Bụi ngập bàn chân. Tần hỏi:
    - Xe mình chở gì mà loảng xoảng, long coong suốt thế anh? - Toàn vỏ đạn đại bác. Đủ loại.
    Một chiếc xe phủ bạt nữa lại đi qua... Những chiếc xe đi cách nhau một khoảng an toàn. Tần đếm xe
    qua không biết chán. Những chiếc xe im lặng đi vào hướng Đồng Lộc. Những ngọn đèn gầm mờ nhạt.
    Những anh lái xe kiên cường quên giấc ngủ đem nay lần lượt cho xe qua trước mặt Tần.
    Bốn mươi hai, bốn mươi sáu... năm mươi...
    Đột nhiên, bầu trời bỗng vụt sáng như ban ngày, rồi tối sầm lại.
    Tiếng bom nổ rất gần. Những vệt đạn pháo cao xạ của Trung đoàn 210 đỏ lừ vút lên cùng một lúc.
    Tần đã nép mình sát mặt đường. Anh lái xe nhích lại gần chỗ Tần:
    - Nó bom vào ngầm giả đấy. Cứ yên trí.
    Bom lại nổ liên hồi. Những quầng lửa nhoàng lên trong nháy mắt, rồi vụt tắt. Bụi mù mịt. Đất đá rơi
    rào rào xung quanh Tần. Tiếng máy bay gào thét. Đất rùng mình liên tục. Không gian sặc sụa mùi khói
    bom tanh nồng, đắng khét.
    Tần bỗng thấy có ảnh lửa chập chờn rất gần, vội ngẩng nhìn lên. Chiếc xe sau cùng vừa đi qua đang
    bốc cháy.
    Tần đứng phắt dậy định chạy đến bên chiếc xe có những kiện hàng đang bốc lửa. Tiếng bom rít
    trong không gian. Anh lái xe vội kéo Tần nằm xuống.
    Mấy quầng lửa sáng chói như chớp giật nhoàng lên, rồi lại vụt tắt.
    Anh lái xe đứng thẳng dậy, nói rất nhanh với Tần:
    - Đồng chí cố dập lửa, để tôi hút bọn chúng nó theo tôi, kẻo chúng đánh hơi thấy cả đoàn xe.
    Tần gật đầu, lao đến chỗ xe cháy. Trong lúc đó, anh lái xe nổ máy chiếc Din ba cầu, bật đèn pha
    sáng quắc lao qua ngầm vọt sang bờ bên kia...
    Ở chỗ xe cháy, anh bộ đội lái xe đang dùng bình hóa chất xì hơi vào đám cháy. Trong ánh lửa, Tần
    thấy anh cao lớn lạ thường. Trán anh loang máu đỏ. Những giọt máu chảy tràn qua gò má đen xạm. Đôi
    mắt anh như bốc lửa.
    Thấy Tần đến giúp sức anh nói to như át tiếng máy bay đang gầm rú trên đầu:

    - Nhanh lên! Ở dưới là đạn.
    Tần thấy rát mặt, định nắm lấy một góc bạt đang cháy rần rật, nhưng xe cao quá. Tần bíu lấy thành
    xe đu lên. Tấm bạt phủ xe đây rồi. Dây buộc chắc quá. Tần cúi xuống ghé răng gỡ nút dây... Hai người
    nữa ở phía những chiếc xe đi thoát chạy vụt đến. Một anh cởi ngay áo ngoài ra nhảy phốc lên xe, dùng
    áo gật lửa. Lửa reo lên. Những kiện hàng xếp bên trên đang bốc cháy... Tần thoáng nhìn về phía bên
    kia cầu Bạng tháy hai vệt đèn pha của chiếc DIn ba cầu đang bị kẹp giữa những quầng lửa bom uy
    hiếp. Tiếng máy bay xa dần về phía ấy...
    Cơn gió Lào quái ác ở đâu bỗng xộc tới, quạt mạnh vào đám cháy trên xe.
    Khói. Lửa. Tần cảm thấy mùi khét của tóc mình bị cháy. Mặc. Gỡ được mối dây buộc góc bạt ra thì
    lửa đã liếm đến gần chỗ Tần đứng. Tần giật mạnh tấm bạt đang cháy cho tuột khỏi thành xe và leo lên
    xe. Những kiện hàng bên trên vẫn đang bốc lửa. Tiếng anh bộ đội hét lên:
    - Hất những hòm thịt hộp đang cháy xuống đất. Mau lên, ở dưới là đạn! Tần làm theo mệnh lệnh
    nhanh như sóc. Một hòm, hai hòm... Nhưng mấy hòm sau dây còn buộc vào nhau, nặng quá. Tần không
    biết làm thế nào, đành cởi phăng chiếc áo ngoài ra quật vào những vệt lửa. Chiếc áo Đông xuân còn
    lại ướt đãm mồ hôi. Tần chỉ nghĩ đến những hòm đạn sắp nổ. Phải cứu lấy đạn. Tần lại vung áo lên,
    vụt xuống những lưỡi lửa. Hai cánh tay trần của Tần bỏng rát. Mặc. Dập lửa đã...
    Đám cháy dịu dần, lụi dần, rồi tắt hẳn. Chỉ còn những tàn than đỏ rực ở những kiện hàng đang cháy
    dở đã bị lăn xuống.
    Tần ngồi bệt xuống một hòm đạn xếp ở gần đầu xe, thở gấp. Chiếc áo trong tay Tần đã bắt lửa, cháy
    mấy chỗ. Tần vội dụi tắt những vệt cháy trên áo mình, rồi lại mặc vào.
    Mùi vải và mùi tóc cháy khét lẹt.
    Tần bàng hoàng khi sờ thấy tóc mai và những món tóc ngoài mũ xoăn tít lại. May mà Tần đã búi tóc
    gọn như mọi ngày, nên còn lại được đuôi tóc.
    Cô nhảy xuống xe.
    Trong lúc ba anh lái xe chia nhau xem xét xung quanh chiếc xe và những kiện hàng đang cháy dở để
    chuẩn bị đi, chợt họ nghe tiếng Tần kêu lạc giọng:
    - Xe anh ấy cháy rồi! Cả bốn người đều nhìn về phía bên kia cầu Bạng. Ở trên đường Mười Lăm cách đấy chừng vài ki-lô-mét, có một chiếc ôtô đang bốc cháy dữ dội. Anh bộ đội bị thương buông
    một tiếng thở dài:
    - Đúng là cậu Din ba cầu vừa đậu ở đây. Thấy cậu ấy bật pha lao qua ngầm là tôi hiểu ngay...
    Anh quay sang, hỏi Tần:

    - Các đồng chí ở đơn vị nào? Anh ấy tên chi? - Em đi nhờ xe. Chưa kịp hỏi tên anh...
    - Chúng tôi vội phải đi cho kịp đoàn xe, nên không có thời gian quay trở lại chỗ xe đồng chí Din ba
    cầu bị cháy. Mong đồng chí trên đường về qua đấy, thăm nom giùm... hộ chúng tôi.
    Tần cố nén xúc động:
    -Vâng. Các anh cứ đi, đi cho kịp đoàn...
    -Cảm ơn đồng chí đã chia lửa với anh em tôi. Xin đồng chí cho biết tên và địa chỉ.
    Tần lưỡng lự:
    - Có gì đâu. Đó là nhiệm vụ của chúng em.
    - Mong đồng chí cứ cho chúng tôi được biết địa chỉ.
    - Em là Võ Thị Tần, A4 - C552 - P18 - Hà Tĩnh. Khi nào ra, mời các anh vào chỗ chúng em chơi.
    - Được rồi. Nhất định chúng tôi sẽ vào ghé thăm các đồng chí.
    Chiếc xe cuối cùng không còn phủ bật lại ra đi. Tần thầm gửi theo lời chào ra mặt trận.
    Bên kia cầu Bạng, đám cháy chiếc xe Din ba cầu cũng lụi dần. Tần đứng sững nhìn ánh lửa cuối
    cùng đang chập chờn lay động. Tần bỗng thấy cay cay mắt. Ngọn lửa cũng nhòe đi trong hai dòng nước
    mắt...

    2
    Tần về đến Phú Lộc vào lúc chị em vừa ăn cơm sáng xong, chuẩn bị đi ngủ bù. Hồ Thị Cúc đang
    chêm lại một các cuốc.
    Thấy Tần về, áo cháy xem, mặt còn xám khói, bơ phờ và mệt mỏi, cả tiểu đội sửng sốt, quây lại đón
    Tần:
    - Chị Tần bay ơi! - Chị Tần mô rồi? - Chị Tần ăn cơm chưa? Tần vui vẻ hỏi các bạn:
    - Đêm qua, A mình mần ăn ra răng? Cúc đặt cái cuốc vừa chêm xong vào góc nhà, nói:
    - Làm đất "Biên Hòa" vượt mức năm phẩy bẩy phần trăm. Trong đó có cả suất của Tần nữa.
    - Giỏi quá. Nhưng thôi. Các đồng chí đi ngủ đi. Chiều nay ta sẽ họp A.
    Quay sang phía Cúc, Tần cười:
    - "Ông" có để phần cơm cho mình không? Đói lắm rồi.
    - Cả hai suất chiều qua và sáng nay.
    Hường - chim Sơn ca của đơn vị - bưng về thau nước giếng trong vắt, đặt ngay trước mặt Tần:

    - Nom chị dữ hung. Chị rửa mặt đi, rồi ăn cơm.
    Trong lúc Tần rửa mặt, Cúc chỉ ngồi ngắm Tần. Hường dọn bàn ăn. Thấy chậu nước đen ngòm, Tần
    tủm tỉm cười:
    - Có ai muốn nhuộm áo đen không? Hường định bê thau nước đi, Tần ngăn lại tự mang đi đổ lấy.
    Thừa lúc Tần quay đi, Hường nhìn Cúc, lè lưỡi lắc đầu, rồi lủi mất.
    Cúc vẫn yên lặng, xới cơm ra bát ngồi đợi.
    Một lát sau Tần vào. Gương mặt đã sáng sủa.
    Khi Tần bỏ mũ ra treo lên liếp, lọ vành tóc quanh đầu cháy xém, Cúc giật mình. Thấy Cúc trố mắt
    nhìn, Tần dịu dàng:
    - Nỏ can chi mô, "ông" mệt thì ngủ đi một lát. Tý nữa ta hội ý.
    Cúc nhỏ nhẹ:
    - Tần cố ăn đi. Mình đợi...
    Cúc nhìn Tần ăn ngon lành. Chỉ một loáng xong bữa cơm ngô chan canh bí đỏ. Tần định dọn mâm
    bát, Cúc giành lấy mang ra cầu ao. Rửa bát xong, Cúc vào nhà, thấy Tần ngồi ngủ gục đầu ngay trên
    bàn, một tay vẫn cầm hờ chiếc chén uống nước.
    Cúc nhẹ nhàng lấy chiếc quạt lá tro, ngồi cạnh Tần, se sẽ quạt. Cúc vừa quạt, vừa lắng nghe động
    tĩnh trên trời. Chỉ có tiếng bom, tiếng máy bay xa mãi phía Đồng Lộc. Những tiếng bom rền rĩ không
    ngớt.
    Cúc nhìn Tần ngủ hồn nhiên, thanh thản mà thèm...
    Cuộc đời Tần đơn giản, hạnh phúc hơn Cúc nhiều. Bố mẹ Tần rất cưng con gái lớn. Bác Cung - cha
    Tần - bao giờ cũng coi Tần như còn nhỏ. Mẹ Tần càng yêu con gái hơn ai hết. Mẹ không muốn con đi
    lấy chồng xa. Mẹ đã nhận lời gả Tần cho một anh trai làng mà Tần yêu. Anh đã đi bộ đội, vào chiến
    trường miền Nam. Còn Tần ngay sau đó đi Thanh niên xung phong. Tần hay cởi mở tâm sự với chị em,
    tính nết thẳng thắn, vô tư, yêu đời nên bạn bè đều quý... Còn về phần Cúc, cùng tuổi với Tần, sao cuộc
    đời nhiều đắng cay chua xót thế? Cúc cất tiếng khóc chào đời ngày mồng sáu tháng chín âm lịch năm
    một nghìn chín trăm bốn mươi tư trên mảnh đất Nương Bao, xã Sơn Bằng, bên sông Ngàn Phố, Hương
    Sơn.
    Mới được tám tháng tuổi, nạn đói khủng khiếp năm một nghìn chín trăm bốn mươi lăm đã cướp mất
    bà nội Cúc, cha Cúc và nhiều người khác trong làng.
    Bao nhiêu người chết đói vào lúc chỉ còn mười lăm ngày nữa là gặt được lúa chiêm.

    Ông nội Cúc đưa hai mẹ con Cúc về nhà nuôi, rau cháo lần hồi đợi ngày lúa chín... Đến năm Cúc
    lên ba tuổi, mẹ đi bước nữa.
    Từ đấy, Cúc sống trong sự đùm bọc của ông nội và o Loan. Chẳng được bao lâu, đến tháng chạp
    năm sau ông nội Cúc qua đời. Một mình o Loan nuôi cháu, cho đến năm sau chú Hồ Văn Dũng đi bộ
    đội về cưới vợ. Từ đấy, Cúc ở với chú, mợ và o.
    Bà Trinh - mẹ Cúc - lấy chồng ở Sơn Bằng có thêm bốn người con, thỉnh thoảng vẫn về thăm nhưng
    chẳng có gì để gửi nuôi Cúc. Thời gian này Cúc còi cọc, mặt choắt lại, đôi mắt luôn luôn nhìn xuống,
    lâu dần, thành thói quen. Tóc Cúc vàng hoe, cộc cỡn như một túm lông đuôi bò. Quanh năm cô chỉ có
    chiếc quần lửng với tấm áo vá.
    Cúc đi chăn bò, cắt cỏ, bế em, kiếm củi và làm bao nhiêu việc không tên khác ở trong nhà. Cúc làm
    chậm, nhưng cần cù, cẩn thận và thật thà, nên thường được gọi là "Cúc mục".
    Hồi Cúc lên tám, một hôm, đun nồi cám lợn xong, Cúc lúi húi quét dọn bếp. Mợ vào bưng nồi ra,
    chẳng may trượt chân đánh đổ cả nồi cám vừa sôi lên lưng cô. Cúc bị bỏng nặng, suốt ngày nằm sấp
    trên chiếc chõng con, lúc tỉnh, lúc mê...
    O Loan hồi ấy còn ở nhà, thương xót cháu, ba tháng liền chữa cho cháu bằng bài thuốc chữa bỏng
    dân gian. Cuối cùng, Cúc đã khỏi. Nhưng vết sẹo bỏng sần sùi rất lớn, suốt từ bả vai xuống đến thắt
    lưng Cúc, không bao giờ xóa được, chuyện này Cúc giấu mọi người kể cả Tần.
    Mỗi lần đi tắm Cúc chỉ đứng trông chừng máy bay cho các bạn. Cúc tắm riêng, về sau rốt. Ai cũng
    bảo Cúc lề mề. Cúc chỉ cười. Một nỗi buồn thoáng qua trên đôi mắt vẫn còn thói quen hay nhìn xuống
    của cô...
    Ngồi quạt cho Tần đang ngủ gục trên bàn, Cúc âu yếm nhìn tấm lưng thon khỏe mạnh, phẳng phiu ẩn
    sau tấm áo thanh niên xung phong bạc màu, xém lửa. Thốt nhiên Cúc đặt nhẹ bàn tay lên lưng Tần khẽ
    vuốt ve trìu mến...
    Tần chợt tỉnh dậy, "bắt được quả tang" Cúc đang âu yếm mình. Tần ôm choàng lấy Cúc:
    - Mình ngủ lâu chưa? Sao không gọi mình dậy? Cúc đỏ mặt, gỡ tay Tần ra, nói lảng:
    - Đêm qua không thấy Tần về. Mình lo quá. Chỉ sợ bị ở cầu Bạng hay ở đâu thì khổ... Chị em không
    biết đâu mà tìm...
    - Sao "ông" biết mình suýt bị ở cầu Bạng? - Mình đoán thế. Đêm qua thấy nó đánh ở phía ấy, rồi lại
    thấy cả ánh...
     
    Gửi ý kiến

    Đọc sách cho tâm trí cũng cần như thể dục cho cơ thể

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS TÂN VIỆT - BÌNH GIANG - HẢI DƯƠNG !